Các nhân t ảnh hưởng đến hiệu
qu sử dụng vốn lưu động
Hoạt động kinh doanh ca doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố
khác nhau chính vậy để đưa ra một quyết định tài chính nhà qun tr tài chính
doanh nghiệp phi xác định được và xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề
cần giải quyết từ đó mi đưa ra các bin pháp thích hợp.
Cũng như vậy, trước khi đề ra các bin pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu
động chúng ta cần xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu qusử dụng vốn lưu
động. Có thể chia các nhân tố đó dưới 2 giác độ nghiên cu:
Các nhân tố lượng hoá
Các nhân tố lượng hoá là các nhân tmà khi chúng thay đổi slàm thay đổic chỉ
tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động về mặt số lượng. Có thể dễ thấy đó là
các ch tiêu như: Doanh thu thun, li nhuận trước thuế (hoặc sau thuế thu nhập
doanh nghiệp), vốn lưu động bình quân trong kỳ, các bộ phận vn lưu động…
Ta biết, vốn lưu động là biểu hiện bằng tin của tài sn lưu động nên đặc điểm vn
động của vốn lưu động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm ca tài sn lưu
động. Để sử dụng vốn lưu động có hiu quả, doanh nghiệp cần có các biện pháp
quản lý tài snu động một cách khoa học. Quản lý tài sản lưu động được chia
thành 3 nội dung qun lý chính: Qun lý dự trữ, tồn kho; quản lý tiền mặt và các
chứng khoán thanh khoản cao; quản lý các khoản phải thu.
Quản lý dự trữ, tồn kho
Dự trữ, tồn kho là một bộ phn quan trọng của vn lưu động, là nhng bước đệm
cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường ca doanh nghiệp. Hàng tồn kho
gm 3 loại: Nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh; sản
phm dở dang và thành phm.
Trong quá trình sn xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không thể tiến hành sản
xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cn phải có nguyên vật liệu dự trữ. Nguyên vật
liu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhun nhưng nó có vai trò rất lớn để cho q
trình sản xuất kinh doanh tiến hành được bình thường. Quản lý vật liu dự trữ hiu
quả sẽ góp phần nâng cao hiu quả sử dụng vốn lưu động. Do vy, doanh nghiệp
tính toán dự trữ một lượng hợp lý vật liu, nếu dự trữ quá lớn sẽ tốn kém chi phí, ứ
đọng vốn, còn nếu dự trữ quá ít sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián
đoạn gay ra hàng loạt các hu quả tiếp theo như mất thị trường, giảm lợi nhuận của
doanh nghiệp.
Tồn kho trong quá trình sn xuất là các nguyên vật liệu nằm các công đoạn của
dây chuyn sản xuất. Nếuy chuyền sản xuất càng dài và càngnhiu công
đoạn sản xut thì tn kho trong quá trình sản xuất sẽ càng lớn. Đây là những bước
đệm nhỏ để q trình sn xuất được liên tc.
Khi tiến hành sn xuất xong, do có độ trễ nhất định giữa sản xuất và tiêu thụ, do
những chính sách thị trường của doanh nghiêp…đã hình thành nên bộ phn thành
phm tn kho.
Hàng hoá dtrữ đối với các doanh nghiệp gồm 3 bộ phận như trên, nhưng thông
thường trong qun lý chúng ta tập chung vào bộ phận thứ nhất, tức là nguyên vật
liu dự trữ cho sản xuất kinh doanh.
Có nhiu phương pháp được đưa ra nhằm xác định mức dự trữ tối ưu.
Quản lý dự trữ theo phương pháp cổ điển hay mô hình đặt hàng hiu quả
nhất – EOQ (Economic Odering Quantity)
hình y được dựa trên giđịnh là những lần cung cấp hàng hoá là bng nhau.
Theo mô hình này, mức dự trữ tối ưu là:
Trong đó:
Q* : Mức dự trữ tối ưu.
D : Toàn blượng hàng hoá cần sử dụng.
C2 : Chi phí mi lần đặt hàng (Chi phí quản lý giao dịch và vn chuyển hàng h).
