intTypePromotion=1

Biến chứng ngoại khoa sau ghép thận, kết quả 42 trường hợp ghép thận từ người cho sống tại Bệnh viện Nhân Dân 115

Chia sẻ: Trần Thị Hạnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
10
lượt xem
1
download

Biến chứng ngoại khoa sau ghép thận, kết quả 42 trường hợp ghép thận từ người cho sống tại Bệnh viện Nhân Dân 115

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tình hình nghiên cứu và mục tiêu của đề tài trình bày về biến chứng ngoại khoa sau ghép thận có tỉ lệ thấp, tuy nhiên nó có thể ảnh hưởng đến chức năng của thận ghép và tính mạng của bệnh nhân. Và mục tiêu nghiên cứu chính ở bài viết đó là nêu lên biến chứng ngoại khoa sau ghép thận và kinh nghiệm bước đầu điều trị tại bệnh viện Nhân Dân 115. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Biến chứng ngoại khoa sau ghép thận, kết quả 42 trường hợp ghép thận từ người cho sống tại Bệnh viện Nhân Dân 115

Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012<br /> <br /> BIẾN CHỨNG NGOẠI KHOA SAU GHÉP THẬN,<br /> KẾT QUẢ 42 TRƯỜNG HỢP GHÉP THẬN TỪ NGƯỜI CHO<br /> SỐNG TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN 115<br /> Trương Hoàng Minh*, Trần Thanh Phong*, Đỗ Anh Đức*,<br /> Trần Lê Duy Anh*, Nguyễn Phước Hải*, Hồ Thị Ngọc Châu*<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Đặt vấn đề và mục tiêu: Biến chứng ngoại khoa sau ghép thận có tỉ lệ thấp, tuy nhiên nó có thể ảnh hưởng<br /> đến chức năng của thận ghép và tính mạng của bệnh nhân. Chúng tôi xin trình bày các biến chứng ngoại khoa<br /> sau ghép thận và kinh nghiệm bước đầu điều trị tại bệnh viện Nhân Dân 115.<br /> Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Các bệnh nhân được chỉ định ghép thận từ người cho sống tại<br /> bệnh viện Nhân Dân 115 từ tháng 3 năm 2004 đến tháng 4 năm 2012. Phát hiện các biến chứng bằng khám lâm<br /> sàng, siêu âm và CT-Scan. Phương pháp tiền cứu mô tả từng trường hợp lâm sàng.<br /> Kết quả và bàn luận: Có 42 bệnh nhân được tiến hành ghép thận. Tuổi trung bình ở người cho 31,43 tuổi<br /> (18-54t).Tuổi trung bình người nhận thận là 40,98 tuổi (19-69). Tỷ lệ lấy thận trái/phải để ghép là 34/8. Tỷ lệ đặt<br /> thận ghép ở hố chậu phải/trái là 32/10. Có 33 thận ghép với 1 động mạch thận và 9 thận ghép có nhiều động<br /> mạch. 100% các trường hợp cắm niệu quản vào bàng quang theo phương pháp Lich-Grégoir có cải biên. Tỷ lệ<br /> chảy máu từ chỗ khâu nối mạch máu là 3/42 (7,14%). Tỷ lệ hẹp chỗ khâu nối động mạch là 3/42 (7,14%) được<br /> đặt stent có kết quả tốt. Tỷ lệ xì dò nước tiểu là 1/42 (2,7%). Có 1/42 (2,38%) bệnh nhân tử vong liên quan chảy<br /> máu sau mổ do rối loạn đông máu.<br /> Kết luận: Tỷ lệ các biến chứng ngoại khoa trong nghiên cứu là thấp. Đặt Stent điều trị hẹp chỗ khâu nối<br /> động mạch có kết quả tốt. Kỹ thuật cắm niệu quản thận ghép vào bàng quang người nhận thận theo phương pháp<br /> Lich-Gregoir có cải biên đạt tỷ lệ thành công cao.<br /> Từ khóa: Biến chứng ngoại khoa, ghép thận.<br /> <br /> ABSTRACT<br /> SURGICAL COMPLICATIONS AFTER RENAL TRANSPLANTATION, RESULTS 42 CASES OF<br /> RENAL TRANSPLANTATION FROM LIVING DONOR AT PEOPLE 115 HOSPITAL<br /> Truong Hoang Minh, Tran Thanh Phong, Do Anh Duc,<br /> Tran Le Duy Anh, Nguyen Phuoc Hai, Ho Thi Ngoc Chau<br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 3 - 2012: 460 - 465<br /> Background and purpose: Surgical complications after renal transplantation are low, however it may to<br /> influence on graft survival. We evaluated surgical complications after renal transplantation and initial experience<br /> of treatment at people 115 Hospital.<br /> Materials and Methods: Patients were operated renal transplantation at people 115 hospital from march<br /> 2004 to april 2012. Determine surgical complications by Examination clinical, Echo, CT-Scan with prospective<br /> study of the cas.<br /> Results: All 42 renal transplantations from living donor performed. The essential donor age: 31,43 (18-54.<br /> The essential receiver age: 40,98 (19-69). Rate nephrectomy for living donor left/right: 34/8. Rate implant fosse<br /> *<br /> <br /> Bệnh viện Nhân Dân 115<br /> Tác giả liên lạc: ThsBS Trương Hoàng Minh Email: truonghminh2000@yahoo.com<br /> <br /> 460<br /> <br /> Chuyên Đề Thận Niệu<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> iliac right/left: 32/10. The single renal artery: 33 patients and 9 patients with multiple arteries. 100% cases were<br /> inserted the ureter of graft into the recipient bladder with Lich-Grégoir technique has a modification. Rate<br /> hematoma: 3/42 (7,14%), Rate of arterial stenosis: 3/42 (7,14%) was treated successful by stent arterial, Rate<br /> urinary leaks: 1 patient (2,38%). Rate mortality:1/42 cases (2,38%) relate to postoperative bleeding due to<br /> troubled coagulation.<br /> Conclusions: Rate of surgical complications after renal transplantation was low. The insert of stent by<br /> intervention endovascular for treatment of stenosis in anastomosis arterial was good result. The ureter was<br /> anastomosed to the recipient bladder with Lich-Gregoir technique has a modification was high success.<br /> Key words: Surgical complication, Renal transplantation.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Ghép thận là phương pháp điều trị thay thế<br /> thận sinh lý và đem lại chất lượng cuộc sống<br /> nhất đối với bệnh nhân suy thận mãn giai đoạn<br /> cuối. Việt Nam thực hiện ghép thận từ năm 1992<br /> và đã trở thành phẫu thuật thường quy ở nhiều<br /> bệnh viện. Biến chứng ngoại khoa là một biến<br /> chứng khó tránh khỏi sau ghép thận chiếm<br /> khoảng 15% tùy theo các trung tâm và đôi khi<br /> ảnh hưởng đến tính mạng bệnh nhân sau ghép.<br /> Các biến chứng ngoại khoa bao gồm: biến<br /> chứng mạch máu (1-16%), biến chứng niệu khoa<br /> (2-10%), biến chứng lymphoceles (3,1%), và các<br /> biến chứng khác.(6). Bệnh viện Nhân Dân 115 bắt<br /> đầu thực hiện ghép thận từ người cho sống vào<br /> năm 2004, cho tới nay đã thực hiện 42 trường<br /> hợp. Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm đưa<br /> ra kinh nghiệm ban đầu phát hiện và điều trị các<br /> biến chứng ngoại khoa góp phần nâng cao chất<br /> lượng điều trị cho bệnh nhân ghép thận tại Bệnh<br /> viện Nhân Dân 115.<br /> <br /> ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Đối tượng nghiên cứu<br /> Tất cả các bệnh nhân được ghép thận từ<br /> người cho sống tại bệnh viện Nhân Dân 115 từ<br /> tháng 3 năm 2004 đến tháng 4 năm 2012.<br /> <br /> Thiết kế nghiên cứu<br /> Tiền cứu mô tả từng trường hợp<br /> <br /> Phương pháp nghiên cứu<br /> -Việc thực hiện ghép thận được thực hiện<br /> theo quy trình ghép thận của bệnh viện Nhân<br /> Dân 115 dựa trên quy trình ghép thận của Bộ Y<br /> tế năm 2002(5).<br /> <br /> Chuyên Đề Thận Niệu<br /> <br /> -Việc lấy thận được thực hiện qua mổ mở<br /> hoặc mổ nội soi.<br /> -Thận được lấy ra khỏi người cho và rửa<br /> bằng dung dịch Euro-Collins ở nhiệt độ 4 độ<br /> Celcius hoặc dung dịch HTK-Custodial.<br /> -Thận ghép được đặt vào hố chậu phải hoặc<br /> trái ở người nhận thận, tĩnh mạch thận ghép<br /> cắm vào tĩnh mạch chậu chung hoặc tĩnh mạch<br /> chậu ngoài tùy từng trường hợp. Động mạch<br /> thận ghép được thông nối với động mạch chậu<br /> trong (tận-tận) hoặc động mạch chậu ngoài hay<br /> chậu chung (tận- bên) tùy từng trường hợp.<br /> -Niệu quản được cắm vào bàng quang theo<br /> phương pháp Lich-Gregoir.<br /> -Phác đồ thuốc ức chế miễn dịch: Ức chế<br /> calcineurin (CsA hoặc Tacrolimus) + MMF<br /> (Cellcept) + Steroid (Prednisolon) + dẫn nhập<br /> (Simulect) tùy theo từng trường hợp.<br /> -Ghi nhận các biến chứng ngoại khoa sau<br /> mổ và kết quả điều trị các biến chứng.<br /> -Các bệnh nhân sau mổ được tái khám 1<br /> lần/tuần, ghi nhận các biến chứng nếu có.<br /> -Lập bệnh án nghiên cứu, ghi đầy đủ các<br /> thông số nghiên cứu.<br /> -Sử lý số liệu với phần mềm SPSS 11.5. Biến<br /> số định tính được trình bày dưới tỷ lệ %, biến số<br /> định lượng trình bày dưới dạng số trung bình<br /> và độ lệch chuẩn.<br /> <br /> KẾT QUẢ<br /> Từ tháng 2 năm 2004 đến tháng 4 năm 2012<br /> chúng tôi thực hiện được 42 trường hợp ghép<br /> thận từ người cho sống với các đặc điểm sau:<br /> <br /> 461<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012<br /> Bảng 2: Các phương pháp khâu nối mạch máu<br /> <br /> Đặc điểm ở người cho thận<br /> Tuổi trung bình: 31,43 tuổi (18t-54t) với 30<br /> nam (71,4%) và 12 nữ (28,6%). Độ tuổi hiến thận<br /> đa phần là tuổi lao động, nam nhiều hơn nữ.<br /> Bảng 1: Quan hệ giữa người cho và người nhận thận<br /> Quan hệ<br /> Số trường hợp<br /> Mẹ ruột cho con<br /> 1<br /> Anh chị em ruột cho nhau<br /> 7<br /> Con dâu cho mẹ chồng<br /> 1<br /> Vợ cho chồng<br /> 1<br /> Cháu cho dì/cô/chú<br /> 14<br /> Anh em họ cho nhau<br /> 18<br /> Tổng cộng<br /> 42<br /> <br /> Tỷ lệ%<br /> 2,38<br /> 16,67<br /> 2,38<br /> 2,38<br /> 33,33<br /> 42,86<br /> 100<br /> <br /> Khâu nối mạch máu<br /> Số trường hợp Tỷ lệ %<br /> Khâu nối Động mạch chậu<br /> 21<br /> 50<br /> động