intTypePromotion=1

Báo cáo nghiên cứu khoa học: " ÐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CÁM GẠO LY TRÍCH DẦU LÀM THỨC ĂN CHO CÁ"

Chia sẻ: Nguyễn Phương Hà Linh Linh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
101
lượt xem
12
download

Báo cáo nghiên cứu khoa học: " ÐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CÁM GẠO LY TRÍCH DẦU LÀM THỨC ĂN CHO CÁ"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'báo cáo nghiên cứu khoa học: " ðánh giá khả năng sử dụng cám gạo ly trích dầu làm thức ăn cho cá"', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo nghiên cứu khoa học: " ÐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CÁM GẠO LY TRÍCH DẦU LÀM THỨC ĂN CHO CÁ"

  1. Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 175-183 Trường Đại học Cần Thơ ÐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CÁM GẠO LY TRÍCH DẦU LÀM TH ỨC ĂN CHO CÁ Trần Thị Thanh Hiền1, Dương Thúy Yên1, Trần Lê Cầm Tú1, Lê Bảo Ngọc1, Hải Ðăng Phương2 và Lee Swee Heng3 ABSTRACT This study was carried out to determine the utilization of defatted rice-bran bran (branded Calofic Cam Vang) for fish feeds. Analytical results indicated that defatted rice-bran contained a protein and lipid level of 16.3% and 2.76%, respectively. The Peroxit value (PV) in defatted rice-bran after 4 months of storage was acceptable for making fish feeds (11.2meq/kg). The Apparent Digestibility Coefficients (ADC) and Apparent Digestibility Coefficients of Gross Energy (ADCGE) of Pangasius hypophthalmus and Tilapia for defatted rice bran were better than for dried rice bran, especially in Tilapia ADC for defatted rice- bran was significantly higher (p
  2. Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 175-183 Trường Đại học Cần Thơ 1 GIỚI THIỆU Tận dụng các nguồn nguyên liệu đ ịa phương sẵn có làm thức ăn cho cá là một nhân tố rất quan trọng trong việc giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh tế. Hiện nay cám gạo được sử dụng rất phổ b iến trong chế b iến thức ăn nuôi thủy sản, nhất là thức ăn tự chế. Cám gạo đang được sử dụng vớ i một số lượng lớn để làm thức ăn nuôi cá Tra, ba sa, tỉ lệ cám gạo sử dụng trong thức ăn chiếm đến 60-70% (Trần Văn Nhì, 2005). Đối vớ i các nhà máy chế biến thức ăn công nghiệp, cám gạo cũng được sử dụng như là một nguồn nguyên liệu chính cung cấp năng lượng trong công thức thức ăn. Một khó khăn gặp phải hiện nay trong sử dụng là hàm lượng chất béo trong cám gạo quá cao, khi phối chế vớ i tỉ lệ lớn trong thức ăn sẽ làm cho hàm hượng chất béo trong thức ăn cao, ảnh hưởng đến chất lượng thức ăn và chất lượng cá nuôi. Đối vớ i các nhà máy chế biến, khi sử dụng tỉ lệ cám gạo cao trong thức ăn sẽ dẫn đến khó khăn trong công nghệ chế biến, chất lượng thức ăn không đạt yêu cầu, thời gian bảo quản ngắn. Ngoài ra, thành phần axít béo trong cáo gạo không đáp ứng đúng và đủ cho nhu cầu phát triển của cá. Do đó, việc nghiên cứu sử dụng cám ly trích dầu làm thức ăn cho cá vớ i mong muốn giả i quyết một phần các khó khăn trong việc sử dụng cám trong thành phần thức ăn cho cá nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành thức ăn. Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá chất lượng cám gạo ly trích dầu và khả năng sử dụng cám gạo ly trích dầu làm thức ăn cá nhằm xây dựng công thức thức ăn phù hợp và hiệu quả cho cá. 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Xác định thành phần hóa học của cám ly trích và cám sấy Thành phần hóa học của cám sấy và cám ly trích bao gồm các chỉ tiêu sau ẩm độ, đạm, chất béo, tro, chất bột đường và chất xơ, hàm lượng Vitamin A, B1, D, β- Carotene, chỉ số peroxide trong cám sấy và cám ly trích được phân tích theo phương pháp AOAC (2000). Các chỉ tiêu này được đánh giá ở cám mới, cám sau 1, 2, 3 và 4 tháng lưu trữ trong đ iều kiện bình thường (trong phòng). Cám sấy là cám sau khi xay sát gạo được nhà máy xay sát sấy khô, cám ly trích là cám gạo đã ly trích để lấy dầu, cám ly trích sử dụng trong thí nghiệm là Calofic Cám Vàng của công ty dầu thực vật Cái Lân (tại Cần Thơ) 2.2 Đánh giá độ tiêu hóa của cám sấy và cám ly trích ở cá Thí nghiệm được thực hiện trên hai đối tượng là cá Tra (Pangasius hypophthalmus) và cá Rô phi (Oreochromis niloticus). Thức ăn thí nghiệm bao gồm thức ăn đối chứng (không có cám sấy và cám ly trích) chứa 1% chất đánh dấu (Cr2O3) và 2 loạ i thức ăn cần xác định độ tiêu hóa nguyên chứa 30% nguyên liệu (cám sấy hoặc cám ly trích) và 70% thức ăn đối chứng. Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí vớ i 3 nghiệm thức thức ăn (Bảng 1), mỗi nghiệm thức được lặp lạ i 3 lần. Đố i vớ i cá Tra, thí nghiệm được bố trí trên hệ thống bể có hệ thống thu phân theo phương pháp lắng, mật độ các bố trí là 20 con/bể (khối lượng 100g/con). Đối vớ i cá Rô phi, thí nghiệm bố trí trong hệ thống 9 bể tuần hoàn, mật độ cá bố trí thí nghiệm là 10 con/bể (50g/con) phân được thu bằng cách si phon. Cá thí nghiệm được cho ăn thức ăn thí nghiệm trong vòng 7 176
  3. Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 175-183 Trường Đại học Cần Thơ ngày, mỗi ngày cho ăn một lần. Ðến ngày thứ 8 tiến hành thu phân. Sau khi cho cá ăn 1 giờ, thay toàn bộ nước trong bể để loại bỏ thức ăn thừa và tiến hành thu phân cho đến trước lần cho ăn ngày tiếp theo. Tiến hành thu phân trong 3 ngày. Phân sau khi thu sẽ được rửa qua nước cất ly tâm và và trữ đông đến khi phân tích. Thức ăn thí nghiệm, phân được đem đi phân tích Cr2O3, protein và năng lượng (AOAC, 2000) để xác định độ tiêu hóa của nguyên liệu Bảng 1: Thành phần nguyên liệu (%) của thức ăn thí nghiệm Nguyên liệu Thức ăn đối chứng Cám ly trích (LT) Cám sấy (CS) Bột cá 26 18,2 18,2 Bột đậu nành 20 14 14 Cám sấy hoặc cám ly trích (*) - 30 30 Bột mì 43,5 30,45 30,45 Premix Vitamin 1 0,7 0,7 Dầu (1 dầu mực: 1 dầu nành) 6,5 4,55 4,55 Cr2O3 1 0,7 0,7 Chất kết dính 2 1,4 1,4 Hàm lượng protein (%) 30,2 26,4 24,6 Cám ly trích: “Calofic Cám Vàng ”của công ty dầu thực vật Cái Lân (tại Cần Thơ) Các chỉ số tính toán độ tiêu hóa: Độ tiêu hóa của nguyên liệu (ADCnguyên liệu ): ADCnguyên liệu (%) = (ADT –0,7AD)/0,3 Trong đó: ADT: Độ tiêu hóa thức ăn nguyên liệu AD: Độ tiêu hóa của thức ăn đối chứng Độ tiêu hóa protein (ADCCP) và năng lượng (ADCGE) của nguyên liệu: ADC CP (%) = (ADTCP –0,7ADCP)/0.3 ADC GE (%) = (ADTGE –0,7ADGE )/0.3 Trong đó: ADTCP,, ADT GE : Độ tiêu hóa protein, độ tiêu hóa năng lượng của thức ăn nguyên liệu ; ADCP, ADGE: Độ tiêu hóa protein, độ tiêu hóa năng lượng của thức ăn đối chứng. 2.3 Ðánh giá khả năng sử dụng cám ly trích dầu làm thức ăn cho cá Tra (Pangasius hypophthalmus) và cá Rô phi (Oreochromis niloticus) Thí nghiệm được thực hiện vớ i 8 nghiệm thức thức ăn từ hai loạ i cám (cám ly trích và cám sấy), mỗi loạ i cám được phố i chế vớ i 4 mức cám khác nhau 30, 40, 50 và 60% trong công thức thức ăn. Tất cả các nghiệm thức thức ăn có cùng hàm lượng protein (25% CP) và mức năng lượng (4 Kcal/kg thức ăn) (Bảng 2). Thí nghiệm được thực hiện trên 24 bể composite 500L có nước chảy tràn và được gắn ống thu thức ăn dư. Các nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên. Cá tra có khối lượng trung bình 67,14g / con được bố trí vớ i mật độ 30 con/ bể. . Cá được cho ăn 2 lần/ ngày vớ i khẩu phần 3-5% khố i lượng cơ thể. Thờ i gian thí nghiệm 3 tháng. cá Rô phi có khối lượng trung bình 26,4g được bố trí vớ i mật độ 30 con/ bể. 177
  4. Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 175-183 Trường Đại học Cần Thơ Cá được cho ăn 2 lần/ ngày, cho ăn 5-6% khối lượng cơ thể. Thờ i gian thí nghiệm 2 tháng. Trong quá trình thí nghiệm chất lượng nước trong bể thường xuyên được kiểm tra. Thức ăn thừa và phân được si phon 2 lần/ ngày. Lượng thức ăn trong mỗ i bể được điều chỉnh hàng ngày. Bảng 2: Thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm (%) Thành phần Thức ăn cám sấy (%) Thức ăn cám ly trích (%) 30 40 50 60 30 40 50 60 Bột cá 23,6 23,4 23,4 23,2 22,0 21,0 19,9 18,9 Bột đậu nành 7,87 7,81 7,78 7,73 7,33 6,99 6,65 6,30 Cám 30 40 50 60 30 40 50 60 Bột mì 30,1 20,3 9,9 0 30,9 23,5 16,13 8,74 Dầu (1 dầu mực: 1 0,24 0 0 0 3,11 3,04 2,98 2,91 dầu nành) Vitamin 2 2 2 2 2 2 2 2 Gelatin 2 2 2 2 2 2 2 1,13 Chất độn 4,24 4,47 4,97 5,07 4,64 1,47 0,3 0 Thành phần hóa học của thức ăn theo tính toán Protein 25 25 25 25 25 25 25 25 Lipid 6 6,76 7,76 8,76 6 6 6 6 NFE 48,1 46,4 44,2 42,3 48,1 48,1 48,1 48,1 Năng lượng thô 4 4 4 4 4 4 4 4 (Kcal/g) 2.4 Số liệu thu thập và tính toán Khối lượng cá ban đầu (Wi) được xác định khi bố trí thí nghiệm. Tăng trưởng của cá được xác định bằng cách cân toàn bộ số cá trong mỗ i bể. Số liệu thu sẽ được tính toán: tỷ lệ sống (SR), khố i lượng cuố i (Wf), tăng trưởng tuyệt đố i DWG (g/ngày), hệ số thức ăn (FCR).Tất cả số liệu tính toán sẽ được xử lý thống kê trên Excel bằng chương trình Statistica 6.0. 3 KẾT QUẢ VÀ TH ẢO LUẬN 3.1 Thành phần hóa học của cám ly trích và cám sấy Chất lượng của cám sấy và cám ly trích được đánh giá thông qua thành phần hóa học, hàm lượng vitamin và chỉ số peroxide (Bảng 3). Hàm lượng protein trong cám ly trích (16,31%) cao hơn hàm lượng protein trong cám sấy (12,64%). Trong khi đó hàm lượng lipid thì ngược lạ i, hàm lượng lipid trong cám sấy khá cao (12,02%), cám ly trích ch ỉ có 2,67%. Đặc biệt cám ly trích có chỉ số peroxide (5,87 meq/kg chất béo) thấp hơn so vớ i cám sấy (9,81meq/kg chất béo). Chỉ số peroxide càng cao thì chất béo càng dễ dàng và nhanh chóng b ị oxy hóa, chất lượng thức ăn càng giảm. Vitamin A, D và β- Carotene đều không hiện diện ở cả 2 loạ i cám trên. Nguyên nhân là do trong quá trình sơ chế dưới tác dụng của nhiệt độ cao các vitamin và sắc tố đều b ị mất. Kết quả phân tích thành phần hóa học của cám ly trích cho thấy có nhiều ưu điểm hơn so vớ i cám sấy thông thường, đặc biệt hàm lượng protein cao, hàm lượng lipid thấp sẽ tạo điều kiện thuận lợ i cho việc phố i chế thức ăn. 178
  5. Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 175-183 Trường Đại học Cần Thơ Bảng 3: Thành phần hóa học của cám ly trích và cám sấy Ch ỉ tiêu Cám sấy (CS) Cám ly trích (LT) Đạm thô 12,64 16,31 Chất béo thô 12,02% 2,76% Xơ thô 2,42 6,74 Khoáng 7,35 % 10,38 % Vitamin A Không phát hiện Không phát hiện β- Carotene Không phát hiện Không phát hiện Vitamin D Không phát hiện Không phát hiện Vitamin B1 2,575 mg/100 g 3,51 mg/100 g Chỉ số Peroxide 9,81meq/kg chất béo 5,87 meq/kg chất béo Thời gian lưu trữ ảnh hưởng lên chất lượng của cám thể hiện qua sự biến đổi thành phần hóa học và ch ỉ số peroxide trong cám sau một thờ i gian lưu trữ ở đ iều kiện bình thường. Sau 4 tháng giữ mẫu, hàm lượng khoáng và đạm của 2 loại cám gần như không có sự thay đổi (Bảng 4). Tuy nhiên hàm lượng chất béo trong cám giảm dần theo thời gian trữ mẫu. Đặc biệt, chất béo trong cám sấy có sự thay đổi lớn hơn (từ 12,72 giảm xuống chỉ còn 9,11) so vớ i cám ly trích (2,01-1,77). Sự thay đổi này là do chất béo trong cám đã bị oxy hóa. Bảng 4: Thành phần hóa học của cám sấy và cám ly trích (LT) sau 4 tháng lưu trữ Thời gian K hoáng Đạm thô Chất béo thô lưu trữ LT CS LT CS LT CS 1 tháng 10,7 ± 0,09 7,14 ± 0,01 15,6 ± 0,05 11,9 ± 0,40 2,01 ± 0,00 12,7 ± 0,99 2 tháng 10,7 ± 0,08 8,19 ± 0,87 16,1 ± 0,21 12,4 ± 0,60 1,95 ± 0,04 10,3 ± 2,57 3 tháng 10,7 ± 0,02 7,54 ± 0,10 15,9 ± 0,23 11,6 ± 0,52 1,91 ± 0,05 9,85 ± 0,15 4 tháng 10,5 ± 0,11 7,86 ± 0,01 16,1 ± 0,27 11,6 ± 0,50 1,77 ± 0,14 9,11 ± 0,17 Ch ỉ số Peroxide (PV) của cả hai loạ i cám đều tăng dần theo thờ i gian trữ mẫu, PV của cám ly trích từ 5,87 lên đến 11,1 meq/kg sau 4 tháng lưu trữ. Trong khi đó gía trị này ở cám sấy tăng từ 9,81 đến 45,7 meq/kg. Sau 2 tháng lưu trữ chỉ số PV trong cám sấy đã tăng rất cao (35 meq/kg). Sở dĩ ch ỉ số này tăng nhanh đột ngột là do hàm lượng chất béo trong cám sấy cao (12,75%). Bảng 5: Chỉ số Peroxide (meq/kg) của cám sấy và cám ly trích sau 4 tháng lưu trữ Thời gian lưu trữ Cám ly trích Cám sấy 1 tháng 5,87 9,81 2 tháng 9,90 35,0 3 tháng 12,8 40,9 4 tháng 11,1 45,7 Theo Hiroshi (1987), chất béo có hàm lượng dưới 10 meq/kg được xem là tốt, trên 15 meq/kg là không tốt cho thức ăn thủy sản. Khi chỉ số này tăng lên trên 20 meq/kg thì thức ăn sẽ có mùi hôi dầu. Kết quả phân tích cám ly trích và cám sấy sau thời gian lưu trữ 4 tháng cho thấy cám ly trích có chỉ số PV dưới 15 meq/kg, vì vậy thời gian bảo quản và sử dụng của cám ly trích lâu hơn so vớ i cám sấy thông thường. Sự oxy hóa chất béo trong thức ăn không chỉ làm giảm chất lượng dinh dưỡng của thức ăn như: giảm lượng acid béo cần thiết cho động vật thủy sản, thức ăn có mùi hôi, vị khó ăn, ảnh hưởng đến sự bắt mồi, hiệu quả sử dụng thức ăn, một số dưỡng 179
  6. Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 175-183 Trường Đại học Cần Thơ chất cần thiết b ị phân hủy (Vitamin A, B6, C, D, E và carotenoid). Ngoài ra, quá trình oxy hóa tạo ra các sản phẩm như andehyt, ketons ... là những chất gây độc cho động vật thủy sản (Forster, 1999). Ảnh hưởng của thức ăn b ị oxy đã được nghiên cứu trên nhiều đối tượng thủy sản như cá chép và cá da trơn (NRC, 1993). 3.2 Đánh giá độ tiêu hóa cám sấy và cám ly trích của cá Tra và cá Rô phi Ở cá Tra, khả năng tiêu hóa cám ly trích (49,2%) cao hơn so vớ i cám sấy (42,6%). Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Khả năng tiêu hóa protein và năng lượng giữa hai loại cám là tương đương nhau. Tiêu hóa protein trong khoảng từ 66,7 –67,2%, tiêu hóa năng lượng 63,4-64,5%. Bảng 6: Khả năng tiêu hóa hai loại cám của cá Tra Loạ i Cám ADC (%) ADCCP (%) ADCGE (%) Cám ly trích 49,2 ± 5,2a 67,2 ± 7,1a 63,4 ±3,04 a Cám sấy 42,6 ± 4,7a 66,7 ± 14,5a 64,5 ± 3,56 a Giá trị thể hi ện là số trung bình và độ lệch chuẩn Các giá trị trên cùng một cột có các chữ cái khác nhau thì khác bi ệt có ý nghĩa thống kê (P
  7. Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 175-183 Trường Đại học Cần Thơ protein của cám, cá chép có khả năng tiêu hóa protein của cám khá cao 89,5%, trong khi ở cá trắm cỏ là 71,1% và cá nheo Mỹ là 71% (Hepher, 1988). 3.3 Đánh giá khả năng sử dụng cám ly trích dầu làm thức ăn nuôi cá Tra và cá Rô phi Ðối vớ i cá Tra, tỉ lệ sống của cá tất cả các nghiệm thức sau thời gian thì nghiệm rất cao, 96,7-100%. Ðiều này cho thấy trong qua trình ly trích chất béo từ cám không còn tồn lưu các hóa chất gây ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của cá. Khối lượng cuố i (Wf) và tốc độ tăng trưởng ngày (DWG) của cá ở các nghiệm thức chứa cám ly trích từ 30 đến 60% cao hơn so vớ i cá ở nghiệm thức 30, 40 và 50% cám sấy (Bảng 8). Wf và DWG của cá ở nghiệm thức cám sấy 60% đạt cao nhất. Tuy nhiên, sự khác biệt về tăng trưởng của cá giữa các nghiệm thức là không có ý ngh ĩa thống kê (P > 0,05). Hay nói cách khác, hai loạ i cám vớ i các mức khác nhau (30-60%) trong thức ăn không ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá Tra. Hệ số thức ăn (FCR) thấp nhất ở nghiệm thức cám ly trích 30% (2,67) và cao nhất ở nghiệm thức ly trích 60% (3,99). Ở các nghiệm thức khi hàm lượng cám trong thức ăn tăng thì FCR tăng. Tuy nhiên FCR ở các nghiệm thức không có sự khác biệt (P>0,05). Bảng 8: Khối lượng đầu (Wi), khối lượng cuối (Wf), tốc độ tăng trưởng ngày (DWG), hệ số thức ăn (FCR) và tỷ lệ sống (SR) của cá Tra Nghiệm thức Wi Wf DWG SR FCR (g) (g) (g/day) (%) 2,67 ± 0,15a 66,56 ±2,36a 101±5,3a 0,38±0,05a 97,8±1,9a LT 30 2,87 ± 0,10a 68,44±4,51a 96,3±3,2a 0,31±0,05a 98,9±1,9a LT 40 3,11 ± 0,72a 65,33±4,83a 97,2±6,6a 0,35±0,03a 98,9±1,9a LT 50 100,0a 3,99 ± 0,37a 67,33±4,15a 99,3±3,7a 0,36±0,02a LT 60 100,0a 3,19 ± 0,82a 68,72±5,66a 91,8±14,0a 0,26±0,11a CS 30 100,0a 3,36 ± 0,52a 67,72±7,62a 89,8±10,0a 0,25±0,05a CS 40 3,57 ± 0,37a 66,61±4,00a 92,0±8,6a 0,28±0,07a 98,9±1,9a CS 50 2,78 ± 0,46a 66,41±6,50a 107±19,3a 0,45±0,15a 96,7±5,8a CS 60 Giá trị thể hi ện là số trung bình và độ lệch chuẩn Các giá trị trên cùng một cột có các chữ cái khác nhau thì khác bi ệt có ý nghĩa thống kê (P
  8. Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 175-183 Trường Đại học Cần Thơ ngh ĩa về mặt tăng trưởng của cá mà còn có ý nghĩa về việc hạn chế ô nhiễm môi trường nuôi. Bảng 9: Khối lượng đầu (Wi), khối lượng cuối (Wf), tốc độ tăng trưởng ngày (DWG), hệ số thức ăn (FCR) và tỷ lệ sống (SR) của cá Tra Nghiệm Wi (g) Wf (g) DWG FCR SR (%) thức (g/ngày) 4,05 ± 0,17d 19,42±0,18a 46,05±2,01a 0,44±0,03a 81,7±12,6a LT30 3,33 ± 0,44bc 19,43±0,15a 53,15±5,30b 0,56±0,09b 80,0±5,00a LT40 2,91 ± 0,09ab 19,40±0,17a 56,88±1,97b 0,62±0,03b 90,0±5,00a LT50 2,59 ± 0,26a 19,50±0,23a 65,28±1,80c 0,76±0,03c 88,3±2,89a LT60 3,90 ± 0,42d 19,50 ±0,10a 45,89±3,72a 0,44±0,06a 88,3±7,64a CS30 3,81 ± 0,17cd 19,47±0,03a 45,36±1,91a 0,43±0,03a 85,0±13,2a CS40 3,85 ± 0,28d 19,52±0,18a 46,57±1,68a 0,45±0,03a 91,7±5,77a CS50 3,59 ± 0,11cd 19,42±0,16a 47,87±1,36a 0,47±0,02a 93,3±7,64a CS60 Giá trị thể hi ện là số trung bình và độ lệch chuẩn Các giá trị trên cùng một cột có các chữ cái khác nhau thì khác bi ệt có ý nghĩa thống kê (P
  9. Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 175-183 Trường Đại học Cần Thơ Laining. A, Rachmansyah, Taufik and Williams .K, 2003. Apparent digestibility of selected feed ingredients for humback grouper, Cromileptes altivelis. Aquaculture Volum 218: 1- 4, pp 529 –538. Law. A.T, 1986. Digestibility of low cost ingredients pelleted feed of Grass carp (Ctenopharyngodon idella). Aquaculture Volum 51:2, pp 97-103. NRC (Nation Reseach Council), 1993. Nutrient requirements of fishes. National Academic Press, Washington, USA, 114p. Trần Vă n Nhì, 2005. Đánh giá việc sử dụng các nguồ n nguyên liệu địa phương làm thức ăn nuôi cá Tra (Pangasius hypophthalmus) trong bè ở An Giang. Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ - Ðại học Cần Thơ. Usnami.N, 2003. Nutrition digestibility studies in Heteropneustes fosilis, Clarias bachatus, Clarias gariepinus. Aquaculture Research 34, pp 1247 –1253. Hirosi.H, 1987. Laboratory manual on analytical methods and procedures for fish and fish products. Marine Fisheries research Deparment Southeast Asian Fisheries Develpoment Center. Singapore: 87 pp 183
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2