C1 : Chi phí lưu kho đơn vị hàng hoá (Chi p bốc xếp, bảo hiểm, bảo quản).
Đim đặt hàng mới:
Vmặt lý thuyết ta giả định khi nào lượng hàng kỳ trước hết mi nhp kho lượng
hàng mi nhưng trên thực tế hầu như không bao giờ như vậy. Nhưng nếu đặt hàng
quá sm sẽ làm ng ng nguyên liu tồn kho. Do vậy, các doanh nghiệp cần
phải xác định thời điểm đặt hàng mi.
Lượng dự trữ an toàn
Nguyên vật liệu sử dụng mỗi ngày không phi là số cố định mà chúng biến động
không ngng. Do đó, để đảm bảo cho sự ổn định của sản xuất, doanh nghiệp cần
phải duy trì một lượng hàng tn kho dự trữ an toàn. Lượng dự trữ an toàn tu thuộc
vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp. ợng dự trữ an toàn là lượng hàng hoá d
trthêm vào lượng dự trữ tại thời điểm đặt hàng.
Ngoài phương pháp quản lý dự trữ theo hình đặt hàng hiệu qunhất (EOQ),
nhiều doanh nghiệp còn sử dụng pơng pháp sau đây:
Phương pháp cung cấp đúng lúc hay dự trữ bằng 0.
Theo pơng pháp này, các doanh nghiệp trong một số ngành nghcó liên quan
chặt chvi nhau hình tnh nên những mối quan hệ, khi có mt đơn đặt hàng nào
đó họ sẽ tiến hành huy động những loại hàng hvà sn phẩm dở dang của các đơn
v khác mà họ không cn phi dự trữ. Sử dụng phương pháp này sẽ giảm tới mức
thấp nhất chi phí cho dự trữ. Tuy nhiên, phương pháp này tạo ra sự rằng buộc các
doanh nghiệp vi nhau, khiếnc doanh nghiệp đôi khi mt sự chủ động trong hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Quản lý tiền mặt và các chng khoán thanh khoản cao
Tiền mặt được hiu là tin tồn quỹ, tiền trên tài khon thanh toán của doanh nghiệp
ở ngân hàng. Tin mặt bản thân nó là tài sản không sinh lãi, tuy nhiên việc giữ tiền
mặt trong kinh doanh rất quan trọng, xuất phát từ những lý do sau: Đảm bảo giao
dch hàng ngày; bù đắp cho ngân hàng về việc ngân hàng cung cấp các dịch vụ cho
doanh nghiệp; đáp ứng nhu cầu dự phòng trong trường hợp biến động kng lường
trước được của các luồng tin vào và ra; hưởng lợi thế trong thương lượng mua
hàng.
Quản tin mặt đề cập đến việc quản lý tiền giy và tin gửi ngân hàng. Sự quản
lý này liên quan chặt chẽ đến việc qun lý các loại tài sản gắn liền với tiền mặt như
các loi chứng khoánkhả năng thanh khoản cao. Ta có thể thấy điều này qua sơ
đồ luân chuyển sau:
Nhìn một cách tổng quát tiền mặt cũng là một tài sản nhưng đâymột tài sn đặc
biệt mt tài sn có tính lỏng nhất.William Baumol là người đầu tiên phát hin
mô hình quản lý hàng tn kho EOQ có thể vận dụng cho mô hình quản tiền mt.
Trong kinh doanh, doanh nghip phi lưu giữ tin mặt cần thiết cho các hoá đơn
thanh toán, khi tin mặt xuống thấp doanh nghiệp sẽ phải bổ sung tiền mt bằng
cách bán các chứng khoán thanh khoản cao. Chi phí cho việc lưu giữ tin mặt ở
đây chính là chi phí cơ hội, là lãi suất mà doanh nghiệp bị mt đi. Chi phí đặt hàng
chính là chi phí cho việc bán các chứng khoán. Khi đó áp dụng mô hình EOQ ta có
lượng dự trữ tiền mặt tối ưu (M*) là: