Bệnh nấm nông
Nm nông là bnh da khá phổ biến do các vi nm ký sinh ở thượng bì hoặc
thành phn phụ ca da như lông, tóc, móng gây nên. Bnh gặp nhiều ở các
nước trong vùng nhiệt đới nóng và m. Tại Bệnh viện Da liễu Trung ương
trong thi gian 3 năm từ tháng 1 năm 2007 đến hết tháng 12 năm 2009 có
gần 30.000 bệnh nhân được chẩn đoán là nm da, chiếm 6,3% tổng số bệnh
da đến khám và điu trị.
Bệnh nấm tuy không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng thường có triu
chứng cơ năng ngứa nhiều, nếu không đưc điều trị hay điu trị không đúng,
thương tổn nmthể lan tỏa, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.
Nm da gặp ở mi lứa tuổi. Tuy nhiên, bnh thường gặp ở người trẻ. Theo
nghiên cu tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, trên 50% bệnh nhân từ 20 đến
29 tuổi, trong đó, chủ yếu là học sinh và sinh viên. Điu kiện sinh hoạt thiếu
thốn, sống tập thể, ngủ chung và dùng chung qun áo là những điu kiện
thuận lợi cho nm lây lan và gây bnh. Khí hu nóng ẩm, ra nhiều mồ hôi
làm cho pH của da thay đổi cũng là một trong những yếu tố thun li cho
nấm phát triển.
Nhng bệnh nm nông thường gặp
Nm nông ở da gồm nhiu loại khác nhau. Hắc lào là bnh nấm da phổ biến
nhất do các loại nm sợi (dermatophytes) gây nên. Nấm sợi gồm ba loại chủ
yếu là Trichophyton, Epidermophyton, Microsporum và chúng ký sinh ch
yếu ở chó, mèo hay chuột. Khiđiều kin thun li sẽ lây lan sang người
và gây bnhda, tóc và móng. Nấm sợi có ái tính vi các tế bào sừng của
thượng bì. Khi m vào các tế bào sừng, sợi nấm tiết ra keratinase, một loại
men có tác dụng tiêu hủy keratin, thành phn cấu tạo chủ yếu ca các tế bào
sừng (keratinocyte). Thương tổn trên da là các mụn nước tập trung thành
đám hình tròn hay hình nhiu cung, trên có vảy da. Thương tổn có xu hướng
lành giữa và lan ra xung quanh và ngứa nhiều. Tùy vị trí gây bệnh mà
các tên khác nhau như nm thân mình (Tinea corpris), ở đầu (tinea capitis),
mặt (tinea faciei) hay ở chân (tinea pedis)... kèm theo bnh nhân có ngứa
nhiều, nhất là khi trời nóng, ra nhiều mồ hôi. Nếu không được điều tr,
thương tổnxu hướng lan rộng. Ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dch
bm sinh hay mắc phải hoặc những bệnh nhân điu trị các thuốc ức chế miễn
dch, thương tổn có th lan rộng ra toàn thân.
Lang ben là bệnh da do nấm có tên Malassezia furfur gây nên. Vi nm
hình tròn hay hình bu dục, sinh chủ yếu ở vùng da tăng tiết chất bã
nhờn. Trên da bình thường cũngvi nấm, tuy nhiên chúng không gây
bệnh. Da ẩm ướt, suy giảm miễn dịch, đái tháo đường là nhng điu kin
thuận lợi cho vi nm phát trin và gây bnh. Thương tổn trên da là các dát
ch thước từ 0,5 đến 2 cm đường kính, gii hạn rõ ràng vi vùng da lành,
trên có vy da khô mng như vy cám, dễ bong. Ở người da thm màu dát
thường có màu trng, ở người da trắng dát màu nâu. Các thương tn
thể liên kết với nhau tạo thành mng ln, bờ khúc khuỷu như hình bn đồ.
Thương tổn trở nên đỏ và ngứa khi ra nng. Trong một nghiên cứu ca Bộ
môn Da liu Trưng đại học Y Hà Ni tại xã Vĩnh Pc huyện Thanh Trì -
Hà Ni cho thy 3,1% trong số 513 người được khám mắc bệnh lang ben và
tại Bệnh viện Da liu Trung ương trung bình một năm có 1673 bệnh nhân b
bệnh lang ben đến khám và điu trị, chiếm 16,9% tổng số bệnh nhân b
bệnh nấm nông và 1,1% các bệnh da nói chung.
Một số hình ảnh nấm nông trên da.
Các bệnh da và niêm mạc
do Candida chiếm khoảng 1% các bệnh nm da. Chủng hay y bệnh nhất là
Candida albican. Biu hin ca viêm kdo Candida trên lâm sàng là các dát
đỏ giới hn rõ hình tròn hay hình nhiu cung, xung quanh thường có các
thương tổn vệ tinh. V trí hay gặp ở kẽ bẹn, mông, cổ, là những nơi luôn ẩm
ướt. Ngoài ra, vi nm còn có thgây viêm lưỡi (tưa lưỡi) ở trẻ bú mhay
viêm niêm mạc miệng ở những bệnh nhân bị suy gim miễn dch. Trên thực
tế tình trạng tưa lưỡi rất thường gặp ở trẻ nhũ nhi. Việc chẩn đoán bệnh do
candida thường không gặp nhiu khó khăn. Nguyên tắc điều trị chủ yếu là v
sinh sạch sẽ, sử dụng các loi thuốc chống nấm bôi tại chỗ cho kết quả tốt.
Nấm móng là bnh thường gp nhất trong các bệnh về móng. Nguyên nhân
có thể do nấm sợi hay nấm men y nên. Biu hiện lâm ng đa dạng, móng
trở nên dày, màu trng ngà và mủn, có thể có hin tượng tách móng. Theo
một nghiên cứu ở Phần Lan cho thấy t lệ bệnh nhân bị nấm móng chiếm
20,2% các bệnh nhân trên 18 tuổi bị bệnh da. Mang giầy liên tục, bàn chân
luôn m do mồ hôi, là điu kiện thuận li cho nấm gây bệnhmóng.
Nấm tóc ít gặp nhất, thường do nấm sợi lây lan từ vật nuôi trong nhà như
chó, mèo. Trong thời gian 3 năm có 640 bệnh nhân bị nấm tóc, chiếm 2,1 %
các bệnh nấm nông, trong đó nấm đinh hương sen (kerion de celse) là 0,4%
và nm trứng tóc 0,3%. Ngoài ra, còn có nhiu chủng nm khác gây bệnh
trên da như piedraia, phaeoannellomyces…nhưng rất hiếm gặp.
Chẩn đoán xác định các bệnh nấm nông cần dựa vào biu hiện thương tổn
trên da và xét nghim soi tươi tìm nm. Cần u ý hin tượng âm tính giả vì
nhiều bệnh nhân đã tự điều tr bằngic thuốc chng nm trước khi đến
khám và xét nghim. Do vậy, cầnvn cho người bệnh nên ngng tất cả
các thuốc bôi ít nhất từ 3 đến 5 ngày trước khi làm xét nghiệm.
Điều trị nm nông ở da cần kết hợp nhiều biện pháp
- Vsinh sạch sẽ, tránh ẩm ướt, nhất là các nếp gấp. Tránh s dụng xà
phòng.
- Là qun áo thường xuyên hoặc cần phơi qun áo dưới ánh nắng mặt trời,
nhất là qun áo lót có tác dụng diệt nm, tránh hiện tượng tái nhim.
- Tránh tiếp c với các nguồn lây như chó mèo, không dùng chung quần áo
chăn màn vi người mắc bệnh.
- Dùng các thuốc chống nấm bôi tại chỗ đơn thuần hoặc kết hp thuốc bôi
với thuốc ung đường toàn thân tùy thuộc vào mc độ thương tổn.
- Hiện nay có rất nhiều các loại thuốc bôi có tác dụng kháng nấm như
Nizoral cream (Ketoconazole) 2% , Lamisil cream (Terbinafine) 1%,
Mycoster cream (Ciclopiroxolamine) 1%.v.v. vi hiệu quả điu trị cao, ít
gây tác dụng phụ.
- Thi gian bôi thuốc ít nhất từ 3 đến 4 tuần. Để tránh hiện tượng tái phát,
theo một số tác giả, sau khi khỏi bệnhthể bôi thuốc duy trì 1 đến 2 ln/
tuần.
- Sử dụng các thuốc kháng nấm toàn thân cần có chỉ định ca bác sỹ. Nên
kim tra chức năng gan trước và trong qua trình điều trị và không nên phối
hợp sử dụng thuốc kháng nm kết hợp với các thuốc kháng histamine tổng
hợp vì có thể gây nên các biến chứng v tim mạch