mạch<br /> ngoài<br /> Động mạch chậu<br /> 9<br /> 21,43<br /> trong<br /> Động mạch chậu<br /> 7<br /> 16,67<br /> chung<br /> Với tĩnh mạch<br /> 40<br /> 95,24<br /> chậu ngoài<br /> Khâu nối<br /> tĩnh mạch Với tĩnh mạch<br /> 2<br /> 4,76<br /> chậu chung<br /> <br /> Phương pháp lấy thận ghép: 6 trường hợp<br /> lấy thận qua nội soi ổ bụng và 36 trường hợp lấy<br /> qua mổ mở<br /> <br /> Chuẩn bị mạch máu: 1 trường hợp (2,38%)<br /> bóc tách rốn thận làm dài động mạch, 2 trường<br /> hợp (4,76%) cắm động mạch cực trên vào động<br /> mạch thận chính. 1 trường hợp (2,38%) nối động<br /> mạch cực dưới vào động mạch thượng vị dưới.<br /> 2 trường hợp (4,76%) tạo hình kiểu nòng sung. 1<br /> trường hợp cột động mạch cực trên do khẩu<br /> kính quá nhỏ.<br /> <br /> Số lượng động mạch thận ghép: có 33<br /> trường hợp (78,57%) thận ghép có 1 động mạch,<br /> 9 trường hợp (21,43%) có 2 động mạch.<br /> <br /> Có 22 trường hợp (52,38%) đặt thông JJ niệu<br /> quản thận ghép, 20 trường hợp (47,62%) là<br /> không đặt thông JJ.<br /> <br /> Thời gian thiếu máu nóng: trung bình 3 phút<br /> 12 (2 phút - 7 phút 30)<br /> <br /> Phục hồi chức năng thận ghép sau mổ: 31<br /> trường hợp (73,81%) có nước tiểu ngay sau khi<br /> mở kẹp mạch máu, 8 trường hợp (19,05%) có<br /> nước tiểu sau 30 phút, có 3 trường hợp (7,14%)<br /> có nước tiểu sau 24 giờ.<br /> <br /> Vị trí lấy thận: 8 trường hợp lấy thận phải và<br /> 34 trường hợp lấy thận trái.<br /> <br /> Đặc điểm ở người nhận thận<br /> Tuổi trung bình: 40,98 tuổi (19t-69t) với 25<br /> nam (59,5%) và 17 nữ (40,5%)<br /> Nguyên nhân suy thận mãn: 24 trường hợp<br /> (57%) là bệnh cầu thận mãn, 9 trường hợp<br /> (21,43%) là bệnh thận cao huyết áp, 4 trường<br /> hợp (9,52%) tiểu đường, 2 trường hợp (4,76%)<br /> thận đa nang, còn lại do Lupus, gout, sỏi niệu.<br /> Phương pháp điều trị trước ghép thận: 33<br /> trường hợp (78,57%) chạy thận nhân tạo, 5<br /> trường hợp (11,90%) thẩm phân phúc mạc, 4<br /> trường hợp (9,53%) chưa điều trị thay thế thận<br /> trước ghép.<br /> Tương hợp HLA: 1/6 (có 2/42: 4,76%), 2/6 (có<br /> 5/42: 11,9%), 3/6 (có 16/42: 38,1%), 4/6 (có<br /> 13/42:30,96%), 5/6 (có 5/42: 11,9%), 6/6 (có 1/42:<br /> 2,38%)<br /> Thông số kỹ thuật trong mổ: 32 trường hợp<br /> (76,19%) ghép vào hố chậu phải, 10 trường hợp<br /> (23,81%) ghép vào hố chậu trái.<br /> <br /> 462<br /> <br /> Biến chứng ngoại khoa<br /> Bảng 3: Biến chứng mạch máu<br /> Biến chứng<br /> <br /> Chúng tôi<br /> <br /> Chảy chỗ thông<br /> nối động mạch<br /> Hẹp động mạch<br /> thận ghép<br /> <br /> 3/42<br /> (7,14%)<br /> 3/42<br /> (7,14%)<br /> <br /> (6)<br /> <br /> Trần Ngọc Eduardo. M<br /> (8)<br /> Sinh<br /> 2/201 (0,99%) 9/292 (3,1%)<br /> 0/ 201 (0%)<br /> <br /> 9/292 (3,1%)<br /> <br /> Cả 3 trường hợp hẹp động mạch thận ghép<br /> tại vị trí thông nối đều xẩy ra trên bệnh nhân<br /> được thực hiện thông nối động mạch thận ghép<br /> với động mạch chậu ngoài (1 bệnh nhân) và<br /> động mạch chậu chung (2 bệnh nhân) kiểu tậnbên.<br /> Bảng 4: Biến chứng niệu khoa và so sánh với các tác<br /> giả<br /> Tên tác Chúng Trần Ngọc Daniel. A.S Akoh JA et<br /> (1)<br /> (2)<br /> giả<br /> tôi (2012) Sinh et al et al (1995) al (2009)<br /> (8)<br /> (2010)<br /> <br /> Chuyên Đề Thận Niệu<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012<br /> N (Tổng 42 (living 201 (living<br /> 1000<br /> 398 (335<br /> số bn<br /> donors)<br /> donors)<br /> (deceased) deceased +<br /> nghiên<br /> 43 living<br /> cứu)<br /> donors)<br /> Số bn (tỷ<br /> 1 bn<br /> 4 bn<br /> 71 bn (7,1%)<br /> 29 bn<br /> lệ) biến (2,38%) (1,99%)<br /> (7,3%)<br /> chứng<br /> <br /> -Biến chứng Lymphocel: chúng tôi không<br /> gặp trường hợp nào<br /> -Biến chứng khác: Có 1 trường hợp nhiễm<br /> trùng vết mổ, đây là những ca đầu tiên ghép<br /> cùng phái đoàn Bỉ sử dụng kháng sinh dự<br /> phòng nhưng thất bại, biểu hiện sưng tấy vết<br /> mổ vào ngày thứ 4, không sốt. Chúng tôi sử<br /> dụng lại kháng sinh thế hệ 3 (Rocephin) sau đó<br /> bệnh ổn, vết mổ lành và cắt chỉ vào ngày thứ 10<br /> sau mổ. Không ghi nhận trường hợp nào có tổn<br /> thương các tạng trong ổ bụng, thoát vị thành<br /> bụng hay tràn dịch tinh mạc cùng bên thận<br /> ghép.<br /> <br /> BÀN LUẬN<br /> Biến chứng mạch máu: Ngày nay, với sự<br /> phát triển của kỹ thuật ngoại khoa, biến chứng<br /> mạch máu gặp không nhiều (kể cả nhóm có<br /> nhiều động mạch)(6) tuy nhiên khi xẩy ra nó sẽ là<br /> nguyên nhân quan trọng làm mất chức năng<br /> thận ghép. Nếu phát hiện sớm có thể cứu được<br /> thận ghép thông qua việc can thiệp ngoại khoa<br /> hay can thiệp nội mạch(3)<br /> Cả 3 trường hợp chảy máu chỗ thông nối<br /> động mạch (động mạch thận ghép với động<br /> mạch chậu ngoài người nhận) biểu hiện máu tụ<br /> quanh thận ghép xảy ra ở ngày 1-16 hậu phẫu,<br /> biểu hiện lâm sàng là đau và sưng vùng thận<br /> ghép kèm dẫn lưu ra máu. Siêu âm là phương<br /> tiện chẩn đoán đầu tiên và dễ dàng nhận thấy<br /> hematoma quanh thận ghép(1), khi kết quả<br /> không rõ ràng hoặc nghi ngờ sẽ tiến hành chụp<br /> CT-Scan(1). Hai trường hợp được mổ lại 2 lần để<br /> lấy máu tụ và cầm máu (một bệnh nhân phát<br /> hiện ngày thứ 2 và một bệnh nhân phát hiện<br /> ngày thứ 16) với kết quả bệnh nhân thứ 2<br /> (2,38%) tử vong do rối loạn đông máu, nhiễm<br /> trùng, viêm gan do thuốc mê và thận ghép<br /> không hoạt động. Trường hợp còn lại (phát hiện<br /> <br /> Chuyên Đề Thận Niệu<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> ngày hậu phẫu thứ 1) được mổ lại may cầm máu<br /> chỗ nối động mạch bằng mối may tăng cường,<br /> sau phẫu thuật bệnh diễn tiến tốt. Đây là những<br /> trường hợp được thực hiện ghép thận trong<br /> những năm đầu (2004), chúng tôi chưa có nhiều<br /> kinh nghiệm.<br /> Ba trường hợp hẹp động mạch thận xảy ra ở<br /> tháng 3-4 sau ghép. Không có biểu hiện lâm<br /> sàng ở 2 trường hợp và 1 trường hợp biểu hiện<br /> bằng tăng creatinine huyết thanh khi dùng<br /> thuốc ức chế men chuyển. Siêu âm Doppler là<br /> phương tiện tầm soát hiệu quả. Tất cả các<br /> trường hợp nghi ngờ hẹp động mạch thận có ý<br /> nghĩa huyết động trên siêu âm Doppler sẽ được<br /> chụp mạch máu thận để chẩn đoán xác định và<br /> can thiệp. Cả 3 trường hợp đã được đặt stent với<br /> chức năng thận ghép tốt.<br /> Theo Zilinska Z và cs, những yếu tố nguy cơ<br /> làm tăng tỷ lệ hẹp mạch máu sau ghép là tình<br /> trạng bất tương hợp khẩu kính mạch máu, tồn<br /> tại nhiều động mạch, xơ vữa động mạch hoặc<br /> do kỹ thuật may nối mạch máu(12). Siêu âm<br /> Doppler có thể phát hiện vị trí hẹp của động<br /> mạch hay tĩnh mạch dựa trên phổ tưới máu tại<br /> thận ghép và kháng lực mạch máu trong thận<br /> ghép. CT-Scan chỉ phát hiện vùng giảm đậm độ<br /> cản quang. Chính xác nhất vẫn là chụp động<br /> mạch có tiêm thuốc cản quang sẽ xác định vị trí<br /> chỗ hẹp, độ dài và mức độ hẹp để có chỉ định<br /> can thiệp như đặt Stent hay phẫu thuật(1)<br /> Cả 3 trường hợp hẹp động mạch thận ghép<br /> của chúng tôi xầy ra ở nhóm 1 động mạch<br /> (33BN) còn không có trường hợp nào trên nhóm<br /> 2 động mạch (9BN) với p > 0,05. Có thể do<br /> những trường hợp đầu tiên chúng tôi chưa có<br /> kinh nghiệm. Theo Eduardo.M thì không có sự<br /> khác biệt về biến chứng hẹp mạch máu thận<br /> ghép giữa hai nhóm 1 động mạch (9/292 bn<br /> 3,1%) và nhóm nhiều động mạch (2/64 bn 3,1%)<br /> với p>0,05(6).<br /> Biến chứng nhiễm trùng vết mổ: Ngày nay<br /> tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ chỉ còn 1% sau ghép<br /> nhờ điều kiện phẫu thuật vô trùng tại phòng mổ<br /> tốt, sự phát triển của kháng sinh, người nhận<br /> <br /> 463<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012<br /> <br /> thận được chăm sóc dinh dưỡng tốt(11)….<br /> Trường hợp nhiễm trùng vết mổ trong nghiên<br /> cứu do áp dụng protocol kháng sinh dự phòng<br /> của nước bạn (Bỉ) có lẽ không phù hợp với điều<br /> kiện khí hậu tại thành phố Hồ Chí Minh, chúng<br /> tôi đã sử dụng lại kháng sinh phổ rộng và bệnh<br /> nhân ổn định sau đó.<br /> Chúng tôi không gặp biến chứng<br /> Lymphocele. Theo y văn, tỷ lệ này chiếm<br /> khoảng 3,1% tùy từng trung tâm(6), thường xuất<br /> hiện vào tuần đầu sau ghép. Nguyên nhân do<br /> cột không hết các mạch bạch huyết che phủ lên<br /> mạch máu chậu. Tại bệnh viện Nhân Dân 115,<br /> chúng tôi cột một cách hệ thống các tổ chức<br /> quanh mạch máu vùng chậu khi phẫu tích mà<br /> không sử dụng dao điện đốt, mặt khác chỉ bộc<br /> lộ mạch máu chậu vừa đủ không bộc lộ quá dài<br /> mạch máu chậu nên tránh được biến chứng này.<br /> Biến chứng niệu khoa:<br /> + Xì dò, tụ nước tiểu quanh thận: trường<br /> hợp này là do hoại tử niệu quản gần bể thận,<br /> đây là trường hợp có đặt sonde JJ dự phòng<br /> ngay trong mổ. Phát hiện vào ngày thứ 10 sau<br /> mổ với triệu chứng sốt, đau ở vùng hố chậu<br /> phải nơi đặt thận ghép. Siêu âm và chụp CTScan phát hiện tụ dịch quanh thận. Bệnh nhân<br /> được mổ thám sát lần 1 vào ngày thứ 10 hậu<br /> ghép nhưng không phát hiện được chỗ xì dò,<br /> đặt lại dẫn lưu. Mổ lại lần 2 vào ngày thứ 14<br /> hậu ghép phát hiện hoại tử niệu quản gần bể<br /> thận. Chúng tôi tiến hành may lại lỗ thủng,<br /> thám sát thấy niệu quản vẫn tưới máu tốt. Sau<br /> mổ diễn tiến tốt, hết xì dò và rút dẫn lưu ổ mổ<br /> sau đó 3 ngày, sonde JJ rút sau 2 tuần.<br /> <br /> Do hoại tử niệu quản và sai sót kỹ thuật cắm<br /> niệu quản vào bàng quang. Hoại tử niệu quản<br /> thông thường do quá trình lấy thận không tuân<br /> thủ việc bảo quản lớp mỡ quanh niệu quản<br /> cũng như phần mỡ ở vùng cực dưới thận và bể<br /> thận, đây là nơi có mạch máu xuất phát từ<br /> nhánh động mạch thận nuôi niệu quản. Mặt<br /> khác tưới máu niệu quản không đảm bảo do lấy<br /> niệu quản quá dài.Tác giả Trần Ngọc Sinh cũng<br /> ghi nhận 4 trường hợp xì dò nước tiểu mà<br /> không chẩn đoán được vị trí xì dò trước khi mổ<br /> lại, chỉ sau khi mổ mới xác định vị trí và nguyên<br /> nhân xì dò là do thủng niệu quản nghĩ do sử<br /> dụng dao đốt điện một cực. Về sau sử dụng dao<br /> bipolar và cột cầm máu niệu quản bằng chỉ tan<br /> đã cải thiện biến chứng này(8).<br /> - Chúng tôi không gặp trường hợp nào xì dò<br /> tại vị trí cắm niệu quản vào bàng quang.Tại<br /> bệnh viện Nhân Dân 115 áp dụng kỹ thuật cắm<br /> niệu quản vào bàng quang với phương pháp<br /> Lich-Grégoir có cải biên về kỹ thuật may niệu<br /> quản vào bàng quang.. Kỹ thuật này cho phép<br /> không cần niệu quản dài nên bảo đảm tưới máu<br /> đầu niệu quản từ mạch máu thận ghép xuống<br /> tốt và tạo điều kiện lành chỗ thông nối được tốt<br /> và giảm biến chứng xì dò. Trường hợp thủng<br /> niệu quản của chúng tôi không rõ nguyên nhân,<br /> cũng có thể do sử dụng dao điện một cực hoặc<br /> do sử dụng sonde JJ mà đầu sonde JJ kích thích<br /> làm thủng niệu quản sát bể thận, tác giả Kumar<br /> A et al cũng ghi nhận(4).<br /> <br /> - Việc chẩn đoán xì dò niệu quản tương<br /> đối dễ dàng tuy nhiên xác định vị trí xì dò đôi<br /> khi gặp khó khăn. Theo Daniel Shoskes, siêu<br /> âm chỉ xác định có tụ dịch quanh thận, xạ<br /> hình thận có lợi trong việc đánh giá vị trí xì<br /> dò. Chụp bàng quang có bơm thuốc cản<br /> quang xác định được vị trí xì dò ở chỗ thông<br /> nối niệu quản-bàng quang(10).<br /> <br /> + Vấn đề bế tắc niệu quản và trào ngược<br /> bàng quang –niệu quản chúng tôi chưa gặp<br /> trường hợp nào. Việc đặt sonde JJ phòng ngừa<br /> biến chứng hẹp chỗ thông nối niệu quản vào<br /> bàng quang(8,4). Trong nghiên cứu này, ngay<br /> cả 20 /42 trường hợp không đặt sonde JJ cũng<br /> không ghi nhận có chít hẹp chỗ cắm niệu<br /> quản vào bàng quang hay trào ngược bàng<br /> quang-niệu quản. Tuy nhiên cần phải có<br /> nghiên cứu số lượng lớn và theo dõi lâu dài<br /> để đánh vấn đề này.<br /> <br /> - Nguyên nhân xì dò nước tiểu sau ghép<br /> thường:<br /> <br /> + Sử dụng liều Steroid sau ghép: Với việc<br /> phối hợp sử dụng 3 thuốc cho phép giảm nhanh<br /> <br /> 464<br /> <br /> Chuyên Đề Thận Niệu<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản