intTypePromotion=1

Báo cáo nghiên cứu khoa học " Thành phần loài, sản lượng và đặc điểm sinh học một số loài cá nổi lớn đại dương trong các chuyến điều tra khảo sát năm 2008 tại vùng biển xa bờ miền Trung "

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:0

0
77
lượt xem
7
download

Báo cáo nghiên cứu khoa học " Thành phần loài, sản lượng và đặc điểm sinh học một số loài cá nổi lớn đại dương trong các chuyến điều tra khảo sát năm 2008 tại vùng biển xa bờ miền Trung "

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Kết quả 2 chuyến điều tra khảo sát nghề cá và nguồn lợi cá nổi lớn đại dương trên các tàu câu vàng trong năm 2008 tại vùng biển xa bờ miền Trung cho thấy: 1) Thành phần các loài cá nổi lớn đại dương đã bắt gặp trong các mẻ câu tương đối đơn giản, gồm gồm 30

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo nghiên cứu khoa học " Thành phần loài, sản lượng và đặc điểm sinh học một số loài cá nổi lớn đại dương trong các chuyến điều tra khảo sát năm 2008 tại vùng biển xa bờ miền Trung "

  1. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ  25, Số 3S (2009) 381‐389 Thành phần loài, sản lượng và đặc điểm sinh học một số loài cá nổi lớn đại dương trong các chuyến điều tra khảo sát năm 2008 tại vùng biển xa bờ miền Trung Đoàn Bộ1,*, Trần Chu2, Lê Hồng Cầu2, Trần Liêm Khiết2, Phạm Quốc Huy2 1 Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN 334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam 2 Viện Nghiên cứu Hải Sản Nhận ngày 25 tháng 11 năm 2009 Tóm tắt. Kết quả 2 chuyến điều tra khảo sát nghề cá và nguồn lợi cá nổi lớn đại dương trên các tàu câu vàng trong năm 2008 tại vùng biển xa bờ miền Trung cho thấy: 1) Thành phần các loài cá nổi lớn đại dương đã bắt gặp trong các mẻ câu tương đối đơn giản, gồm gồm 30 loài (trong đó có 5 loài thuộc họ cá thu ngừ) thuộc 22 giống, 13 họ. Không thấy có sự khác biệt đáng kể về số lượng loài bắt gặp tại cùng một khu vực và trong 2 mùa gió. 2) Sản lượng và năng suất khai thác trong các chuyến điều tra không cao, trong đó sản lượng họ cá thu ngừ chỉ chiếm từ 23-29% tổng sản lượng với CPUE trung bình dao động trong khoảng 0,7-1,5 kg/100 lưỡi câu. 3) Đã bắt gặp 6 loại thức ăn trong thành phần thức ăn của cá ngừ đại dương, chủ yếu gồm cá và mực. Có khoảng 50% cá thể bắt được có độ no dạ dày bậc 2. Quan hệ giữa chiều dài và trọng lượng của các cá thể khá chặt chẽ và không nằm ngoài quy luật tự nhiên với hệ số tương quan đạt trên 0,9. Từ khóa: Đặc điểm sinh học, Cá nổi lớn đại dương, Vùng biển xa bờ. 1 . M ở đầ u  việc vươn khơi khai thác xa bờ đã và đang được sự khuyến khích đầu tư của Nhà nước và đã trở Cá ngừ đại dương thuộc nhóm cá nổi lớn, là thành các hoạt động phổ biến của ngư dân, nhất đối tượng được quan tâm hàng đầu trong hoạt là ở các tỉnh Bình Định, Phú Yên và Khánh động khai thác hải sản xa bờ ở Việt Nam. Theo Hòa. số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát Hiển nhiên hoạt động khai thác xa bờ ngoài triển Nông thôn [1], hàng năm sản lượng khai những đòi hỏi về trang thiết bị kỹ thuật và lực cá ngừ đại dương ở Việt Nam đạt cỡ 10000 tấn, lượng lao động phù hợp còn rất cần sự đóng tương đương giá trị gần 1000 tỷ đồng. Hiện tại, góp của khoa học nghề cá. Cho đến nay, mặc dù đã có những nghiên cứu nhất định về nghề cá _______ xa bờ và các đối tượng khai thác của nó, song  Tác giả liên hệ. ĐT: 84-4-35586898. để có thể tiến tới xây dựng những dự báo ngư E-mail: bodv@vnu.edu.vn 381
  2. 382 Đoàn Bộ và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự Nhiên và Công nghệ 25, Số 3S (2009) 381‐389 trường phục vụ khai thác hiệu quả thì những Sản) được chuẩn bị đầy đủ để thực hiện các thông tin trong lĩnh vực này vẫn đang là vấn đề công việc chuyên môn trên biển và bảo quản thời sự đòi hỏi phải tiếp tục được bổ sung. mẫu. Với mục đích cung cấp và cập nhật thông Độ no dạ dày của cá được xác định theo tin cho kho tư liệu hiện có, bài báo này giới thang 5 bậc của Nikolsky (1963) [2]. Cá được thiệu một số kết quả mới nhất nghiên cứu đặc coi là no khi có độ no dạ dày từ bậc 3 trở lên. trưng sinh học một số loài cá nổi lớn đại dương, Đối với các cá thể có độ no dạ dày từ bậc 1, đã chủ yếu là 2 loài cá ngừ vây vàng (Thunnus tiến hành thu mẫu dạ dày, ghi chép các thông albacares) và ngừ mắt to (Thunnus obesus) tin cần thiết và bảo quản trong formaline 7- thuộc họ cá thu ngừ (Scombridae) ở vùng biển 10%. Mẫu dạ dày được xử lý bằng cách cân xa bờ miền Trung. Đây là một trong những nội toàn bộ và cân riêng lượng thức ăn và phân tích dung nghiên cứu của đề tài cấp Nhà nước thành phần thức ăn trên kính soi nổi. KC.09.14/06-10 Ứng dụng và hoàn thiện qui Độ chín muồi sinh dục của cá được xác trình công nghệ dự báo ngư trường phục vụ định theo thang 6 bậc của Nikolsky (1963) [2]. khai thác hải sản xa bờ” thuộc Chương trình Cá có độ chín muồi sinh dục ở giai đoạn IV trở Khoa học công nghệ Biển KC.09/06-10. lên được coi là thành thục. Đối với các cá thể (con cái) thành thục, đã tiến hành cân toàn bộ buồng trứng, sau đó lấy mẫu ở 3 vị trí khác 2. Tài liệu và phương pháp nhau trên buồng trứng (phần đầu, phần giữa và phần cuối), mỗi vị trí lấy khoảng 1gam. Cân Trong năm 2008, đề tài KC.09.14/06-10 đã mẫu và tách rời trứng khỏi màng buồng trứng triển khai 2 chuyến khảo sát (tháng 5,6 và tháng trong đĩa petri chứa nước. Đếm số lượng trứng 11,12) đại diện cho 2 mùa gió trên các tàu câu trong mẫu bằng buồng đếm trên kính soi nổi. vàng tại vùng biển xa bờ miền Trung với tổng Trứng cá được chia theo đường kính thành hai số 33 lượt trạm cho mỗi chuyến (hình 1). Tại loại, loại lớn (≥ 3mm) và loại nhỏ (< 3mm). mỗi trạm, ngoài việc thực hiện khảo sát hải Tương quan chiều dài và trọng lượng của cá dương học, đã tiến hành thả một mẻ câu được xác định theo phương pháp hồi quy lặp (khoảng 10-12 giờ) để thu thập số liệu liên quan (Iterative Non-linear Regression) với phương về nguồn lợi và các đặc điểm sinh học, sinh thái trình dạng W=a.Lb, trong đó W là trọng lượng một số đối tượng cá ngừ. Các dụng cụ cân, (kg) và L là chiều dài (cm) của cá, a là hằng số thước, dao kéo mổ, bao bì, chai lọ, formaline cố tỷ lệ, b là hệ số sinh trưởng [3]. định mẫu... và các biểu bảng ghi chép hiện trường (theo quy cách của Viện Nghiên cứu Hải
  3. 383 Đoàn Bộ và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự Nhiên và Công nghệ 25, Số 3S (2009) 381‐389 Hình 1. Sơ đồ mạng trạm trong các chuyến khảo sát năm 2008. 3. Kết quả nghiên cứu thuộc họ cá thu ngừ, trong đó loài cá ngừ vây vàng có 2 cá thể (11,11%) và loài cá ngừ mắt to 3.1. Đặc điểm thành phần loài có 3 cá thể (16,67%) – bảng 1. Trong chuyến khảo sát tháng 5, 6 năm 2008 Có thể thấy tổng số loài bắt gặp được trong đã bắt gặp 26 loài thuộc 20 giống, 12 họ, trong các chuyến khảo sát năm 2008 không nhiều, đó họ cá thu rắn (Gempylidae) có tần suất bắt gồm 30 loài (trong đó có 5 loài thuộc họ cá thu gặp 84,85%, họ cá hố ma (Alepisauridae) ngừ) thuộc 22 giống, 13 họ, đồng thời cũng 66,67%, họ cá đuối (Dasyatidae) 39,39% và họ không có sự khác biệt đáng kể (không quá cá thu ngừ (Scombridae) 39,39%. Trong số 4 12%) về số lượng loài bắt gặp tại cùng một khu loài thuộc họ cá thu ngừ bắt gặp được, loài cá vực (trạm khảo sát) trong 2 mùa gió. Trong khi ngừ vây vàng (Thunnus albacares) có 8 cá thể đó, số liệu thống kê từ các đợt khảo sát xa bờ (24,24%) và loài cá ngừ mắt to (Thunnus trước đây [1] cho thấy, đã bắt gặp 106 loài obesus) có 3 cá thể (9,09%). Các dẫn liệu tương thuộc 72 giống, 44 họ và thành phần giống, loài tự thu được trong chuyến khảo sát tháng 11, 12 có sự khác biệt khá rõ theo mùa vụ. Cụ thể, năm 2008 là: bắt gặp 15 loài thuộc 12 giống, 9 trong mùa gió tây nam đã bắt gặp 99 loài thuộc họ, trong đó họ cá thu rắn có tần suất bắt gặp 66 giống, 41 họ, trong khi vào mùa gió đông 94,44%, họ cá hố ma 38,89%, họ cá vền bắc các giá trị tương ứng chỉ là 39 loài, 25 (Bramidae) 38.89%, họ cá thu ngừ 38.90% và giống, 16 họ. họ cá đuối 22.23%. Cũng chỉ bắt gặp 4 loài
  4. 384 Đoàn Bộ và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự Nhiên và Công nghệ 25, Số 3S (2009) 381‐389 Bảng 1. Thành phần loài và sản lượng khai thác trong các chuyến khảo sát năm 2008 Khảo sát tháng 5, 6/2008 Khảo sát tháng 11, 12/2008 % so % so Sản Tần Sản Tần TT Tên họ và loài bắt gặp với với lượng suất bắt lượng suất bắt sản sản (kg) gặp (%) (kg) gặp (%) lượng lượng 1 Alepisauridae 192,55 14,78 66,67 62,10 8,16 38,89 1 Alepisaurus ferox 192,55 14,78 66,67 62,10 8,16 38,89 2 Alopiidae 100,00 7,68 3,03 2 Alopias superciliosus 100,00 7,68 3,03 3 Bramidae 47,65 3,66 30,30 62,10 8,16 38,89 3 Brama brama 5,10 0,39 3,03 4 Brama orcini 0,80 0,06 3,03 5 Brama sp 1,45 0,11 6,06 6 Taractichthys longipinnis 20,30 1,56 6,06 49,10 6,45 27,78 7 Taractichthys steindachneri 20,00 1,54 12,12 13,00 1,71 11,11 4 Caracanthidae 56,00 4,30 3,03 8 Prionace glauca 56,00 4,30 3,03 5 Carcharhinidae 2,95 0,23 6,06 5,50 0,72 5,56 9 Carcharhinus brachyurus 2,95 0,23 6,06 10 Carcharias Tricuspidatus 5,50 0,72 5,56 6 Coryphaenidae 1,90 0,15 6,06 3,00 0,39 5,56 11 Coryphaena hippurus 1,90 0,15 6,06 3,00 0,39 5,56 1,93 22,23 7 Dasyatidae 50,52 3,88 39,39 14,70 12 Dasyatis bennetti 8,15 0,63 9,09 13 Dasyatis kuhlii 8,30 0,64 6,06 10,20 1,34 16,67 14 Dasyatis sinensis 2,80 0,21 3,03 4,50 0,59 5,56 15 Himantura fai 31,27 2,40 21,21 8 Gempylidae 354,26 27,21 84,85 350,40 46,03 94,44 16 Gempylus serpens 307,46 23,61 66,67 190,30 25,00 94,44 17 Lepidocybium flavobrunneum 23,40 1,80 9,09 160,10 21,03 66,67 18 Promethichthys prometheus 1,30 0,10 3,03 19 Ruvettus pretiosus 0,80 0,06 3,03 20 Thyrsitoides marleyi 21,30 1,64 3,03 9 Lampridae 25,00 1,92 3,03 77,00 10,11 11,11 21 Lampris guttatus 25,00 1,92 3,03 22 Lampris sp 77,00 10,11 10 Scombridae 384,25 29,50 39,39 178,00 23,39 38,90 23 Acanthocybium solandri 18,00 1,38 3,03 4,00 0,53 5,56 24 Katsuwonus pelamis 2,15 0,17 3,03 16,50 2,17 5,56 25 Thunnus alalunga 26 Thunnus albacares 222,10 17,05 24,24 50,00 6,57 11,11 27 Thunnus obesus 142,00 10,90 9,09 107,50 14,12 16,67 11 Sphyraenidae 8,50 0,65 3,03 28 Sphyraena jello 8,50 0,65 3,03 12 Xiphiidae 78,80 6,05 18,18 29 Xiphias gladius 78,80 6,05 18,18 13 (Chưa xác định) 8,50 1,12 11,11 30 (Cá phướn ?)* 8,50 1,12 11,11 Cộng 1302,38 100,00 761,30 100,00 * Chi chú: Tiêu bản lưu tại Viện Hải dương học, Nha Trang.
  5. 385 Đoàn Bộ và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự Nhiên và Công nghệ 25, Số 3S (2009) 381‐389 3.2. Sản lượng và năng suất khai thác liệu tương tự cho chuyến khảo sát tháng 11, 12 năm 2008 bao gồm: tổng sản lượng 761,3 kg, Tổng sản lượng đánh bắt trong chuyến khảo trong đó cá ngừ vây vàng 50kg (6,57%), cá ngừ sát tháng 5, 6 năm 2008 là 1302,38 kg, trong đó mắt to 107,5 kg (14,12%), cá ngừ vây lưng dài cá ngừ vây vàng 222,10 kg chiếm 17,05%, cá (Thunnus alalunga) 16,5 kg (2,17%) – bảng 1, ngừ mắt to 142 kg chiếm 10,90%. Trọng lượng hình 2. Trọng lượng trung bình cá thể của nhóm trung bình cá thể ngừ đại dương là 30,34 kg, cá ngừ đại dương trong chuyến khảo sát này là lớn nhất 68 kg, nhỏ nhất 3,5 kg. Trong 33 trạm 25,4 kg, lớn nhất 45,4 kg, nhỏ nhất 9,5 kg và ở chuyến khảo sát này chỉ có 11 trạm bắt được chỉ có 5/18 trạm bắt được chúng. cá ngừ đại dương, mỗi trạm 01 cá thể. Các dẫn 2063.7 Sả n l ượng (Kg) 2000 1526.1 1500 1302.4 938.3 1000 761.3 587.8 500 272.1 249 222.1 142 107 50 16.5 16.5 0 0 Tháng 5-6/2008 Tháng 11-12/2008 Tổng 2 chuy ến Ngừ vây vàng Ngừ mắt to Ngừ vây lưng dài Cá khác Tổng Hình 2. Sản lượng đánh bắt cá ngừ trong hai chuyến điều tra năm 2008. 3.3. Đặc điểm dinh dưỡng, sinh sản và sinh trưởng Với mỗi mẻ câu sử dụng từ 400 đến 450 lưỡi câu, có thể thấy năng suất khai thác (CPUE Kết quả phân tích mẫu dạ dày thu được – kg/100 lưỡi câu) trong cả 2 chuyến khảo sát là trong cả 2 chuyến khảo sát đối với hai loài cá tương đối thấp, trung bình đạt 8,77 ở vụ nam và ngừ vây vàng và mắt to cho thấy, cá có độ no 10,67 ở vụ bắc. Mẻ câu có CPUE cao nhất ghi bậc 2 chiếm ưu thế (45%), tiếp theo là độ no nhận được trong vụ nam chỉ đạt 32,42 tại trạm bậc 1 (25%), bậc 3 (15%) và bậc 4 (15%). số 1 và trong vụ bắc đạt 29,63 tại trạm số 30. Trong các mẫu này đã bắt gặp 6 loại thức ăn khác nhau, trong đó cá và mực chiếm ưu thế về Riêng nhóm cá ngừ đại dương là đối tượng số lượng (60-80%), các loại khác có số lượng chính của nghề câu cũng chỉ có CPUE trung mỗi loại không nhiều - là những thức ăn không bình đạt 1,5 trong vụ nam và 0,7 trong vụ bắc ưa thích hoặc bị bắt ngẫu nhiên. Có thể thấy đối với cá ngừ vây vàng, tương ứng là 0,96 và thành phần thức ăn như trên là tương đối phong 1,49 đối với cá ngừ mắt to. Trong khi đó CPUE phú bởi cá ngừ đại dương là loài cá nổi lớn trung bình của các nhóm cá khác đạt 6,32 ở vụ thuộc nhóm cá dữ, có tính chọn lọc thức ăn cao nam và 8,48 ở vụ bắc (bảng 2). và di chuyển nhanh để bắt mồi.
  6. 386 Đoàn Bộ và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự Nhiên và Công nghệ 25, Số 3S (2009) 381‐389 Kết quả phân tích còn cho thấy không có sự Nhìn chung sức chứa trứng tuyệt đối của cá ngừ khác biệt đáng kể về thành phần thức ăn giữa 2 vây vàng có xu hướng tăng theo trọng lượng cơ loài cá ngừ vây vàng và mắt to và giữa 2 mùa thể, dao động tương đối lớn từ 3,3 đến 18,7 vụ. Dựa vào kết quả phân tích đã đưa ra chỉ số triệu trứng, trung bình 12,4 triệu trứng. Trong tần xuất bắt gặp các loại thức ăn của cá ngừ như các mẫu phân tích, trứng có kích thước lớn (≥ hình 3. Chỉ số càng lớn thể hiện tính lựa chọn 3mm) dao động từ 0,7 đến 15 triệu trứng, trứng nhỏ 2,6 - 5,8 triệu trứng (hình 4). Do không thu thức ăn càng cao. được mẫu trứng cá ngừ mắt to nên không có Đa phần cá thể cá ngừ đại dương bắt gặp ước tính sức chứa trứng của loài cá này. trong các chuyến khảo sát năm 2008 có độ chín của tuyến sinh dục ở giai đoạn III, IV và V. Bảng 2. CPUE (kg/100 lưỡi câu) của một số đối tượng tại các trạm khảo sát. Khảo sát tháng 5-6/2008 (33 trạm) Khảo sát tháng 11-12/2008 (18 trạm) Trạm Cá ngừ Cá ngừ CPUE Cá ngừ Cá ngừ CPUE số Cá khác Cá khác vây vàng mắt to Chung vây vàng mắt to Chung 1 9,33 23,09 32,42 2 8,74 8,74 3 0,33 0,33 4 15,40 15,40 5 2,80 2,80 5,89 5,89 6 14,44 14,44 11,83 11,83 8 11,56 5,36 16,91 9 4,63 4,63 10,70 10,70 10 0,00 0,00 11,88 11,88 11 15,11 0,67 15,78 12 4,78 4,78 15,40 15,40 13 6,39 6,39 6,85 6,85 15 7,31 7,31 16 11,29 11,29 9,25 2,55 11,80 17 3,51 3,51 1,75 1,75 18 0,18 0,18 19 0,80 0,80 4,13 4,13 20 2,67 2,67 10,28 10,28 22 8,44 4,31 12,76 23 4,00 2,67 6,67 9,15 9,15 24 3,31 3,31 4,00 4,00 25 1,10 1,10 26 8,00 14,98 22,98 6,28 15,75 22,03 27 0,62 0,62 11,35 8,80 20,15 29 24,33 24,33 30 7,67 3,67 11,33 10,13 19,5 29,63 31 6,00 1,16 7,16 6,30 6,30 32 4,18 7,40 11,58 33 2,40 0 2,40 2,38 0,75 3,13 34 6,17 6,17 7,23 7,23 36 14,93 14,93 37 6,66 6,66 38 4,22 4,82 9,04 T.B. 1,50 0,96 6,32 8,77 0,7 1,49 8,48 10,67
  7. 387 Đoàn Bộ và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự Nhiên và Công nghệ 25, Số 3S (2009) 381‐389 Thức ăn khác Hetero carpus sp. 25% 20% Nhuyễn thể 5% Cá 15% M ực 20% P o lychaeta 15% Hình 3. Giá trị trung bình tần số xuất hiện thức ăn trong dạ dày cá ngừ. 16 Tri ệu trứng Trứng loại nhỏ 14 Trứng loại lớ n 12 10 8 6 4 2 0 Mẫu 1 Mẫu 2 Mẫu 3 Hình 4. Sức chứa trứng tuyệt đối theo kích thước trứng của loài cá ngừ vây vàng. được tỷ lệ giữa các giá trị tương ứng có trong Chiều dài và trọng lượng các cá thể cá ngừ vây vàng và mắt to bắt gặp trong các chuyến bảng 3 đối với 2 loài cá và trong 2 mùa không khảo sát có sự khác nhau đáng kể. Giữa chiều có sự khác biệt quá nhiều (trừ tỷ lệ của các giá dài cực đại và cực tiểu (tính đến chẽ vây đuôi) trị cực tiểu). Điều này cho thấy không có biểu của từng đối tượng mặc dù khác nhau không hiện khác biệt rõ nét về vai trò của habitat và nhiều (từ 1,1 đến 2,7 lần), song trọng lượng cực tác động của nó đến lứa tuổi của hai loài này đại và cực tiểu của chúng lại hơn kém nhau từ [4]. 1,8 đến 14,8 lần (bảng 3). Tuy nhiên có thể thấy
  8. 388 Đoàn Bộ và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự Nhiên và Công nghệ 25, Số 3S (2009) 381‐389 Bảng 3. Giá trị thống kê chiều dài và trọng lượng cá ngừ vây vàng và mắt to trong 2 chuyến khảo sát Chiều dài (cm) Trọng lượng (kg) Tên loài Tỷ lệ Tỷ lệ Trung Max Min Trung Max Min Max/Min Max/Min bình bình Trong chuyến khảo sát tháng 5, 6 năm 2008 Cá ngừ vây vàng (1) 106,7 145 53 2,74 24,7 52 3,5 14,86 Cá ngừ mắt to (2) 136 161 120 1,34 47,3 68 36 1,89 Tỷ lệ (2)/(1) - - 1,27 1,11 2,26 1,92 1,31 10,29 Trong chuyến khảo sát tháng 11, 12 năm 2008 Cá ngừ vây vàng (3) 82,8 107 65 1,65 25.0 40,5 9,5 4,26 Cá ngừ mắt to (4) 128 134 120 1,12 35,8 45,4 25 1,82 - - Tỷ lệ (4)/(3) 1,55 1,25 1,85 1,43 1,12 2,63 Với hầu hết các loài cá, giữa chiều dài và Đã bắt gặp 6 loại thức ăn trong thành phần trọng lượng luôn có mối quan hệ chặt chẽ. Điều thức ăn của cá ngừ đại dương, chủ yếu gồm cá này đã được nhiều công trình nghiên cứu đề cập và mực. Có khoảng 50% cá thể bắt được có độ đến [3]. Trong nghiên cứu này, mặc dù số no dạ dày ở bậc 2. lượng mẫu không nhiều, song mối quan hệ nêu Quan hệ giữa chiều dài và trọng lượng của trên cũng không nằm ngoài quy luật vốn có với các cá thể khá chặt chẽ và không nằm ngoài quy hằng số tỷ lệ a=0,00009, hệ số sinh trưởng luật tự nhiên với hệ số tương quan khá cao b=2,6087, được thể hiện trên hình 5 với hệ số (R2>0,9). tương quan khá cao (R2>0,9). Cá Ng ừ v ây vàng (Thunnus albacares) - n = 9 W (kg) 60 2.6087 W = 9E-05 L 50 4. Kết luận 2 R = 0,97 40 30 Thành phần loài cá nổi lớn đại dương trong 20 cả 2 chuyến khảo sát năm 2008 khá đơn giản, 10 gồm 30 loài (trong đó có 5 loài thuộc họ cá thu 0 ngừ) thuộc 22 giống, 13 họ, đồng thời cũng 200 LT (cm) 0 50 100 150 không có sự khác biệt đáng kể về số lượng loài bắt gặp tại cùng một khu vực và trong 2 mùa Hình 5. Tương quan giữa chiều dài toàn thân và gió. trọng lượng của cá ngừ vây vàng. Sản lượng và năng suất khai thác trong các chuyến khảo sát nêu trên không cao, trong đó Tài liệu tham khảo sản lượng họ cá thu ngừ chỉ chiếm từ 23-29% tổng sản lượng với CPUE trung bình dao động [1] Đinh Văn Ưu và nnk, Xây dựng mô hình dự báo trong khoảng 0,7-1,5 kg/100 lưỡi câu. Trong cá khai thác và các cấu trúc hải dương có liên tổng số 51 mẻ câu đã thực hiện trong cả 2 quan phục vụ đánh bắt xa bờ ở vùng biển Việt chuyến, chỉ có 4 mẻ câu có CPUE của họ cá thu Nam, Tuyển tập nghiên cứu nghề cá biển, T. IV, Nxb Nông nghiệp (2006), 55. ngừ đạt trên 10 kg/100 lưỡi câu.
  9. 389 Đoàn Bộ và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự Nhiên và Công nghệ 25, Số 3S (2009) 381‐389 [2] G.V. Nikolsy, The ecology of fishes (Translation Ninh Thuận, Luận án Tiến sỹ sinh học, ĐHTH of “Ekogiya ryb”), Academic Press, London and Hà Nội, 1996. New York, 1963. [4] Đinh Văn Ưu, Đoàn Bộ, Hà Thanh Hương, [3] Nguyễn Xuân Huấn, Đặc điểm sinh trưởng, biến Tương quan biến động điều kiện môi trường và động trữ lượng và dự báo khả năng khai thác ngư trường nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng một số loài cá kinh tế ở vùng biển Bình Thuận- biển khơi nam Việt Nam, Tạp chí khoa học ĐHQG HN, tXXI, No3AP (2005) 108. Species composition, yield and biological characteristics of some species of ocean large pelagic fish in surveys at offshore area of Vietnam Centre in 2008 Doan Bo1, Tran Chu2, Le Hong Cau2, Tran Liem Khiet2, Pham Quoc Huy2 1 Faculty of Hydro-Meteorology & Oceanography, College of Science, VNU 334 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam 2 Research Institute for Marine Fisheries In 2008, we were performed two surveys by longline at offshore area of Vietnam centre and have some results: 1. Species composition of ocean large pelagic fish is very simply, include in 30 species (in which there are 5 species in the Scomberidae family), 22 genus and 13 families. It is no relatively differed about species composition in the two season. 2. Scomberidae family was about 23-29% of total catch and mean CPUE was about 0,7-1,5kg/100 hooks. 3. Food composition in the stomach of Yellow fin tuna and Big eye tuna consists of 6 kinds, but primarily was fish and squid. In that, about 50% individual catched were full stomach at 2 level. Relationship between length and weight of Yellow fin tuna and Big eye tuna is closely related, with R2>0,9. Keywords: Biological characteristics, Ocean large pelagic fish, Offshore area.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2