intTypePromotion=3

Biến đổi quan hệ dân tộc ở Việt Nam thời kỳ đổi mới và định hướng hoàn thiện chính sách dân tộc hiện nay

Chia sẻ: ViSamurai2711 ViSamurai2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

0
4
lượt xem
1
download

Biến đổi quan hệ dân tộc ở Việt Nam thời kỳ đổi mới và định hướng hoàn thiện chính sách dân tộc hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu này đánh giá thực trạng xu hướng biến đổi quan hệ dân tộc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay), từ đó, đề xuất giải pháp định hướng hoàn thiện chính sách dân tộc nhằm bảo đảm quyền bình đẳng, cơ hội phát triển của các dân tộc và xây dựng quan hệ dân tộc, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Biến đổi quan hệ dân tộc ở Việt Nam thời kỳ đổi mới và định hướng hoàn thiện chính sách dân tộc hiện nay

  1. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC BIẾN ĐỔI QUAN HỆ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC HIỆN NAY * Trương Minh Dục(1) Q uan hệ dân tộc/tộc người là quan hệ trong nội bộ từng dân tộc; quan hệ giữa các dân tộc anh em với nhau; quan hệ dân tộc xuyên quốc gia; quan hệ giữa dân tộc đa số với các dân tộc thiểu số; Quan hệ giữa các dân tộc với cộng đồng dân tộc/quốc gia thể hiện trên toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, tôn giáo - tín ngưỡng, v.v. Nghiên cứu này đánh giá thực trạng xu hướng biến đổi quan hệ dân tộc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay), từ đó, đề xuất giải pháp định hướng hoàn thiện chính sách dân tộc nhằm bảo đảm quyền bình đẳng, cơ hội phát triển của các dân tộc và xây dựng quan hệ dân tộc, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Từ khóa: Mối quan hệ dân tộc; dân tộc thiểu số; định hướng hoàn thiện chính sách dân tộc; biến đổi quan hệ dân tộc 1.Quan hệ tộc người nảy sinh từ cách trình thực hiện công tác tái định cư chưa chú trọng thức cư trú, địa bàn cư trú, di cư của các tộc đến phong tục và tập quán canh tác giữa nơi ở cũ người ở Việt Nam và nơi ở mới dẫn đến việc ổn định đời sống của bà Trong thời kỳ đổi mới ở vùng miền núi con gặp rất nhiều khó khăn. và vùng dân tộc thiểu số (DTTS) của nước ta đã Thứ hai, sau giải phóng (1975), một lực diễn ra quá trình di dân và tái định cư rầm rộ nhất lao động lớn từ miền bắc và vùng duyên hải trong lịch sử. miền trung được chuyển đến để khai thác tiềm Trước hết, là di dân, tái định cư để xây dựng năng kinh tế vùng Tây Nguyên và Đông Nam các công trình trọng điểm, các khu công nghiệp Bộ. Cùng với quá trình di dân theo kế hoạch là do yêu cầu phát triển kinh tế. Chẳng hạn, để thực những đợt di dân tự do của cư dân các tộc người hiện Dự án thủy điện Sơn La, một cuộc di dân, ở các tỉnh miền núi phía Bắc vào vùng này, tạo tái định cư lớn đại quy mô được thực hiện cho nên hình thái cư trú đan xen giữa cư dân các tộc 20.340 hộ, 92.301 nhân khẩu (chủ yếu là đồng bào người mới đến với các tộc người tại chỗ. Trong các dân tộc Thái, Mông, Dao). Trong đó, tỉnh Sơn vòng gần 40 năm, các tỉnh Tây Nguyên tiếp nhận La 12.584 hộ, 58.337 khẩu; tỉnh Điện Biên 4.459 một số lượng lớn dân cư với hơn 3 triệu người từ hộ, 17.010 khẩu; tỉnh Lai Châu 3.297 hộ, 16.954 nơi khác đến2 đã làm cho bức tranh quan hệ tộc khẩu. Theo Quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư 2. Theo số liệu thống kê, năm 1976, dân số Tây Nguyên là đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, cần phải 1.225.000 người, gồm 18 tộc người, trong đó đồng bào các DTTS là 853.820 người (chiếm 69,7% dân số); đến thời xây dựng 78 khu, 285 điểm, tái định cư xen ghép điểm ngày 1 - 4 – 2009, dân số Tây Nguyên (gồm năm tỉnh) vào 38 bản thuộc 17 xã và tái định cư tự nguyện; là 5.107.437 người, so với năm 1976 đã tăng 3,17 lần, chủ bố trí tái định cư cho 20.477 hộ (gồm số dân di yếu là tăng cơ học, trong đó người Kinh 3.309.836 người, chuyển thuộc Dự án di dân, tái định cư thủy điện chiếm 64,7%; các tộc người tại chỗ: 1.363.005 người, chiếm Sơn La và Dự án đường tránh ngập đường Mường 26,7%, các tộc người mới di cư đến: 393.415 người, chiếm 8,6%. Đến năm 2011, tổng dân số của năm tỉnh Tây Nguyên Lay- Nậm Nhùn, giai đoạn 1)1. Tuy nhiên, quá là khoảng 5.282.000 người. Nguồn: Trương Minh Dục (Chủ Theo Cổng Thông tin điện tử của Chính phủ, cập nhật ngày 1. nhiệm đề tài): Quan hệ tộc người ở Tây Nguyên trong thời kỳ 12-5-2015, 08:00 GMT+7 đổi mới (từ 1986 đến 2010), mã số IV5.2 – 2011.26. Ngày nhận bài: 14/7/2017; Ngày phản biện: 15/8/2017; Ngày duyệt đăng: 25/8/2017 (1) Học viện Chính trị khu vực III; e-mail: minhduc1952@yahoo.com.vn 3
  2. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC người giữa các cộng đồng tại chỗ với các cộng triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng DTTS5. đồng mới di cư đến trở nên đa dạng và phức tạp; Thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia, nạn phá rừng, tranh chấp đất đai đang là những cơ sở vật chất và hạ tầng vùng miền núi đã có vấn đề nổi cộm ở một số địa phương trong vùng3. bước phát triển, tạo điều kiện cho kinh tế - xã hội vùng núi ngày càng phát triển; đồng bào các Đến nay, ở hầu hết các địa phương miền tộc người từng bước chuyển sang sản xuất hàng núi Việt Nam trở thành địa bàn cư trú xen kẽ của hóa. Nhờ đó, nhiều hộ thoát nghèo, vươn lên làm nhiều tộc người. Một số tỉnh như Lai Châu, Lào giàu, đời sống vật chất, tinh thần của người dân Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang,… đã có có bước cải thiện. gần 40 tộc người cùng sinh sống; ở Tây Nguyên hiện có cư dân của hầu hết các tộc người trong cả Quá trình phát kinh tế theo cơ chế thị nước; thậm chí nhiều bản/làng đơn dân tộc ngày trường và sự tác động của quy luật phát triển xưa nay đã trở thành bản/làng của vài ba dân tộc4. không đều đã làm dãn cách thêm sự chênh lệch Hình thái cư trú xen kẽ giữa các tộc người ngày về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các càng tăng làm đậm thêm tính chất thống nhất hữu tộc người. Mặc dù đã tập trung nhiều nguồn lực cơ của các tộc người trên mọi mặt của đời sống xã để phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS nhưng hội. Tình trạng cư trú xen kẽ giữa các tộc người, do tài nguyên thiên nhiên nhiều vùng đã bị khai một mặt tạo điều kiện tăng cường hiểu biết nhau, thác cạn kiệt, do vốn đầu tư hạn hẹp, dân số tăng hòa hợp và xích lại gần nhau, nhưng mặt khác, nhanh, kết cấu hạ tầng và chất lượng nguồn nhân trong nhiều trường hợp do chênh lệch về trình độ lực thấp kém,… năng lực của chính quyền cơ sở phát triển, khác nhau về phong tục tập quán,… còn rất non yếu, đồng b̀́ ào DTTS thiếu kiến thức nên đã xuất hiện mâu thuẫn, tranh chấp trong một sản xuất, kinh doanh trong kinh tế thị trường, v.v.. số lợi ích, nhất là lợi ích kinh tế (trong phối hợp nên kinh tế - xã hội chậm phát triển, đời sống mọi chia sẻ, sử dụng các nguồn lực tự nhiên - xã hội) mặt của đồng bào các DTTS ở vùng sâu, vùng dẫn đến sự va chạm giữa cư dân thuộc các tộc xa, vùng căn cứ cách mạng chậm được cải thiện người cùng sống trên một địa bàn. so với miền xuôi, vùng đồng bằng, đô thị, vùng gần các trục giao thông. Ở nhiều vùng của các 2.Quan hệ tộc người trong lĩnh vực tộc người thiểu số, đời sống của đồng bào gặp kinh tế nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao, chênh lệch Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước mức sống vật chất giữa các tộc người thiểu số với đã có nhiều chủ trương, chính sách ưu đãi phát 5. Cụ thể như: Nghị quyết số 22 NQ/TW ngày 20 - 11 - 1989 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền 3. Do thiếu đất đai sản xuất cộng với những thiếu sót trong núi”. Quyết định số 72/HĐBT ngày 13-3-1990 của Hội đồng việc giải quyết đất đai ở vùng đồng bào các tộc người tại chỗ Bộ trưởng “Về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát nên tình trạng phá rừng, tranh chấp đất đai, gây mất ổn định triển kinh tế - xã hội miền núi”; các nghị quyết của Bộ Chính xã hội chưa được giải quyết dứt điểm. Theo thống kê về tình trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phát triển kinh tế hình an ninh nông thôn trong 10 năm (2001 - 2010) ở Tây xã hội và bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Tây Bắc, Tây Nguyên có 4.000 vụ khiếu kiện, trong đó có 2.000 vụ, chiếm Nguyên; Chỉ riêng 10 năm từ 2003 đến 2013, Quốc hội đã 50%, có liên quan đến đồng bào các tộc người tại chỗ và ban hành 38 luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các 1.000 vụ liên quan đến tranh chấp đất đai, vi phạm lâm luật, DTTS; Chính phủ đã xây dựng hệ thống văn bản quy phạm do các cơ quan, đơn vị giao đất, cho thuê đất giải quyết chưa pháp luật liên quan đến vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc, có hiệu quả chiếm nhiều nhất. (Tổng hợp từ báo cáo của Ban đã ban hành 160 văn bản quy phạm pháp luật gồm: 14 nghị Chỉ đạo Tây Nguyên (2011): Báo cáo tổng kết Nghị quyết định của Chính phủ, 40 quyết định của Thủ tướng Chính 10-NQ/TW ngày 18 - 1 - 2002 của Bộ Chính trị “Về phát phủ, 27 văn bản phê duyệt đề án; các bộ, ngành ban hành 51 triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh Tây văn bản và 26 thông tư liên tịch nhằm phát triển toàn diện Nguyên thời kỳ 2001 - 2010”, và các báo cáo về tình hình an kinh tế - xã hội vùng đồng bào các DTTS, xây dựng quan ninh nông thôn vùng Tây Nguyên hàng năm). hệ dân tộc “bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Nguồn: Ủy ban Dân tộc: “Báo cáo đánh giá 4. Theo số liệu của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, các tỉnh Tây và triển khai chính sách vùng dân tộc”, năm 2013. Dẫn lại: Nguyên có 722 đơn vị hành chính cấp xã (77 phường, 47 thị Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết trấn, 598 xã), với 7.768 điểm dân cư (thôn, buôn, làng, bon, Thông: Một số vấn đề lý luận – thực tiễn về chủ nghĩa xã tổ dân phố), trong đó có 2.764 thôn, buôn, bon, làng có đông hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 30 đồng bào các tộc người tại chỗ đang sinh sống. năm đổi mới, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 495,496. 4 Số 19 - Tháng 9 năm 2017
  3. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC dân tộc Kinh và Hoa tăng nhanh. Mặc dù, tỷ lệ Bên cạnh sự khởi sắc, thành công trong hộ nghèo toàn vùng Tây Bắc từ 34,41% vào thời xây dựng đời sống văn hóa các dân tộc, trong điểm cuối năm 2009, giảm xuống còn 18,26% quá trình phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường vào cuối năm 2014, bình quân giảm 3,91%/năm, trong sự phát triển văn hóa các dân tộc xuất hiện cao gần gấp đôi so với mức giảm tỉ lệ hộ nghèo một số vấn đề trong quan hệ văn hóa, giao lưu, chung toàn quốc trong cùng giai đoạn, tuy nhiên, tiếp biến văn hóa giữa các dân tộc. tỉ lệ hộ nghèo vùng Tây Bắc vẫn cao gấp 2,7 lần Trước hết là xu hướng “Kinh hóa” trong bình quân cả nước và có nguy cơ khoảng cách giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các dân tộc thiểu này ngày càng gia tăng. Cụ thể, tỷ lệ hộ nghèo số và dân tộc Kinh, nhất là trong bối cảnh các dân tại Hà Giang là 23,21%, Cao Bằng: 20,55%, tộc thiểu số và dân tộc Kinh cư trú ngày càng đan Yên Bái: 20,57%, Sơn La: 23,94%, Điện Biên: xen và nền kinh tế thị trường đang thống nhất 32,57% và Lai Châu: 23,48% 6. dần cách sản xuất cũng như cách tiêu dùng hàng Ở vùng Tây Nguyên, chỉ tính từ năm 2011 hóa giữa các dân tộc. Ngày càng có nhiều người đến 2014, GDP bình quân đầu người/năm tăng từ DTTS nhất là lớp trẻ, ăn mặc, ở, tiêu dùng,..., 22,76 triệu đồng năm 2010 lên 32,2 triệu đồng sống theo lối sống của người Kinh và lẽ đương năm 2014; tỷ lệ đói nghèo ở Tây Nguyên giảm nhiên, tâm thức, ý thức tộc người của họ cũng có đáng kể: năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo 8,92%, đến thể không còn sâu đậm như trước đây. năm 2014 còn 11,22%; vùng đồng bào các DTTS Hai là, một số dân tộc thiểu số có thể quan giảm từ 47,8% xuống 19,9% và cơ bản giải quyết sát được sự mai một của nhiều giá trị văn hóa dân được tình trạng thiếu đói7, nhưng sự phân hoá tộc như một số phong tục, tập quán, lễ hội, kiến giàu nghèo cũng rất phức tạp: số hộ nghèo vùng trúc, trang phục, một số thiết chế văn hóa truyền Tây Nguyên đến thời điểm năm 2010 là 262.880 thống, ngôn ngữ dân tộc. hộ, chiếm tỷ lệ 22,48%, trong đó tỷ lệ hộ nghèo Ngôn ngữ, tiếng nói là một tiêu chí quan trong đồng bào các DTTS là 45%, tỷ lệ cận nghèo trọng để xác định thành phần tộc người và đồng 7,51%8. thời là một thành tố cơ bản của văn hóa, nhưng 3.Quan hệ tộc người trong lĩnh vực hiện nay là nhiều tộc người có nguy cơ bị mất văn hóa tiếng mẹ đẻ (đồng bào dân tộc Bố Y ở Lào Cai Văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống hầu như không còn nhớ tiếng mẹ đẻ, đã chuyển nhất trong đa dạng, trong đó, mỗi dân tộc có một sang nói tiếng Quan hỏa, còn người Bố Y ở Hà nền văn hóa mang những giá trị và bản sắc riêng Giang lại chủ yếu nói tiếng Giáy và tiếng Tày; từ lâu đời, phản ánh lịch sử truyền thống của từng hay người Phù Lá không nói được tiếng mẹ đẻ dân tộc. Sự phát triển đa dạng bản sắc văn hoá và cũng chuyển sang sử dụng tiếng Quan hỏa; của từng dân tộc càng làm phong phú thêm nền tương tự như vậy, người Cờ Lao đỏ ở Hà Giang văn hoá chung của cả cộng đồng các dân tộc Việt cũng không còn nói được tiếng mẹ đẻ; các dân Nam. Quá trình đổi mới cũng chính là quá trình tộc Kháng, La Ha, Xinh Mun… ở vùng Tây Bắc xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam đáp ứng chủ yếu sử dụng ngôn ngữ Thái trong giao dịch; các nhu cầu văn hoá tinh thần ngày càng đa dạng, ngôn ngữ mẹ đẻ của dân tộc La Ha chỉ còn một phong phú, cao về cấp độ, rộng về biên độ,... số từ vựng cơ bản trong các bài cúng cổ; ngay các cũng như đáp ứng các nhu cầu phát triển văn hóa bài hát dân ca của người Kháng, người Xinh Mun của từng dân tộc anh em. Vì vậy, có thể nói rằng hiện nay cũng có tới 70 - 80% là tiếng Thái,...). chưa bao giờ đời sống văn hóa các dân tộc Việt Các thành tố văn hóa khác như trang phục, Nam lại “trăm hoa khoe sắc” đa dạng, phong phú kiến trúc, phong tục tập quán, lễ hội… của các như ngày nay. tộc người cũng mai một nghiêm trọng. Ở vùng Tây Bắc hiện nay rất khó phân biệt kiến trúc, lễ 6. Báo Lao động, số 291, thứ Tư, ngày 16-12-2015. hội, nghi lễ tín ngưỡng của người Kháng, người 7. Dân trí, cập nhật thứ Năm, ngày 17-12-2015, 7:20 La Ha, người Xinh Mun với người Thái,v.v. Sự 8. Ban Chỉ đạo Tây Nguyên: Báo cáo tổng kết Nghị quyết biến đổi của văn hóa các tộc đã làm cho một số 10- NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội tộc người mất dần bản sắc văn hóa của mình. và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001 – 2010, Tlđd, tr.15. Ba là, cùng với sự mai một của các giá trị Số 19 - Tháng 9 năm 2017 5
  4. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC văn hóa dân tộc, tâm lý tiêu dùng và tâm lý tự ti lượng giáo dục và đào tạo. Nhờ đó đến nay, 100% dân tộc đang có chiều hướng gia tăng trong bối số xã đặc biệt khó khăn có trường tiểu học, nhà cảnh tác động mạnh của kinh tế thị trường và quá mẫu giáo; tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường trình giao lưu văn hóa. cao9. Các DTTS ở nước ta, trừ người Hoa, đều Tuy nhiên, cho đến nay chất lượng giáo đang ở trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp dục - đào tạo ở các vùng miền núi rất thấp. Ở nên một bộ phận đã hoài nghi, thậm chí là tự ti về vùng DTTS tỷ lệ trẻ em đến trường ở bậc tiểu truyền thống của tộc người mình. học chỉ đạt khoảng 80% và bậc trung học cơ sở Kinh tế thị trường là miếng đất dung dưỡng là 77%. Tỷ lệ học sinh bỏ học ở các vùng miền cho tâm lý tiêu dùng vật chất dẫn tới thái độ chối núi đặc biệt khó khăn cũng cao hơn so với các bỏ những giá trị truyền thống. Người dân các tộc vùng đồng bằng và các đô thị (ở đồng bằng sông thiểu số (nhất là giới trẻ) tỏ ra thích nghi nhanh Hồng, tỷ lệ học sinh bỏ học tính chung là 2,96%, với đời sống vật chất tiện nghi, ăn ngon, mặc đẹp trong khi tỷ lệ tương ứng ở khu vực Tây Bắc là hơn, ở tốt hơn (theo như người Kinh), bỏ xa dần 6,91%, Tây Nguyên là 7,16%, đồng bằng sông trang phục và nhà ở truyền thống. Cửu Long là 12,64%). Bên cạnh đó, số trẻ em gái trong độ tuổi được đi học ở các vùng này cũng Văn hóa của phần lớn các DTTS Việt Nam còn rất thấp. Đặc biệt ở các vùng núi cao nơi một thường gắn với không gian rừng. Rừng không số dân tộc thiểu số sinh sống chỉ có từ 10 - 15% chỉ thích hợp cho tính huyền thoại của văn hóa số em gái được đến trường. Theo nhóm dân tộc truyền thống các DTTS mà còn là nguồn sống, thì số trẻ em gái mù chữ người Mông là 90%, Hà nguồn cung cấp cho họ nguyên liệu để dựng nhà Nhì 89%, Gia Rai 83%, Ba Na 82%,... ở, nhà sàn, nhà rông, nhà dài,… nhưng “không gian rừng” này đã bị hủy hoại, tàn phá nghiêm Ở cấp đào tạo chuyên môn nghề nghiệp ở trọng, thậm chí là không còn ở một số vùng vùng miền núi rất thấp. Chẳng hạn, một nghiên DTTS. Trong khi đó, thông qua các phương tiện cứu gần đây cho thấy, dân tộc Kinh với 86% dân truyền thông đại chúng, đồng bào các DTTS, nhất số, nhưng chiếm tới 96,74% số lượng trí thức khoa là giới trẻ, đã có nhiều cơ hội tiếp xúc với nhiều học xã hội và nhân văn cả nước, các DTTS với loại hình văn hóa, nghệ thuật, văn minh, hiện đại 14% dân số nhưng chỉ chiếm 3,26%10. Điều này từ bên ngoài và trong đó không chỉ toàn những nêu lên thực trạng chung về sự phát triển chênh cái tích cực. Một số trong đó đã bị cuốn theo trào lệch… giữa dân tộc Kinh và các DTTS. Chẳng lưu hiện đại hóa và xa dần gốc rễ của mình. Hiện hạn, đến nay, trong 5.400 trí thức tỉnh Đắk Nông, tượng các DTTS không hiểu và không yêu các 9. Cụ thể như: Đề án kiên cố hóa trường, lớp học và nhà nhạc cụ dân tộc truyền thống, trường ca, sử thi,... công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008 – 2012; Đề án củng có xu hướng ngày càng tăng. cố và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú Việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa giai đoạn 2011-2015; Đề án tăng cường đầu tư xây dựng ở mỗi tỉnh có ít nhất 1 trường phổ thông dân tộc nội trú cấp các DTTS từ chủ trương chính sách cho đến thực tỉnh và một số trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện, hiện vẫn còn nhiều khoảng cách mà nguyên nhân trường phổ thông dân tộc bán trú nhằm thu hút được tất cả là chưa có sự đồng thuận giữa những chủ thể văn trẻ trong độ tuổi đến trường; Quyết định ban hành một số hóa, trong đó chủ yếu sự “vênh” giữa nhu cầu chính sách hỗ trợ học sinh bán trú và trường phổ thông dân thực tế của người dân với sự sáng suốt trong các tộc bán trú, các chính sách ưu tiên cho phát triển giáo dục dân tộc; Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 của quyết định của những người lãnh đạo và giá trị Thủ tướng Chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, khoa học trong các khuyến nghị của các chuyên chữ viết của DTTS trong các cơ sở giáo dục phổ thông và gia văn hóa. trung tâm giáo dục thường xuyên; Quyết định số 2123/QĐ- TTg ngày 22/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 4.Quan hệ tộc người trên các lĩnh vực Đề án Phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai xã hội đoạn 2010-2015; Thực hiện công bằng trong xã hội và một - Về giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực. số chính sách miễn, giảm học phí, cấp học bổng, cho vay đi Trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước học, v.v. 10. Trần Thị Nhẹn, Bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực giáo dục đã có nhiều chính sách hỗ trợ ở vùng dân tộc và và đào tạo ở nước ta hiện nay, Trường Đại học Khoa học xã miền núi nhằm mở rộng quy mô và nâng cao chất hội và Nhân văn Hà Nội, 2009. 6 Số 19 - Tháng 9 năm 2017
  5. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC chiếm 2,6% trên tổng số lao động trong độ tuổi lao đặc biệt thấp: vùng Tây Bắc mới đạt 37,4%, Tây động toàn tỉnh, người DTTS chỉ chiếm 2,7%. Nguyên 46,3%; tại 61 huyện nghèo nhất nước, tỷ Nguồn nhân lực lao động người DTTS rất lệ trạm y tế cơ sở có bác sĩ mới đạt 34,5% (trên thiếu và yếu. Trình độ chuyên môn của lực lượng toàn quốc tính chung mới đạt 65,9%)12. lao động trong độ tuổi ở một số vùng DT&MN Nhiều DTTS đang gặp các vấn đề liên rất thấp, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động chưa quan đến sức khỏe do hệ thống y tế cơ sở không được đào tạo ở các vùng các DTTS: Tây Nguyên bảo đảm, tỉ lệ tử vong cao; nguy cơ suy thoái và vùng đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ lao giống nòi do quan hệ cận huyết13, dẫn đến chất động trong độ tuổi chưa qua đào tạo cao nhất lượng dân số thấp, sức khỏe yếu, bệnh tật nhiều trong cả nước (trên 90%), Tỷ trọng dân số đã qua đang đe dọa sự phát triển một cách bền vững... đào tạo của các nhóm DTTS ở các bậc sơ cấp, Ở các vùng dân tộc miền núi tỷ lệ tử vong mẹ trung cấp, cao đẳng và đại học thấp, trong đó tốt thường cao hơn rất nhiều so với khu vực đô thị nghiệp cao đẳng, đại học rất thấp: Thái - 1,6%; - đồng bằng. Chẳng hạn, một nghiên cứu ở vùng Mường 2,0%, Khmer 1,0%; Mông - 0,3%, các Tây Nguyên cho thấy tỷ lệ phụ nữ đi khám thai DTTS khác cũng chỉ đạt 1,5%11. là 70% nhưng chỉ có 42% là khám đủ 3 lần theo Như vậy, mặc dù đã có nhiều chính sách như khuyến nghị của Bộ Y tế; 19% số phụ nữ ưu tiên phát triển nhưng đến nay so với dân tộc cho rằng khám thai là không cần thiết và 16% Kinh, chất lượng nguồn nhân lực các DTTS vừa không biết gì về khám thai; 64% bà mẹ sinh con phân bố không đều, lại vừa rất thiếu về lượng, tại nhà.14 Suy dinh dưỡng trẻ em còn khá phổ biến yếu về chất chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của ở vùng đồng bào DTTS - đang là vấn đề bức xúc các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong bối cảnh của Việt Nam. phát triển hiện nay. Nhu cầu khám chữa bệnh của người DTTS - Trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe rất lớn nhưng khả năng tiếp cận và sử dụng các nhân dân. Việc khám, chữa bệnh cho đồng bào dịch vụ y tế của họ còn rất hạn chế nên tình trạng các tộc người vùng sâu, vùng xa được Đảng và khá nhiều địa phương miền núi không sử dụng Nhà nước quan tâm hơn: Đến nay, gần 100% số hết kinh phí khám chữa bệnh cho người nghèo xã có cán bộ y tế trực; 93,5% số xã có trạm y tế; các DTTS. Thông thường các dịch vụ y tế ở vùng hơn 95% trẻ em được tiêm chủng theo Chương dân tộc - miền núi có chất lượng thấp hơn: nhiều trình tiêm chủng mở rộng,... các loại bệnh dịch cơ tỉnh, huyện miền núi không có hoặc không sử bản được ngăn chặn và từng bước đẩy lùi,... Các 12. Lê Duy Sớm, Thực trạng mạng lưới y tế về chăm sóc sức chính sách về công tác y tế thôn, bản, công tác khỏe sinh sản ở Việt Nam, https://www.dangcongsan.vn, cập chăm sóc sức khỏe ban đầu, chính sách bảo hiểm nhật ngày 9/11/2011 y tế miễn phí cho người nghèo và người dân tộc 13. Hôn nhân cận huyết thống của các DTTS ở Việt Nam thiểu số, đầu tư phát triển mạng lưới y tế cơ sở, bao gồm: Hôn nhân anh chị em họ chéo (tức hôn nhân con cô con cậu): Con cô con cậu lấy nhau, có thể là con gái cô phát triển đội ngũ y, bác sỹ công tác ở các cơ sở lấy con trai cậu, hoặc con gái cậu lấy con trai cô; Hôn nhân vùng miền núi, vùng DTTS,v.v... được quan tâm. anh chị em họ song song tức hôn nhân con gì - con già và Tuy nhiên, hệ thống y tế và chăm sóc sức (hôn nhân con chú - con bác). Một biểu hiện rõ nét của hôn nhân cận huyết thống ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên khỏe cùng với đội ngũ cán bộ y tế vùng miền núi, là hôn nhân con cô con cậu. Đây là hình thức hôn nhân giữa vùng DTTS còn thiếu và yếu nhiều mặt, chưa đảm con của anh hoặc em trai với con của chị hoặc em gái. Hiện bảo về quy mô cũng như khả năng khám chữa tượng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống còn phổ biến ở bệnh, nhất là những loại bệnh khó. Tỷ lệ trạm y tế nhiều dân tộc, đặc biệt là một số dân tộc vùng cao, vùng sâu cơ sở (xã, phường) có bác sĩ ở các vùng miền núi như Lô Lô, Hà Nhì, Phù Lá, Chứt, Ê đê, Chu Ru. Đặc biệt là các dân tộc Si La (Điện Biên, Lai Châu), Lô Lô, Pu Péo (Hà 11. Ủy ban Dân tộc – UNDP, Trần Thị Hạnh, Phạm Văn Giang), Rơ Mâm, Brâu (Kon Tum) là những dân tộc dưới Hùng, Nguyễn Cao Thịnh, Hà Quang Khuê, Lò Giàng Páo, 1.000 dân đang có nguy cơ suy giảm do tình trạng hôn nhân Đặng Văn Thuận, Trần Trung Hiếu: “Nghiên cứu thực trạng cận huyết (Xem:“Hôn nhân cận huyết thống: Nguyên nhân nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số và đề xuất các giải làm suy giảm sức khỏe”, https://www.benhvienleloi.com.vn/, pháp phát triển nguồn nhân lực vùng DT& MN” thuộc Dự cập nhật ngày 25/03/2010). án VIE02/001 – SEDEMA & EMPCD: “Tăng cường năng 14. Nguyễn Thị Phương Hòa, Sử dụng dịch vụ chăm sóc trước lực cho Ủy ban Dân tộc xây dựng thực hiện và giám sát sinh của phụ nữ dân tộc ở Tây Nguyên, Tạp chí Thông tin Y chính sách dân tộc”. Hà Nội, tháng 11/2010. Dược, số tháng 7/2008 Số 19 - Tháng 9 năm 2017 7
  6. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC dụng được các thiết bị chẩn đoán, điều trị hiện đại giáo được đề cập trong Hiến pháp, trong Bộ luật cũng như không thực hiện được các phẫu thuật Dân sự, được bảo vệ bằng hệ thống pháp luật với phức tạp, chi phí cao, v.v... Rõ ràng, chất lượng mức độ ngày càng cao hơn, hoàn thiện hơn. Pháp các dịch vụ y tế do hệ thống y tế vùng dân tộc lệnh tín ngưỡng, tôn giáo do Ủy ban Thường vụ miền núi cung cấp, nhất là tuyến xã, là còn thấp, Quốc hội khoá XI thông qua ngày 18/6/2004 tiếp năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế tục khẳng định nguyên tắc nhất quán trong chủ ở đây còn nhiều hạn chế,... là những thách thức trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt không nhỏ trong công tác chăm sóc sức khỏe cho Nam tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo và được đồng bào các DTTS. thể hiện sống động trong cuộc sống hàng ngày. 5.Quan hệ tộc người trong lĩnh vực tôn Bên cạnh những thành công tích cực, quá giáo, tín ngưỡng trình thực thi chính sách tôn giáo và tín ngưỡng thời gian qua cũng đối mặt với những vấn đề khá Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng và phức tạp, những nhược điểm ít nhiều tác động tôn giáo. Các tộc người đều có những hình thức tiêu cực đến quan hệ dân tộc trong bối cảnh kinh tín ngưỡng truyền thống của mình và có một bộ tế thị trường, nhất là khi vấn đề tôn giáo - dân tộc phận đồng bào các DTTS theo các loại tôn giáo đã bị các thế lực thù địch lợi dụng nhằm những khác nhau. Đồng bào các tộc người có truyền mục tiêu chống phá Đảng và Nhà nước ta. Sự thống tín ngưỡng nguyên thủy đa thần với quan phát triển của Tin lành “Đềga”, Tin lành “Vàng niệm vạn vật hữu linh hoặc thờ cúng tổ tiên. Khi Chứ”, Tin lành “Thìn Hùng” dẫn đến những bất các tôn giáo bên ngoài thâm nhập vào đồng bào ổn chính trị - xã hội ở Tây Bắc, Tây Nguyên cho các dân tộc hình thành nên các cộng đồng tôn thấy sự yếu kém hệ thống chính trị cơ sở trong giáo, như: cộng đồng dân tộc Khmer theo Phật vùng các DTTS. giáo Nam tông với trên 1 triệu tín đồ và 433 ngôi chùa Khmer; cộng đồng người Chăm với khoảng Vấn đề dân tộc/tộc người thường gắn với gần 100 nghìn người theo Hồi giáo (trong đó số vấn đề tôn giáo vì mặt bằng dân trí, trình độ nhận người theo Hồi giáo chính thống - là 25.703 tín thức của người dân, của cán bộ, đảng viên còn đồ, Hồi giáo không chính thống là 39.228 tín đồ, nhiều bất cập, hạn chế. Bằng nhiều thủ đoạn, trực 30 nghìn người theo đạo Bàlamôn); cộng đồng tiếp và gián tiếp, lừa bịp và mị dân, xuyên tạc và các DTTS ở Tây Nguyên theo Công giáo với gần bịa đặt, cưỡng ép và đe dọa, bằng sự mê hoặc 300 nghìn người và gần 400 nghìn người theo của giáo lý, ở một số vùng DTTS kẻ địch đã lợi đạo Tin lành; cộng đồng DTTS ở Tây Bắc theo dụng tôn giáo để lôi kéo, chia rẽ giữa đồng bào Công giáo có khoảng 38 nghìn người; khoảng với nhau, giữa người Kinh và các tộc người thiểu 20 năm trở lại đây có đến trên 100 nghìn người số, làm tha hóa một số cán bộ, đảng viên, thậm Mông theo Tin lành (dưới tên gọi Vàng Chứ) và chí gây chia rẽ, phân hóa ngay trong gia đình, họ hơn 10 nghìn người Dao theo Tin lành (dưới tên hàng và trong cộng đồng một dân tộc, giữa các gọi Thìn Hùng),... Đa số người dân Việt Nam tuy dân tộc, giữa người theo đạo và không theo đạo. không phải là tín đồ đúng nghĩa nhưng họ cũng Các thế lực thù địch thường lợi dụng tôn giáo và thường đi đến các địa điểm tôn giáo - tín ngưỡng sự hiểu biết hạn chế của đồng bào các DTTS để vài lần trong một năm để tham gia vào các hoạt xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà động lễ hội có tính chất tôn giáo - tín ngưỡng15. nước, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo, quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền ở cơ sở. Trên địa Chính sách nhất quán, xuyên suốt của bàn có đông người Mông sinh sống, chúng lấy lý Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng quyền do “Người Mông không có Tổ quốc” xúi giục, lôi tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các dân tộc trên kéo người Mông di cư, có lúc ồ ạt trong nội bộ tinh thần đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc. Điều các tỉnh biên giới, đi Tây Nguyên, sang Lào,… này thể hiện bằng một hệ thống chính sách và làm cho tình hình an ninh chính trị trên địa bàn hoạt động quản lý phù hợp. Tự do tín ngưỡng, tôn có lúc diễn biến phức tạp. Chúng lợi dụng vấn đề dân tộc - tôn giáo kích động, lôi kéo những người Người Việt Nam được cho là ít có tinh thần tôn giáo; các 15. nhẹ dạ, cả tin, tụ tập, gây rối an ninh trật tự tại tôn giáo - tín ngưỡng Việt Nam thường được chú trọng ở mặt thờ cúng, còn mặt giáo lý, tinh thần thì lại ít được quan tâm. một số địa phương miền núi, dựng lên cái gọi là 8 Số 19 - Tháng 9 năm 2017
  7. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC “nhà nước Đềga”, “vương quốc Mông”. các hoạt động chính trị, các sinh hoạt chính trị vùng dân tộc, miền núi vẫn mang nhiều tính hình 6.Quan hệ tộc người trong đời sống thức do nhận thức chính trị của đồng bào các tộc chính trị người thiểu số chưa cao và hệ thống chính trị Là một quốc gia có nhiều tộc người, Đảng vùng dân tộc miền núi, nhất là ở cơ sở hoạt động và Nhà nước ta luôn quan tâm đến quyền chính trị chưa hiệu quả. Trình độ, năng lực của đội ngũ của các tộc người, nhất là tộc người thiểu số và đã cán bộ các DTTS còn yếu về nhiều mặt. Trong có nhiều chính sách đảm bảo điều này. Đó là các khi đó, ở nhiều vùng, nguồn cán bộ dân tộc thiểu chính sách bảo đảm quyền bầu cử, ứng cử; quyền số tại chỗ thiếu hụt trong một thời gian dài. Đây tham gia quản lý nhà nước và xã hội; quyền tự do là nguyên nhân chủ yếu làm nảy sinh nhiều hiện ngôn luận, báo chí và thông tin; quyền tự do hội tượng tiêu cực trong đời sống như truyền bá mê họp, lập hội; quyền tự do tín ngưỡng; quyền bình tín dị đoan, lôi kéo đồng bào tham gia các hoạt đẳng nam nữ, v.v... Việt Nam đang xây dựng nhà động tôn giáo bất hợp pháp, kích động các hoạt nước pháp quyền XHCN - một nhà nước mà ở động chống đối chính quyền, gieo giắc các định đó các quyền con người nói chung, quyền chính kiến và tâm lý thù hằn giữa các dân tộc. trị của các DTTS nói riêng, được tôn trọng và Như vậy, dưới tác động của chính sách đổi bảo vệ. Điều 10 Luật Bầu cử Việt Nam quy định: mới nói chung và chính sách dân tộc nói riêng, “Số đại biểu Quốc hội là người DTTS do Uỷ ban các DTTS tuy có sự phát triển về mọi mặt, nhưng thường vụ Quốc hội dự kiến theo đề nghị của Hội so với vùng đồng bằng và vùng đã phát triển đồng dân tộc của Quốc hội, bảo đảm để các thành tương đối khá thì miền núi và vùng các DTTS phần DTTS có số đại biểu thích đáng”. Thực hiện còn là vùng khó khăn nhất. Tỷ lệ nghèo ở vùng quy định này trong nhiều nhiệm kỳ qua, tỷ lệ đại DTTS còn cao so với mặt bằng chung cả nước. biểu thuộc DTTS luôn luôn cao hơn tỷ lệ dân số. Trình độ dân trí còn thấp, số người mù chữ còn Nhiệm kỳ khóa XI, số đại biểu là người DTTS, nhiều, mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào ở chiếm 17,2%; nhiệm kỳ khóa XII, chiếm 17,6%; một số vùng DTTS còn thấp. Việc chăm sóc sức nhiệm kỳ khóa XIII, chiếm 15,60%, trong khi đó, khoẻ cho đồng bào vùng DTTS còn hạn chế. tỷ lệ 53 DTTS chỉ chiếm 13% dân số Việt Nam. Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã Hệ thống chính trị ở các vùng dân tộc và hội trong vùng đồng bào các DTTS còn tiềm ẩn miền núi bước đầu được tăng cường và củng cố, những nhân tố gây mất ổn định. Vẫn còn nhiều trong hệ thống chính trị này đội ngũ cán bộ DTTS kẽ hở cho các thế lực thù địch dễ lợi dụng vấn đề được quan tâm xây dựng, đã có bước trưởng thành dân tộc để “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn lật với tỷ lệ cán bộ DTTS trong hệ thống chính trị đổ chống phá cách mạng Việt Nam. các cấp ngày càng cao. Hàng vạn sinh viên DTTS Thực trạng tình hình quan hệ dân tộc như được đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên trên, do các nguyên nhân sau: nghiệp (theo chế độ cử tuyển hoặc các chế độ đào tạo khác) đã tạo nguồn cán bộ DTTS ngày càng - Về phía chủ quan, chính sách dân tộc của dồi dào để tham gia vào hệ thống chính trị vùng Đảng và Nhà nước, bên cạnh ưu điểm, tích cực, dân tộc và miền núi khi có điều kiện. Hệ thống còn bộc lộ những khiếm khuyết, chưa phù hợp trường phổ thông dân tộc nội trú16, các trường dự với thực tiễn, ảnh hưởng đến quan hệ tộc người. bị đại học dân tộc, các lớp mở riêng cho con em Chính sách di dân xây dựng vùng kinh tế dân tộc ít người, các trường đại học, trung học mới, chính sách xử lý vấn đề di dân tự do còn chuyên nghiệp ở Việt Bắc, Tây Nguyên, Nam nhiều chậm trễ, bất cập. Chủ trương phát triển Bộ… đã là nguồn đào tạo cán bộ rất quan trọng các nông, lâm trường quốc doanh trong thập niên cho các vùng dân tộc và miền núi. 1980; khai thác tài nguyên khoáng sản; di dân tái Tuy nhiên, sự tham gia của người dân vào định cư để xây dựng các đập thủy điện do không tính đến yếu tố tâm lý, văn hóa, lịch sử truyền 16. Hiện có 50 trường nội trú cấp tỉnh, gần 300 trường nội trú thống, quan hệ xã hội, kinh tế của đồng bào các cấp huyện với hàng vạn con em đồng bào DTTS được Nhà tộc người tại chỗ (như sở hữu đất rừng, quản lý nước nuôi, dạy hoàn toàn miễn phí. Đây là một cố gắng lớn xã hội bằng luật tục, hay tập quán pháp) nên đã đối với một quốc gia còn nghèo, là một chính sách hiếm có trên thế giới. để lại hậu quả nghiêm trọng trong quan hệ tộc Số 19 - Tháng 9 năm 2017 9
  8. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC người mà cho đến nay không dễ khắc phục một sách khi xây dựng và ban hành chưa dựa trên đặc sớm, một chiều. thù kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng DTTS và Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, các miền núi, thiếu sự tham gia của cộng đồng; không chính sách thật sự phù hợp với từng dân tộc và tính đến khả năng duy trì hiệu quả của chính sách vùng miền. Chẳng hạn, chính sách đào tạo và sử sau khi kết thúc. Vì vậy, khi cụ thể hóa chính sách dụng cán bộ cho các DTTS theo chế độ cử tuyển vào điều kiện cho từng vùng, từng DTTS thì hiệu sẽ không thể nào tạo được một đội ngũ trí thức quả không cao (chính sách định canh, định cư, người DTTS xứng tầm vì chất lượng đào tạo hạn chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng…). chế, nhiều học sinh, sinh viên các DTTS được Việc nghiên cứu, tổ chức xây dựng và ban đào tạo về không được tiếp nhận làm việc, gây hành chính sách có tính chiến lược và đặc thù cho lãng phí tiền của Nhà nước và nhân dân. vùng các tộc người và miền núi thường rất chậm; Hệ thống chính sách ban hành rất nhiều, một số văn bản hướng dẫn thực hiện các chủ nhưng nguồn lực thiếu, đầu tư dàn trải, phân trương, chính sách chưa kịp thời, một số nội dung tán, trùng lắp về nội dung, nhiều đầu mối quản chính sách có lúc còn chưa phù hợp với thực tế lý; thiếu đồng bộ từ khâu xây dựng đến tổ chức địa phương; sự phối hợp để tham mưu xây dựng thực hiện chính sách, nội dung chính sách không chính sách, chỉ đạo triển khai chính sách, kiểm tra còn phù hợp với tình hình hiện nay, nhưng chậm giám sát việc thực hiện chính sách còn hạn chế; nghiên cứu bổ sung, sửa đổi. Hệ thống chính chất lượng chính sách chưa cao. sách ban hành khá nhiều và tập trung cho vùng Chính sách ban hành nhiều, mang tính dân tộc và miền núi trên các lĩnh vực (về kinh nhiệm kỳ, còn chồng chéo về nội dung, quản lý tế, xã hội...), nhưng sự lồng ghép các chính sách thực hiện, đối tượng và địa bàn thụ hưởng; các để tập trung thực hiện trên cùng địa bàn còn hạn chính sách hầu hết mang tính hỗ trợ, chưa có chế, chưa phát huy được hiệu quả tổng thể của chính sách đầu tư trọng điểm, dài hạn, nên chính chính sách; chưa đủ mạnh để tạo động lực thúc sách chưa bền vững và hiệu quả chưa cao. Nhiều đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương cũng chính sách đề ra mục tiêu kỳ vọng lớn, song như vùng các DTTS và miền núi. Nội dung hệ nguồn lực về vốn không đáp ứng, nên kéo dài thống chính sách chồng chéo, trùng lắp, chưa thời gian thực hiện, hiệu quả thấp, thậm chí gây phát huy hết tiềm năng, lợi thế và phù hợp với lãng phí. Công tác phối hợp còn hạn chế; công đặc điểm của từng vùng, từng dân tộc17. Ngoài tác quản lý có mặt còn chồng chéo; công tác phối ra, một số chính sách thực hiện trong thời gian hợp, lồng ghép các nguồn vốn còn bất cập; việc dài, có những chính sách mang tính bao cấp cho kiểm tra, giám sát, rà soát đánh giá việc thực hiện không, không còn phù hợp nhưng chậm tổng kết chính sách chưa kịp thời, không thường xuyên... đánh giá, sửa đổi bổ sung đã không phát huy hiệu - Về quản lý nhà nước, các văn bản quy quả và nội lực của chính sách, ý thức tự giác của phạm pháp luật này nhìn chung còn rời rạc, chồng một bộ phận đồng bào DTTS giảm sút. chéo, độ ổn định chưa cao, nhiều cấp độ pháp lý Một số chính sách ban hành không gắn với khác nhau và ít nhiều đều chứa đựng những điểm việc quy hoạch tổng thể của các địa phương mà “vênh” với đời sống thực tế. Đến nay ở nước ta chỉ có tính chất giải quyết tình thế, áp đặt chủ vẫn chưa có một văn bản ở tầm một Bộ luật về quan chưa gắn vấn đề phát triển kinh tế với việc dân tộc thiểu số, mà ở đó qui định một cách bao giải quyết các vấn đề xã hội, hạn chế hiệu quả quát, đồng bộ, tạo hành lang pháp lý ổn định lâu chính sách (di dân tái định cư, quy hoạch sắp xếp dài làm cơ sở pháp luật thống nhất cho việc triển dân cư, các dự án về phát triển bảo tồn một số tộc khai thực hiện chính sách đối với các dân tộc người có số dân ít…). Mặt khác, một số chính thiểu số của Đảng và Nhà nước. 17. Ví dụ, chính sách định canh, định cư theo các Quyết định - Một số DTTS chưa tranh thủ những cơ 193/2006/QĐ-TTg và Quyết định 33/2007/QĐ-TTg, mục hội thuận lợi mà Đảng và Nhà nước dành cho họ. tiêu đưa ra lớn, nhưng nguồn lực đầu tư thiếu, chính sách Tâm lý thụ động, trông chờ vào sự hỗ trợ giúp đỡ đầu tư cơ sở hạ tầng, chính sách quản lý, bảo vệ rừng và giao của Nhà nước và từ bên ngoài còn nặng ở một rừng thí điểm theo Quyết định 304/2005/QĐ-TTg, chính sách hưởng lợi từ rừng không rõ ràng, khó thực hiện, diện số DTTS. Do hạn chế nhiều mặt nên học sinh, tích rừng ngày càng suy giảm. sinh viên người DTTS thường đạt kết quả học 10 Số 19 - Tháng 9 năm 2017
  9. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC tập thấp hơn nên khó được tuyển vào các cấp học cùng với việc đẩy mạnh nghiên cứu những vấn cao. Nhiều học sinh, sinh viên DTTS cử tuyển đề về tộc người như: phương thức sinh hoạt kinh không có việc làm sau khi ra trường đã tác động tế của tộc người (Ethnic) và của dân tộc (Nation); xấu đến tâm lý học tập ở trong người DTTS. tâm lý dân tộc/tộc người, v.v; tính thống nhất và 7.Một số giải pháp sự đa dạng của ngôn ngữ, văn hóa dân tộc/tộc người, cần đẩy mạnh nghiên cứu lý luận về vấn Từ thực trạng quan hệ dân tộc ở nước ta đề dân tộc/tộc người như: vấn đề quan hệ vận qua 30 năm đổi mới, để bảo đảm quyền bình mệnh dân tộc - quốc gia (Nation) và dân tộc/tộc đẳng, cơ hội phát triển của các dân tộc và xây người (Ethnic), làm rõ những đặc trưng và mối dựng quan hệ dân tộc, tăng cường khối đại đoàn quan hệ giữa tộc người và dân tộc; quan hệ phát kết toàn dân tộc phù hợp với bối cảnh toàn cầu triển dân tộc/tộc người và chính sách dân tộc; các hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, dưới góc độ quá trình tộc người trong thời đại ngày nay, xu chính sách cần thực hiện tốt các giải pháp sau: hướng phân ly và liên kết các dân tộc; các vấn - Chính sách dân tộc của Đảng phải có đề phát triển dân tộc trong bối cảnh kinh tế thị tính hệ thống, từ các chính sách chung phát triển trường: tác động của kinh tế thị trường đối với tổng thể các DTTS, vùng DTTS cần phải xây sự phát triển của các DTTS; tác động của toàn dựng chính sách cụ thể phù hợp với từng dân tộc cầu hóa và hội nhập quốc tế đối với các dân tộc; riêng lẻ nhằm hai mục tiêu: Một là, phát triển quan hệ và giao lưu văn hoá giữa các dân tộc/tộc toàn diện kinh tế - xã hội từng tộc người và cả người và vấn đề bảo tồn và phát triển các giá trị cộng đồng các DTTS; Hai là, xây dựng quan hệ văn hoá của các DTTS; kế thừa, phát huy các giá dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp trị trong văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên nhau cùng phát triển. của các dân tộc. - Có chính sách cụ thể chăm lo phát triển Sự biến đổi đa chiều và phức tạp của quan con người các DTTS từ phát triển thể chất (phát hệ dân tộc trong thời kỳ đổi mới cho thấy rằng, để triển nòi giống và sức khỏe cộng đồng) đến phát xây dựng quan hệ dân tộc dựa trên nguyên tắc bình triển trí lực, không ngừng nâng cao đời sống đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp nhau cùng tiến vật chất và đời sống văn hóa tinh thần, tạo môi bộ, xây dựng vùng miền núi và dân tộc thành một trường để phát triển con người toàn diện. khu vực giàu về kinh tế, vững về chính trị, phát triển - Cần xây dựng Bộ luật phát triển DTTS nhanh về văn hóa, xã hội, mạnh về quốc phòng, an hoặc nếu chưa đủ điều kiện thì xây dựng Nghị ninh đòi hỏi phải nhận thức đầy đủ xu hướng biến quyết của Quốc hội về chính sách với các DTTS. đổi quan hệ dân tộc với những vấn đề đặt ra, từ Có như vậy, các cơ quan liên quan mới thấy được đó giúp chúng ta có chủ trương, giải pháp định trách nhiệm của mình, cũng như tạo thuận lợi cho hướng hoàn thiện chính sách dân tộc nhằm bảo các cơ quan của Quốc hội trong quá trình giám đảm quyền bình đẳng, cơ hội phát triển của các sát việc áp dụng chính sách, pháp luật về DTTS. tộc người và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. - Tăng cường tuyên truyền giáo dục cho nhân dân các dân tộc ý thức về sự thống nhất của * Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài cộng đồng quốc gia/dân tộc; ý thức về quyền lợi cấp quốc gia:“Xu hướng biến đổi quan hệ dân và trách nhiệm của mỗi dân tộc đối với sự thống tộc: Những vấn đề đặt ra và định hướng chính nhất bền vững của quốc gia/dân tộc. Cùng với sách”, mã số KX.04.21/16-20. việc giáo dục nâng cao ý thức vươn lên trong quá trình phát triển, tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp Tài liệu tham khảo nhau cùng tiến bộ, kiên quyết đấu tranh chống [1] Ban Chỉ đạo Tây Nguyên: Báo cáo tổng các tư tưởng kỳ thị cũng như tự ti dân tộc, đấu kết Nghị quyết 10- NQ/TW của Bộ Chính trị về phát tranh chống lại âm mưu, hành động chí rẽ, phá triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh hoại khối đại đoàn kết dân tộc. vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001 – 2010, Buôn Mê - Để xây dựng quan hệ dân tộc, củng cố Thuột, 2011; khối đoàn kết dân tộc, định hướng hoàn thiện [2] Báo Lao động, số 291, thứ Tư, ngày chính sách dân tộc phù hợp với điều kiên mới, 16-12-2015. Các website: www.chinhphu.vn cập Số 19 - Tháng 9 năm 2017 11
  10. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC nhật ngày 12-5-2015, 08:00 GMT+7; http://www. dựng thực hiện và giám sát chính sách dân tộc”. dantri.com.vn, cập nhật thứ Năm, ngày 17-12- Hà Nội, tháng 11/2010; 2015, 7:20; [7] Nguyễn Thị Phương Hòa, Sử dụng dịch [3] Quốc Cảnh, Điện Biên đẩy nhanh tiến vụ chăm sóc trước sinh của phụ nữ dân tộc ở Tây độ di dân tái định cư Thủy điện Sơn La, Báo Nhân Nguyên, Tạp chí Thông tin Y Dược, số 7/2008; Dân, số 21987, ngày 8-12-2015; [8] Hôn nhân cận huyết thống: Nguyên [4] Trương Minh Dục (Chủ nhiệm đề tài): nhân làm suy giảm sức khỏe, http://benhvienleloi. Quan hệ tộc người ở Tây Nguyên trong thời com.vn, cập nhật ngày 25- 3- 2010; kỳ đổi mới (từ 1986 đến 2010), mã số IV5.2 – [9] Trần Thị Nhẹn, Bình đẳng dân tộc trên 2011.26; lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay, [5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà số 22-NQ/BCT của Bộ Chính trị “Về một số chủ Nội, 2009; trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội [10] Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ miền núi”. Hà Nội, 1989; Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông: Một số vấn đề lý [6] Trần Thị Hạnh- Phạm Văn Hùng luận-thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường - Nguyễn Cao Thịnh - Hà Quang Khuê - Lò đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 30 năm Giàng Páo - Đặng Văn Thuận - Trần Trung Hiếu: đổi mới, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. “Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực vùng 495, 496; dân tộc thiểu số và đề xuất các giải pháp phát [11] Lê Duy Sớm, Thực trạng mạng lưới triển nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi” y tế về chăm sóc sức khỏe sinh sản ở Việt Nam, thuộc Dự án VIE02/001 – SEDEMA & EMPCD: website: www.dangcongsan.vn, cập nhật ngày “Tăng cường năng lực cho Ủy ban Dân tộc xây 9/11/2011. THE CHANGES IN VIETNAM IN THE PERIOD OF THE INNOVATION AND THE ORIENTATION TOWARDS ETHNIC POLICY Abstract: Ethnic / ethnic relations are relations within each ethnic group; the relationship between the peoples of the brothers; transnational relations; relations between the majority and ethnic minorities; Relations between peoples and ethnic / national communities are reflected in all aspects of social life from economics, politics to culture, society, religion and belief, etc. This assessment focuses on the current state of change in ethnic relations in all areas of social life during the renovation period (from 1986 to present), thus suggesting a policy oriented solution to ensure equal rights, develop opportunities of ethnic groups and build national relations, strengthen the national unity bloc in line with the context of globalization and international integration today. Key words: Ethnic relations; the ethnic minorities; ethnic policy; change the ethnic relations. 12 Số 19 - Tháng 9 năm 2017

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản