intTypePromotion=4

Cải thiện sự an toàn cho bệnh nhân

Chia sẻ: ViHermes2711 ViHermes2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
11
lượt xem
0
download

Cải thiện sự an toàn cho bệnh nhân

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mặc dù tất cả các chuyên gia y tế đều tán thành nguyên tắc “Trước hết không làm tổn hại đến bệnh nhân”, nhưng thỉnh thoảng bệnh nhân vẫn bị tổn hại do hành động trực tiếp hoặc gián tiếp của nhân viên y tế. Báo cáo của Viện Y học (IOM, 2000) có nhan đề “Con người là gây sai sót: Xây dựng hệ thống y tế an toàn hơn” ước tính rằng có khoảng 44.000 đến 98.000 người Mỹ tử vong hằng năm do những sai sót y khoa mà lẽ ra có thể tránh được.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cải thiện sự an toàn cho bệnh nhân

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 2 * 2016 Tổng Quan<br /> <br /> <br /> CẢI THIỆN SỰ AN TOÀN CHO BỆNH NHÂN<br /> Lưu Thị Bích Ngọc*, Lê Nguyễn Thùy Khanh**, Nguyễn Thị Thu Thảo***<br /> <br /> DẪN NHẬP - Rào cản thông tin giữa người bệnh, nhân<br /> viên y tế và người quản lý.<br /> Mặc dù tất cả các chuyên gia y tế đều tán<br /> thành nguyên tắc “Trước hết không làm tổn hại - Môi trường làm việc gây sao lãng, thiếu tập<br /> đến bệnh nhân”, nhưng thỉnh thoảng bệnh nhân trung, căng thẳng.<br /> vẫn bị tổn hại do hành động trực tiếp hoặc gián - Trang thiết bị thiếu và không đồng bộ.<br /> tiếp của nhân viên y tế. Báo cáo của Viện Y học - Một vài yếu tố khác cũng đã được ghi nhận<br /> (IOM, 2000) có nhan đề “Con người là gây sai như phương pháp chẩn đoán, điều trị có mức an<br /> sót: Xây dựng hệ thống y tế an toàn hơn” ước toàn hẹp, cơ địa người bệnh khác nhau, v.v...<br /> tính rằng có khoảng 44.000 đến 98.000 người Mỹ Nguyên nhân thứ hai có thể kể đến, đó<br /> tử vong hằng năm do những sai sót y khoa mà lẽ là “Nguyên nhân hệ thống” (Lưu Thị Bích Ngọc<br /> ra có thể tránh được. Báo cáo này cũng tính mức và Lê Nguyễn Thụy Khanh, 2014). Chúng ta đều<br /> độ thiệt hại do những sai sót đó, như thiệt hại đã biết, nguy cơ chỉ chuyển thành tai biến điều<br /> thu nhập, mất khả năng lao động, và chi phí trị khi xuất hiện và đi kèm với những lỗi của hệ<br /> chăm sóc sức khỏe, khoảng 29 tỉ đôla mỗi năm, thống hoặc/và lỗi của cá nhân.<br /> chưa kể đến việc tổn thương vì mất người thân.<br /> Các lỗi hệ thống bao gồm: Bệnh viên chưa<br /> Ước tính số tử vong do sai sót y khoa ở Việt đặt an toàn người bệnh là ưu tiên hàng đầu,<br /> Nam sẽ là bao nhiêu? Hiện nay tại các nước chưa có phong cách lãnh đạo hiệu quả và văn<br /> đang phát triển chưa có số liệu công bố chính hóa mạnh (Luu Trong Tuan, 2012), chưa có<br /> thức về sai sót trong điều trị như các nước phát chương trình hành động cụ thể, chưa đầu tư<br /> triển. Tuy nhiên, theo Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ phân bổ nguồn lực thích hợp và thỏa đáng cho<br /> tai biến điều trị tại các nước này chắc chắn sẽ cao hoạt động an toàn người bệnh, khi có sai sót điều<br /> hơn nhiều do những khó khăn về hạ tầng, trang trị chỉ xem xét lỗi cá nhân mà không xem xét lỗi<br /> thiết bị, nhân lực, thuốc men, v.v. Riêng nhiễm hệ thống, thiếu huấn luyện, thiếu trang thiết bị,<br /> khuẩn bệnh viện, Tổ chức Y tế thế giới ước tính thiếu giám sát, thiếu quy trình bảo đảm an toàn<br /> tại các nước đang phát triển cao gấp 20 lần các người bệnh.<br /> nước phát triển. Vậy nguyên nhân là gì?<br /> Và cuối cùng, đó là “Nguyên nhân cá nhân”.<br /> Nguyên nhân đầu tiên có thể kể đến, đó<br /> - Thiếu kiến thức: Chưa được huấn luyện về<br /> là bệnh viện là môi trường có nhiều nguy cơ để<br /> an toàn người bệnh, thường gặp ở những nhân<br /> tai biến xảy ra. Đó là các yếu tố sau đây được<br /> viên mới.<br /> nhận dạng:<br /> - Thiếu kỹ năng: Đã được huấn luyện cập<br /> - Áp lực ra quyết định nhanh (chỉ định của<br /> nhật kiến thức, nhưng chưa đủ kỹ năng thực<br /> bác sỹ trong khi cấp cứu, hồi sức tích cực, đang<br /> hành, thường gặp ở nhân viên mới hoặc nhân<br /> phẫu thuật, v.v. yêu cầu thật nhanh, tức thời, chỉ<br /> viên đã làm việc lâu nhưng lĩnh vực công tác ít<br /> là quyết định bằng miệng, chưa được ghi vào hồ<br /> gặp những tình huống tương tự.<br /> sơ bệnh án) điều này có thể dễ dẫn đến sai sót<br /> chuyên môn. - Thiếu tính kỷ luật: Đã được huấn luyện, có<br /> kỹ năng thực hành tốt nhưng không tuân thủ<br /> - Quá tải bệnh nhân.<br /> những quy định, quy trình về an toàn người<br /> - Thiếu nhân viên.<br /> <br /> <br /> * ĐH Mở Malaysia (OUM) ** Bệnh viện ĐH Y Dược, TP. HCM *** ĐH mở Thành phố Hồ Chí Minh<br /> Tác giả liên lạc: TS. Lê Nguyễn Thùy Khanh ĐT: 0903620565 Email: khanh.lnt@umc.edu.vn<br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2016 17<br /> Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 2 * 2016<br /> <br /> bệnh của bệnh viện. thống bị lỗi đã gây ra lỗi hoặc làm cho những lỗi<br /> Như vậy, sau khi đã nhận dạng chính xác đó khó phát hiện" (Leape và cộng sự, 1995). Thiết<br /> được những nguyên nhân thì làm cách nào để kế hệ thống bị lỗi cũng là một nguyên nhân<br /> giảm thiểu sai sót y khoa từ đó đảm bảo an toàn trong hầu hết các sự cố y tế. Trong khi một cá<br /> cho người bệnh? nhân có thể mắc sai lầm, thì nguyên nhân gốc rễ<br /> của sai lầm đó có thể nằm trong thiết kế của hệ<br /> ANTOÀNTRONGCHĂMSÓCSỨCKHỎE<br /> thống chăm sóc bệnh nhân.<br /> Trong báo cáo của Viện Y học năm 2001 có Các hoạt động của các chuyên gia y tế bị ảnh<br /> nhan đề “Vượt qua chất lượng: Một hệ thống y hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm cả văn hóa tổ<br /> tế mới cho thế kỷ 21”, chăm sóc sức khỏe an toàn chức, thái độ và năng lực cá nhân, thành phần<br /> là một trong sáu bình diện của chất lượng chăm của đội làm việc, nguồn lực vật chất, thiết kế của<br /> sóc sức khỏe. Các cơ sở y tế đã có các chương các hệ thống và qui trình làm việc.<br /> trình an toàn trong nhiều năm qua. Mục đích của<br /> Nghiên cứu về tai nạn trong các ngành công<br /> các chương trình này là mang lại một môi trường<br /> nghiệp khác đã chỉ ra rằng khả năng con người<br /> loại bỏ hay hạn chế các nguy cơ cho nhân viên,<br /> phát hiện và sửa lỗi không phải là không thiếu<br /> bệnh nhân, và thân nhân bệnh nhân đến thăm.<br /> sót (Reason, 2001). Ngay cả trong những lịch<br /> An toàn được nâng lên thông qua nhiều hoạt<br /> trình bảo trì dự phòng chính xác nhất và thủ tục<br /> động, bao gồm quản lý rủi ro, ứng phó cấp cứu,<br /> rõ ràng nhất cũng không thể loại trừ khả năng<br /> quản lý vật liệu nguy hiểm, an toàn về phóng xạ,<br /> sai sót của con người. Các chuyên gia y tế quan<br /> an toàn và vệ sinh môi trường, an ninh, và dự<br /> sát và thường phát hiện và sửa lỗi trước khi bệnh<br /> phòng. Tuy nhiên xưa nay không có phương<br /> nhân bị tổn hại, nhưng nếu thiết kế hệ thống bị<br /> pháp hệ thống, có tổ chức để ngăn ngừa sai sót y<br /> lỗi gây nên nhiều sai sót nhỏ, thì các chuyên gia<br /> khoa gây hại đến bệnh nhân.<br /> y tế có thể lướt qua mà không để ý. Theo một<br /> Phòng tránh sai sót trong chăm sóc sức khỏe nghiên cứu khác thì điều dưỡng bệnh viện<br /> không phải là một điều mới mẻ. Thường thì thường gặp phải khoảng một vấn đề mỗi giờ<br /> trách nhiệm này được giao cho bác sĩ, điều khiến họ không tiếp tục được công việc (Tucker<br /> dưỡng, kỹ thuật viên, và những người khác và Edmondson, 2003). Ví dụ như thiếu nguồn<br /> chăm sóc cho bệnh nhân hoặc hỗ trợ các hoạt cung cấp, thiếu thông tin và thiếu thuốc. Các<br /> động chăm sóc bệnh nhân. Khi xảy ra lỗi, người điều dưỡng thường phải giải quyết những vấn<br /> chịu trách nhiệm thường bị quy là bất cẩn, đề này.Trong các hệ thống mà dễ xảy ra vấn đề<br /> không đủ năng lực hoặc khinh suất. Cơ sở y tế như vậy, thậm chí những điều dưỡng rất giỏi và<br /> chú trọng việc tuyển dụng và đào tạo những thận trọng cũng không thể nhặt hết mọi sai sót.<br /> người có năng lực, tin rằng họ sẽ có khả năng<br /> Hệ thống chăm sóc sức khỏe phụ thuộc hoàn<br /> hạn chế lỗi. Tuy nhiên dựa hoàn toàn vào năng<br /> toàn vào con người là vô cùng sai lầm. Ai cũng<br /> lực chuyên gia y tế để hạn chế sai sót cũng là một<br /> có thể mắc lỗi. Nói chung, đó là kết quả của<br /> sai lầm.<br /> những trường hợp ngoài sự kiểm soát có ý thức<br /> Có được một nhân viên có năng lực là quan của người làm lỗi. Để cải thiện mức độ an toàn<br /> trọng, tuy nhiên trong điều kiện làm việc kém cho bệnh nhân, các hệ thống và qui trình phải<br /> cũng có thể làm cho những chuyên gia giỏi nhất được kiểm tra để xem có cần thay đổi để giảm<br /> dễ mắc lỗi. Những điều tra về rủi ro, như thảm nguy cơ bệnh nhân bị tổn hại. Mục đích là để<br /> họa ở nhà máy điện hạt nhân Three Mile Island giảm bớt nguy cơ sai sót (risk of errors). Tuy<br /> năm 1979 và tai nạn tàu con thoi Challenger năm nhiên, nếu sai sót xảy ra, thì nên sử dụng những<br /> 1986, đã phát hiện rằng "tai nạn thường là kết biện pháp an toàn đáng tin cậy ngăn chặn sai sót<br /> quả của một chuỗi các biến cố do thiết kế hệ tác động đến bệnh nhân. Nếu sai sót đó đã tác<br /> <br /> <br /> 18 Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2016<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 2 * 2016 Tổng Quan<br /> <br /> động đến bệnh nhân, thì nên thực hiện nhanh nhiều năm trong những ngành công nghiệp<br /> những cơ chế ứng phó (response mechanisms) khác để tăng năng suất và giảm thiểu tai nạn.<br /> để giảm mức độ tổn hại cho bệnh nhân. PHÒNG TRÁNH SAI SÓT<br /> Sáng kiến cải thiện độ an toàn cho người<br /> Hầu hết các sai sót không phải là cố ý nhưng<br /> bệnh là một thành tố quan trọng trong toàn nỗ<br /> xuất hiện vì một qui trình quá phức tạp. Cho dù<br /> lực quản trị chất lượng của một tổ chức chăm<br /> trong các qui trình chăm sóc bệnh nhân đơn giản<br /> sóc sức khỏe. Những sáng kiến này chủ yếu<br /> thì cũng rất phức tạp nếu xét đến những biến số<br /> hướng về các mặt lâm sàng trong chăm sóc<br /> liên quan (variables). Chẳng hạn như qui trình<br /> bệnh nhân, song những kỹ thuật sử dụng để<br /> lấy mẫu máu để xét nghiệm ở phòng thí nghiệm<br /> bảo vệ bệnh nhân khỏi bị tổn hại có thể áp<br /> được minh họa trong Hình 1.<br /> dụng trong bất kỳ hoạt động nào, bao gồm cả<br /> phát hành hóa đơn, đăng ký bệnh nhân, bảo Các biến số liên quan trong qui trình này bao<br /> trì nhà máy và các dịch vụ buồng phòng. Kỹ gồm phương pháp được sử dụng để ra y lệnh<br /> thuật ngăn ngừa sai sót của con người dựa vào xét nghiệm (y lệnh viết tay hoặc y lệnh điện tử),<br /> khoa học các nhân tố con người (human vị trí của bệnh nhân, phương pháp sử dụng để<br /> factors science), có nguồn gốc từ quân đội lấy mẫu, loại lọ sử dụng để lưu trữ máu, phương<br /> trong Thế chiến thứ II (Wickens và cộng sự, pháp phân tích trong phòng thí nghiệm, cách<br /> 1997). Kỹ thuật này đã được sử dụng trong thức báo cáo kết quả và nhiều nhân tố khác nữa.<br /> Xem xét tất cả các biến số thì cũng sẽ có lúc nào<br /> đó kết quả có thể không chính xác.<br /> <br /> <br /> Chỉ định Hoàn tất Báo cáo Kiểm tra lại<br /> xét nghiệm xét nghiệm kết quả kết quả<br /> <br /> <br /> Hình 1. Lưu đồ của qui trình xét nghiệm ở phòng thí nghiệm<br /> Không may là không phải lúc nào cũng có một qui trình, thì khả năng gây tổn hại cho bệnh<br /> thể loại bỏ tất cả khả năng xảy ra sai sót. Vì vậy nhân cũng giảm đi đáng kể. Bảng 1 nêu những<br /> mà qui trình chăm sóc bệnh nhân nên được thiết ví dụ về sai sót trong chăm sóc bệnh nhân và<br /> kế lại để giảm thiểu khả năng xảy ra sai sót có biện pháp an toàn giúp phát hiện và sửa chữa sai<br /> hại. Bằng cách thêm các biện pháp an toàn vào sót trước khi ảnh hưởng đến bệnh nhân.<br /> Bảng 1. Sai sót và các biện pháp phòng tránh tổn hại đến bệnh nhân<br /> Sai sót Biện pháp phòng tránh<br /> Bác sĩ phẫu thuật bắt đầu đóng vết mổ sau cuộc phẫu Điều dưỡng đếm số gạc và phát hiện thiếu một cái. Phẫu<br /> thuật ruột mà không biết rằng một miếng gạc còn sót lại thuật viên định vị miếng gạc trong ổ bụng bệnh nhân và<br /> trong ổ bụng bệnh nhân. lấy ra trước khi đóng bụng.<br /> Bác sĩ bắt đầu rút máu từ cánh tay trái của bệnh nhân mà Dây đeo tay màu đỏ trên cánh tay trái của bệnh nhân giúp<br /> không biết rằng bệnh nhân vừa được mổ vú bên trái và bác sĩ biết không nên lấy máu bên tay trái.<br /> không nên lấy máu từ cánh tay trái này.<br /> Nhân viên phát một khay thức ăn không ghi tên vào một Một tấm biển lớn ghi “không được ăn bằng đường miệng”<br /> phòng bệnh. Anh cho rằng mình phát đúng phòng vì là đây treo cạnh giường bệnh nhân. Nhân viên nhìn thấy tấm<br /> khay cuối cùng và còn một bệnh nhân duy nhất chưa nhận biển và không để lại khay thức ăn cho bệnh nhân.<br /> được thức ăn.<br /> Bác sĩ kê toa một loại thuốc mà không biết rằng bệnh Dược sĩ xem xét lịch sử sử dụng thuốc của bệnh nhân và<br /> nhân bị dị ứng với thuốc đó. phát hiện ra thiếu sót này. Ông liên lạc với bác sĩ và bác sĩ<br /> kê toa thuốc khác.<br /> Các hoạt động có nguy cơ cao thường được minh họa qui trình quản lý thuốc ở một bệnh<br /> kết hợp nhiều biện pháp an toàn. Hình 2 là một viện và sai sót có thể xảy ra ở bất kì giai đoạn<br /> <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2016 19<br /> Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 2 * 2016<br /> <br /> nào. Hãy chú ý đến những điểm kiểm tra dọc Sự an toàn cho bệnh nhân là một trong<br /> theo qui trình này để phát hiện và khắc phục những thành tố của hoạt động quản trị chất<br /> những sai sót. Khi những biện pháp an toàn lượng của cơ sở y tế. Chu kỳ cơ bản trong hoạt<br /> không hiệu quả như hoạch định thì những sai động quản trị chất lượng bao gồm đo lường,<br /> sót này sẽ ảnh hưởng đến bệnh nhân. Để bảo vệ đánh giá và cải tiến được áp dụng vào những<br /> bệnh nhân hơn nữa, các cơ sở y tế đang áp dụng sáng kiến cải thiện an toàn cho bệnh nhân.<br /> nhiều chiến lược và kỹ thuật phòng tránh sai sót<br /> được sử dụng trong nhiều ngành khác.<br /> Bác sĩ kê đơn thuốc cho một bệnh nhân nhập viện mà không biết bệnh nhân<br /> bị dị ứng với thuốc<br /> <br /> <br /> <br /> Phát hiện sai sót.<br /> Dược sĩ kiểm tra lại đơn thuốc Khắc phục sai sót<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Dược sĩ không phát hiện lỗi của bác sĩ và chuyển đơn thuốc qua cho điều<br /> dưỡng. Quĩ đạo tai biến tiếp tục.<br /> <br /> <br /> <br /> Phát hiện sai sót.<br /> Điều dưỡng nhận thuốc từ khoa dược và kiểm tra lại thông tin trước khi phát<br /> Khắc phục sai sót<br /> thuốc cho bệnh nhân<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Điều dưỡng không phát hiện sai sót của bác sĩ và chuyển tiếp qua bộ phận<br /> phát thuốc<br /> <br /> <br /> <br /> Phát hiện sai sót.<br /> Điều dưỡng phát thuốc cho bệnh nhân theo đơn thuốc Khắc phục sai sót<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Bệnh nhân nhận thuốc đã từng bị dị ứng<br /> <br /> <br /> <br /> Hình 2. Qui trình phát thuốc ở bệnh viện. Nguồn: Spath (2001)<br /> Đo lường độ an toàn cho bệnh nhân hiểm trước khi xảy ra. Các thước đo an toàn cho<br /> bệnh nhân không khác là mấy so với các thước<br /> Mục đích đo lường hoạt động an toàn cho<br /> đo hoạt động chăm sóc sức khỏe khác. Bảng 2<br /> bệnh nhân là phát hiện và khắc phục vấn đề<br /> trình bày một số chủ đề an toàn cho bệnh nhân<br /> trước khi sự cố gây hại xảy ra. Các thước đo an<br /> và các thước đo ở cấp độ hệ thống được sử dụng<br /> toàn cho bệnh nhân giống như chim hoàng yến<br /> để đánh giá hoạt động tương ứng.<br /> trong mỏ than, cảnh báo các tình huống nguy<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 20 Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2016<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 2 * 2016 Tổng Quan<br /> <br /> <br /> Bảng 2. Các chủ đề về an toàn cho bệnh nhân và các thước đo ở cấp hệ thống<br /> Chủ đề quan tâm Thước đo<br /> Số trường hợp bị nhiễm trùng hậu phẫu trên 100 ca phẫu<br /> Bệnh nhân có hay bị nhiễm trùng hậu phẫu không?<br /> thuật<br /> Bệnh nhân có hay bị nhiễm trùng sau khi đặt ống thông tĩnh Số trường hợp trung bình bị nhiễm trùng trên 1.000 ca đặt<br /> mạch trung tâm không? ống thông<br /> Tỷ lệ viêm phổi được phát hiện trên 1.000 ca thở máy ở khoa<br /> Bệnh nhân có hay bị viêm phổi sau khi thở máy không?<br /> săn sóc đặc biệt<br /> Bệnh nhân có hay bị phản ứng phụ với thuốc không? Số trung bình các sự cố tác dụng phụ trên 1.000 liều thuốc<br /> Bệnh nhân có hay bị những sự cố nghiêm trọng do điều trị<br /> Số sự cố trên 10.000 ngày bệnh hiệu chỉnh*<br /> (sentinel event)?<br /> Bệnh nhân có hay bị ngã không? Số lần ngã trên 10.000 ngày bệnh hiệu chỉnh*<br /> Bệnh nhân có hay bị sai sót về thuốc không? Số ca sai sót về thuốc trên 1.000 trường hợp<br /> * Số ngày bệnh hiệu chỉnh (adjusted patient days) là con số do bộ phận tài chính tính dựa trên tổng số ngày điều trị nội trú và<br /> số ngày tương đương tính từ thời gian điều trị ngoại trú.<br /> Báo cáo sự cố (incident reports) dưới hình nên những công cụ báo cáo sự cố trên web và<br /> thức giấy hoặc điện tử, được dùng để ghi nhận những đường dây nóng để báo cáo.<br /> những nguy cơ tiềm tàng hay thật sự cho bệnh Nhanh chóng xác định sự cố giúp cơ sở y tế<br /> nhân. Nhân viên phải hoàn thành báo cáo bất cứ ngay điều tra ngay những tình huống xảy ra sự<br /> khi nào một bệnh nhân gặp phải sự cố đã gây ra cố, và nếu cần thiết sửa đổi qui trình hoặc môi<br /> hay có khả năng gây tổn thương. Sau đây là ví trường xung quanh để ngăn chặn sự cố tương tự<br /> dụ về những sự cố phải báo cáo: trong tương lai. Báo cáo sự cố cũng được dùng<br /> - Sai sót xảy ra trong quá trình chăm sóc để phát hiện các mẫu sự cố cho thấy những tình<br /> bệnh nhân (sai sót kê đơn, điều trị). trạng không an toàn. Các phòng ban và các ủy<br /> - Xuất hiện một bệnh trạng mà không liên ban trong cơ sở y tế đó phải xem xét các báo cáo<br /> quan tới bệnh của bệnh nhân (như nhiễm trùng, này thường xuyên.<br /> loét do nằm lâu, v.v.). Để đảm bảo rằng nhân viên báo cáo toàn bộ<br /> - Phản ứng phụ do điều trị, thuốc men hoặc các sai sót, nhà quản lý phải cố gắng duy trì một<br /> truyền máu. môi trường khuyến khích mọi người báo cáo<br /> những sai sót, thừa nhận sai phạm, đưa ra ý kiến<br /> - Tổn thương nghiêm trọng hay bệnh nhân<br /> và trao đổi ý kiến. Kinh nghiệm cho thấy khi các<br /> tử vong đột ngột.<br /> nhân viên lo sợ bị trả thù, họ ít khi báo cáo sai sót<br /> - Bệnh nhân ngã. và như thế cơ sở y tế sẽ mất một nguồn thông tin<br /> - Sự cố của thiết bị y tế gây ra tổn thương giá trị về an toàn cho bệnh nhân. Kết quả này<br /> thật hay có khả năng gây tổn thương cho người tương tự với khám phá của nhân viên Hệ thống<br /> bệnh. báo cáo an toàn của Hàng không NASA và Hệ<br /> - Sai sót về chẩn đoán hoặc xét nghiệm (ví dụ thống thông tin an toàn của hãng British<br /> như: chậm làm xét nghiệm hay trả kết quả xét Airways. Họ xác định được năm cách quan<br /> nghiệm, không báo cáo những kết quả bất trọng để tăng số lượng và chất lượng báo cáo sự<br /> thường, xét nghiệm không đúng theo y lệnh). cố (O’Leary và Chappell, 1996):<br /> Qui trình báo cáo sự cố không được chuẩn  Bảo vệ người có liên quan khỏi các hình<br /> hóa ở mọi cơ sở chăm sóc sức khỏe. Cơ sở vật thức xử lý kỷ luật.<br /> chất mỗi nơi là khác nhau nên có thể định nghĩa  Cho phép báo cáo bí mật hoặc hoặc giấu<br /> khác nhau về sự cố nào phải báo cáo, hay sử tên người báo cáo.<br /> dụng những cơ chế khác nhau để ghi nhận sự  Tách cơ quan thu thập, phân tích các báo<br /> cố.Để tinh gọn qui trình, một số cơ sở y tế đã tạo<br /> <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2016 21<br /> Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 2 * 2016<br /> <br /> cáo ra khỏi cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật. này được xem là chủ động vì nó được thực hiện<br />  Cung cấp cho người báo cáo những thông để ngăn chặn sự cố có hại. Phương pháp này<br /> tin phản hồi nhanh chóng, hữu ích, và dễ hiểu. thúc đẩy khả năng tư duy hệ thống về sự an toàn<br /> của một qui trình chăm sóc bệnh nhân qua<br />  Đơn giản hóa qui trình báo cáo.<br /> những câu hỏi sau:<br /> Cải thiện mức độ an toàn cho bệnh nhân  Sai sót gì?<br /> Các dự án nhằm cải thiện độ an toàn bệnh  Hậu quả ra sao nếu sai sót xảy ra?<br /> nhân cũng tuân theo các bước tương tự như bất  Cần làm gì để ngăn chăn những hậu quả<br /> kỳ dự án nào: đó khi sai sót xảy ra?<br /> 1. Xác định mục tiêu cải tiến. Nguy cơ tiềm tàng có thể xảy ra ở bất kì giai<br /> 2. Phân tích hoạt động hiện tại đoạn nào của một qui trình. Mục tiêu của dự án<br /> 3. Thiết kế và thực hiện những cải tiến. FMEA là tìm ra những nguy cơ này và thay đổi<br /> qui trình để giảm nguy cơ sai sót. Phương pháp<br /> 4. Đo lường mức độ thành công.<br /> FMEA đã được sử dụng để đánh giá hệ thống an<br /> Bất kỳ mô hình cải tiến nào đều có thể toàn trong sản xuất, hàng không, thiết kế phần<br /> được sử dụng để cải thiện an toàn cho bệnh mềm máy tính và các ngành công nghiệp khác<br /> nhân. Ví dụ như khi phương pháp cải thiện trong nhiều năm qua. Giờ đây các tổ chức chăm<br /> chu trình nhanh (rapid cycle improvement – sóc sức khỏe sử dụng phương pháp này để đánh<br /> RCI) được sử dụng để nâng độ hài lòng của giá và nâng cao độ an toàn trong hoạt động<br /> bệnh nhân, một phòng khám ngoại trú có thể chăm sóc bệnh nhân.<br /> sử dụng phương pháp này để giảm thiểu sai<br /> Dự án FMEA được thực hiện bởi đội ngũ có<br /> sót trong việc kê đơn thuốc.<br /> kinh nghiệm với qui trình được nghiên cứu, thực<br /> Hai mô hình cải thiện được sử dụng bởi các hiện các hoạt động và biết sai sót có khả năng<br /> cơ sở y tế để cải thiện mức độ an toàn cho bệnh xảy ra ở đâu. Đội dự án FMEA cũng có thể có<br /> nhân, đó là: phương pháp phân tích kiểu thất bại những người không có kinh nghiệm với qui<br /> và hệ quả (failure mode and effects analysis) và trình để có thể nghe được quan điểm khác biệt<br /> phương pháp phân tích căn nguyên (root cause từ họ.<br /> analysis). Phần sau sẽ mô tả các mô hình cải<br /> Hiểu rõ qui trình là bước đầu tiên của dự án<br /> thiện an toàn này.<br /> FMEA. Đội dự án xây dựng một lưu đồ để có thể<br /> Phương pháp phân tích kiểu thất bại và hệ hình dung từng bước của qui trình. Kế tiếp, đội<br /> quả (Failure mode and effects analysis – dự án tiến hành phân tích những nguy cơ, cùng<br /> FMEA) động não để xây dựng một danh sách tất cả các<br /> Phương pháp phân tích kiểu thất bại và hệ nguy cơ có thể xảy ra trong mỗi bước. Hai bước<br /> quả (FMEA) là một kỹ thuật đánh giá rủi ro chủ đầu tiên trong qui trình ra y lệnh xét nghiệm cận<br /> động bao gồm kiểm tra chặt chẽ một qui trình để lâm sàng cho bệnh nhân nhập viện được thể<br /> xác định có cần phải cải thiện để làm giảm nguy hiện trong Hình 3. Bên dưới mỗi bước là kiểu<br /> cơ xảy ra sự cố có hại không (McDermott, thất bại hay sai sót có thể xảy ra.<br /> Mikulak, và Beauregard, 1996). Phương pháp<br /> Yêu cầu Xét nghiệm<br /> xét nghiệm hoàn tất<br /> <br /> <br /> <br /> Hình 3. Hai bước đầu tiên trong qui trình xét nghiệm cận lâm sàng và các kiểu thất bại<br /> <br /> <br /> <br /> 22 Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2016<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 2 * 2016 Tổng Quan<br /> <br /> <br /> Kiểu thất bại: - Mức độ nghiêm trọng: mức độ tổn hại bệnh<br />  Thầy thuốc yêu cầu sai xét nghiệm. nhân sẽ gánh chịu nếu xảy ra sai sót.<br /> <br />  Xét nghiệm nhầm bệnh nhân. - Khả năng phát hiện sai sót: khả năng sai sót<br /> được phát hiện trước khi gây hại đến bệnh nhân.<br />  Bệnh nhân không được chuẩn bị.<br /> Mỗi tiêu chí trên được đánh giá theo thang<br />  Không đủ mẫu xét nghiệm đầy đủ để làm<br /> điểm từ 1 (thấp nhất) đến 5 (cao nhất). Sau khi<br /> xét nghiệm.<br /> qui trình đánh giá hoàn tất, thì điểm số thất bại<br />  Yêu cầu không đầy đủ về xét nghiệm. được tính bằng cách nhân điểm tần suất với<br />  Thực hiện sai xét nghiệm. điểm độ nghiêm trọng rồi nhân với điểm khả<br /> Sau khi đã phát hiện kiểu thất bại hay sai sót năng phát hiện sai sót. Bảng 3 là một bảng tính<br /> trong từng bước, đội dự án xác định mức độ của FMEA cho bước đầu tiên trong qui trình ra y<br /> từng kiểu thất bại để ưu tiên loại bỏ chúng. Điểm lệnh xét nghiệm cận lâm sàng. Sau khi ghi vào<br /> số thất bại dựa trên những tiêu chí sau: cột 3 hậu quả của những thất bại, đội dự án hoàn<br /> - Tần suất: xác suất thất bại xảy ra. tất qui trình tính điểm. Những thất bại với điểm<br /> số cao nhất được xem là thất bại nghiêm trọng<br /> cần phòng tránh nhất.<br /> Bảng 3. Bảng tính FMEA<br /> Bước Thất bại tiềm tàng Hậu quả Tần suất Mức độ Khả năng Điểm số thất<br /> nghiêm phát hiện bại<br /> trọng sai sót<br /> Yêu cầu xét Thầy thuốc yêu cầu sai xét<br /> nghiệm nghiệm<br /> Bệnh nhân không được chuẩn<br /> bị đầy đủ để làm xét nghiệm<br /> Yêu cầu không đầy đủ về xét<br /> nghiệm<br /> Khi đã xác định được các thất bại nghiêm - Trường hợp nào thì sai sót hay xảy ra,<br /> trọng, đội dự án cần xác định căn nguyên để có trường hợp nào thì ít xảy ra?<br /> thể phòng tránh chúng. Sau đây là danh sách - Vấn đề hay xảy ra khi nào? Và khi nào sẽ<br /> một số câu hỏi đội dự án có thể nêu lên để khám không xảy ra?<br /> phá căn nguyên của các thất bại nghiêm trọng:<br /> - Tại sao vấn đề xảy ra? Tại sao không xảy ra<br /> - Ai có thể gặp phải vấn đề này? Tất cả mọi thường xuyên?<br /> người đều sẽ gặp phải vấn đề như vậy hay là chỉ<br /> - Trước đây đã bao nhiêu lần xảy ra vấn đề<br /> vài người?<br /> tương tự? Qui trình có thể thay đổi như thế nào<br /> - Vấn đề cụ thể là gì? Ví dụ như trong qui để loại bỏ hay hạn chế vấn đề này xảy ra?<br /> trình ra y lệnh xét nghiệm cận lâm sàng, thông<br /> tin nào thầy thuốc có thể bỏ sót?<br /> Bảng 4. Bảng kế hoạch hành động<br /> Phòng ngừa Phát hiện<br /> Thất bại nghiêm trọng Hạn chế khả năng thất Giúp nhân viên làm việc đúng Phát hiện và điều chỉnh sai sót trước<br /> bại khi tổn hại đến bệnh nhân<br /> Thầy thuốc yêu cầu sai xét<br /> nghiệm<br /> Bệnh nhân không được chuẩn<br /> bị đầy đủ để làm xét nghiệm<br /> Yêu cầu không đầy đủ về xét<br /> nghiệm<br /> <br /> <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2016 23<br /> Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 2 * 2016<br /> <br /> <br /> Bảng 4 là một bảng tính kế hoạch hành động và thử nghiệm những thay đổi mới trong qui<br /> mà đội dự án có thể dùng để cùng động não tìm trình.<br /> ra những cách thay đổi qui trình để hạn chế Các dự án FMEA thường được tiến hành<br /> nguy cơ thất bại, giúp nhân viên làm việc đúng, trong những qui trình có những hoạt động chăm<br /> cũng như phát hiện và điều chỉnh sai sót trước sóc bệnh nhân nguy cơ cao hay xảy ra sai sót; tuy<br /> khi tổn hại đến bệnh nhân. nhiên, dự án cũng có thể sử dụng để giảm thất<br /> Những bước còn lại của dự án FMEA cũng bại ở bất kỳ qui trình nào. Bảng 5 minh họa một<br /> tương tự như các qui cải tiến khác. Những thay qui trình FMEA đầy đủ để thu thập thông tin về<br /> đổi trong qui trình cần phải thực hiện và đánh bệnh nhân ở một cơ sở y tế lớn. Các thành viên<br /> giả để xác định xem đã đạt đến kết quả kỳ vọng của đội dự án FMEA bao gồm một giám sát, hai<br /> chưa. Trong một dự án FMEA, kết quả kỳ vọng thư kí, một quản lý phòng hồ sơ bệnh nhân và<br /> chính là hạn chế hay loại bỏ khả năng thất bại một tư vấn tài chính cho bệnh nhân. Giám đốc<br /> nghiêm trọng. Những thay đổi mà không đạt của cơ sở y tế đó sẽ là đội trưởng của dự án.<br /> đến kết quả kỳ vọng phải được đánh giả để xác<br /> định tại sao không đạt được, và phải phát triển<br /> Bảng 5. FMEA trong qui trình thu thập thông tin nhân khẩu và bảo hiểm<br /> Các bước trong qui Kiểu sai sót tiềm ẩn Hậu quả tiềm ẩn Mức Xác suất Phát Điểm số<br /> trình độ nghiêm sai sót hiện sai độ<br /> trọng của sót nghiêm<br /> hậu quả trọng<br /> Xác minh địa chỉ và Nhân viên nhận bệnh không xác Hóa đơn thanh toán được gửi 4 4 5 80<br /> số điện thoại của minh địa chỉ và số điện thoại đi sai địa chỉ; thầy thuốc không<br /> bệnh nhân thể liên lạc với bệnh nhân nếu<br /> cần thiết sau khi bệnh nhân đã<br /> rời bệnh viện<br /> Nhân viên nhận bệnh nhập sai Hóa đơn thanh toán được gửi 4 3 5 60<br /> thông tin nhân khẩu đi sai địa chỉ; thầy thuốc không<br /> thể liên lạc với bệnh nhân nếu<br /> cần thiết sau khi bệnh nhân đã<br /> rời bệnh viện<br /> Bệnh nhân cung cấp thông tin Hóa đơn thanh toán được gửi 4 3 5 60<br /> sai cho nhân viên nhận bệnh đi sai địa chỉ; thầy thuốc không<br /> thể liên lạc với bệnh nhân nếu<br /> cần thiết sau khi bệnh nhân đã<br /> rời bệnh viện<br /> Xác minh thông tin Phát hành hóa đơn sai tên công Thanh toán chậm 5 3 3 45<br /> bảo hiểm của bệnh ty bảo hiểm<br /> nhân<br /> Nhân viên nhận bệnh không xác Thanh toán chậm 5 4 3 60<br /> minh quyền lợi bảo hiểm<br /> Thang điểm:<br /> Độ nghiêm trọng Xác suất xảy ra Khả năng phát hiện<br /> 1 = không ảnh hưởng 1 = khó có khả năng/ chưa bao giờ xảy 1 = gần như chắc chắn có thể phát hiện<br /> 2 = ảnh hưởng rất ít ra lỗi trước đây và khắc phục được<br /> 3 = ảnh hưởng vừa phải, ngắn hạn 2 = khả năng xảy ra thấp/ có một vài lỗi 2 = khả năng phát hiện và khắc phục<br /> 4 = có ảnh hưởng nhiều, về lâu dài 3 = thỉnh thoảng có lỗi được khá cao<br /> 5 = ảnh hưởng nghiêm trọng 4 = cao/ lỗi lặp lại 3 = khả năng phát hiện và khắc phục lỗi<br /> 5 = rất cao/ lỗi xảy ra gần như liên tục ở mức trung bình<br /> 4 = khả năng phát hiện và khắc phục lỗi<br /> ở mức thấp<br /> 5 = hiếm khi có thể phát hiện và khắc<br /> phục lỗi<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 24 Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2016<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 2 * 2016 Tổng Quan<br /> <br /> <br /> Nhiều biến thể của mô hình FMEA đang đề trong qui trình chăm sóc bệnh nhân cũng<br /> được sử dụng tại các cơ sở y tế. Một số cơ sở sử tương tự như vậy. Phát sai thuốc cho bệnh nhân<br /> dụng phương pháp phân tích nguy cơ chủ động nhập viện (một triệu chứng) là dấu hiệu cho thấy<br /> (proactive risk analysis) gọi là phương pháp bất ổn trong qui trình phát thuốc. Nếu những<br /> phân tích kiểu thất bại, hậu quả và mức nghiêm nhân viên có liên quan đến qui trình phát thuốc<br /> trọng. Tất các các mô hình đều có những đặc không tìm ra và khắc phục căn nguyên của<br /> điểm tương đồng. những sai sót, thì những lỗi tương tự trong phát<br /> Phương pháp phân tích căn nguyên thuốc có thể sẽ tiếp tục xảy ra trong tương lai.<br /> Phương pháp phân tích căn nguyên (root RCA cần được tiến hành ngày sau khi sự cố<br /> cause analysis – RCA) đã được sử dụng nhiều xảy ra. Giống như tất cả các dự án cải tiến khác,<br /> năm nay ở một số ngành khác. Từ năm 1996, các một đội được thành lập để tiến hành điều tra.<br /> tổ chức được công nhận bởi Ủy ban Liên hợp Đội này gồm những người chứng kiến sự cố và<br /> (The Joint Commission) đã được yêu cầu phải những người có chuyên môn trong qui trình. Ở<br /> tiến hành phân tích căn nguyên ngay sau các sự một số tổ chức, người quản lý hay lãnh đạo cấp<br /> cố nghiêm trọng do điều trị (sentinel event). Sự cao cũng có thể cùng làm việc với đội RCA. Lý<br /> cố nghiêm trọng do điều trị là một sự cố gây tử tưởng nhất là đội trưởng phải là người đã từng<br /> vong hay tổn hại nghiêm trọng cho người bệnh. có kinh nghiệm sử dụng kỹ thuật điều tra RCA.<br /> Từ “nghiêm trọng” phản ánh mức độ nghiêm Một khi đội hài lòng rằng đã tìm được tất<br /> trọng của tổn hại (ví dụ như mổ nhầm bệnh cả các yếu tố nguyên nhân, thì đội đã tìm ra<br /> nhân) cũng như khả năng điều tra sự cố sẽ tiết lộ được nguyên nhân gốc. Nguyên nhân gốc là<br /> những vấn đề nghiêm trọng về an toàn những nguyên nhân cơ bản của sự cố. Để phát<br /> (Wachter, 2008, tr. 276). Ủy ban Liên hợp cũng hiện ra được nguyên nhân gốc, đội đặt ra<br /> khuyến khích các cơ sở y tế tiến hành RCA ngay những câu hỏi “tại sao” cho mỗi yếu tố<br /> sau một trường hợp thoát nạn (near miss). nguyên nhân. Ví dụ như tại sao phòng khám<br /> Ca thoát nạn (near miss) là một sự cố tuy không gửi bản xác nhận lại lịch mổ như yêu<br /> không gây tử vong hay tổn thương song đã có cầu? Tại sao người điều dưỡng không kiểm tra<br /> khả năng xảy ra; chỉ là do may mắn mà bệnh lại thủ tục bằng cách đọc lại bệnh sử và báo<br /> nhân không bị tổn hại. Từ năm 1996, nhiều bang cáo khám lâm sàng của bệnh nhân? Tại sao<br /> đã thực thi những quy định tương tự như các mọi người không dừng lại để xác nhận lại cho<br /> tiêu chuẩn của Ủy ban Liên hợp. Những quy chắc vị trí phẫu thuật khi bệnh nhân tỏ ra bối<br /> định này yêu cầu các cơ sở y tế phải tiến hành rối về phẫu thuật mà ông ta sắp được thực<br /> các điều tra chính thức các sự cố nghiêm trọng. hiện? Tại sao điều dưỡng phụ trách công tác<br /> vệ sinh lại không chú ý đến cái dấu vị trí phẫu<br /> Như FMEA, qui trình RCA tựa như những<br /> thuật đánh trên gối phải của bệnh nhân trước<br /> gì chúng ta làm hầu như hằng ngày. Chẳng hạn<br /> khi phủ drap lên? Các câu hỏi tiếp tục được<br /> như, một âm thanh lạ phát ra từ cái xe của mình<br /> đặt ra cho đến khi đội phát hiện ra được các<br /> (triệu chứng) cho thấy có cái gì đó không ổn.<br /> vấn đề về hệ thống ẩn tàng bên dưới các yếu<br /> Nhưng triệu chứng không phải là nguyên nhân<br /> tố nguyên nhân. Các vấn đề về hệ thống có<br /> của vấn đề; chúng chỉ là những dấu hiệu cho<br /> nhiều dạng (Vincent, 2003):<br /> thấy có cái gì đó không ổn. Mở to radio để át đi<br /> âm thanh lạ không sửa chữa được lỗi ở hệ thống - Tổ chức và quản trị (ví dụ như các chính<br /> bơm nước (nguyên nhân gốc rễ) đã gây ra âm sách và tiêu chuẩn, văn hóa tổ chức, các giá trị và<br /> thanh đó. Vấn đề của chiếc xe sẽ còn đó nếu như những ưu tiên).<br /> căn nguyên của nó không được khắc phục. Vấn - Môi trường làm việc (ví dụ như: trình độ<br /> <br /> <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2016 25<br /> Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 2 * 2016<br /> <br /> đội ngũ nhân viên, khối lượng công việc, đa đội xây dựng giải pháp để ngăn sự cố tái diễn.<br /> dạng kĩ năng, nguồn lực sẵn có, và sự hỗ trợ từ Ủy ban Liên hợp đã sử dụng cụm từ những<br /> lãnh đạo). chiến lược giảm thiểu nguy cơ (risk reduction<br /> - Tinh thần đồng đội (ví dụ như giao tiếp, strategies) để mô tả những hành động phải thực<br /> năng lực lãnh đạo đội, và sẵn sàng tìm nguồn trợ hiện để giảm thiểu hoặc loại bỏ các căn nguyên.<br /> giúp). Các chiến lược giảm thiểu nguy cơ được chia<br /> thành ba loại chính:<br /> - Các thành viên trong đội (ví dụ như kiến<br /> thức và kĩ năng, động lực và thái độ). - Loại bỏ khả năng sai sót.<br /> - Nhiệm vụ (ví dụ như sử dụng những thủ - Giúp mọi người thực hiện công việc chính<br /> tục chuẩn hóa). xác.<br /> Một sự cố thường có bốn căn nguyên. Nếu - Giúp mọi người phát hiện và sửa lỗi trước<br /> đội phát hiện hơn 4 căn nguyên, nên tiếp tục khi tổn hại đến bệnh nhân.<br /> nghi vấn cho đến khi các nguyên nhân cơ bản lộ Những ví dụ về chiến lược trong mỗi loại<br /> rõ. Khi căn nguyên của sự cố được xác định, thì được mô tả trong Bảng 6.<br /> Bảng 6. Các loại hành động và chiến lược giảm thiểu nguy cơ<br /> Hành động Ví dụ về các chiến lược giảm thiểu nguy cơ<br /> Loại bỏ nguy cơ sai sót Thay đổi qui trình để ngăn sai sót<br /> Tái cấu trúc các nhiệm vụ để loại bỏ những hành vi gây ra sai sót.<br /> Tự động hóa qui trình để giảm vai trò của con người<br /> Mua thiết bị tránh lỗi<br /> Giúp nhân viên thực hiện Làm mẫu cho các hành động đúng<br /> công việc chính xác Tiến hành kiểm tra trước khi hành động, sử dụng danh sách kiểm tra (checklists) hay những<br /> cách nhắc khác (reminders)<br /> Đào tạo đội ngũ nhân viên và theo dõi việc tuân thủ qui trình<br /> Chuẩn hóa qui trình<br /> Giảm các bước trong quy trình từ đó giảm nguy cơ sai sót<br /> Thay đổi điều kiện làm việc (tăng cường ánh sáng, giảm tiếng ồn nơi làm việc)<br /> Bảo trì thiết bị theo khuyến cáo của nhà sản xuất (ví dụ như giám sát việc thực hiện lịch bảo<br /> trì)<br /> Giúp nhân viên phát hiện Đào tạo để có thể nhận ra và ứng phó tốt hơn với các tình huống bất thường<br /> và khắc phục sai sót Lập một đội chuyên môn gồm những người phối hợp và sẵn sàng ứng phó với những tình<br /> trước khi gây tổn hại đến huống bất thường<br /> bệnh nhân<br /> Những bước còn lại trong dự án RCA qui trình nào, thì RCA có thể được sử dụng để<br /> tương tự như các dự án cải tiến. Những chiến điều tra nguyên nhân của bất kì sai sót nào trong<br /> lược giảm thiểu nguy cơ được thực hiện và qui trình.<br /> thử nghiệm để xác định xem có đạt được Đưa bệnh nhân tham gia vào qui trình cải<br /> những kết quả kỳ vọng không. Nếu chiến lược thiện an toàn<br /> thành công, chúng sẽ được áp dụng tiếp. Trong báo cáo của IOM (2000) có tựa đề<br /> Những chiến lược không đạt được kết quả “Mắc lỗi là bản chất con người” có đề cập đến<br /> như mong đợi sẽ được đánh giá để xác định vai trò của bệnh nhân trong việc hạn chế lỗi<br /> xem tại sao không hiệu quả và những chiến cho thuốc:<br /> lược mới được phát triển và thử nghiệm.<br /> Bệnh nhân tự bản thân họ có thể cung cấp<br /> FMEA và RCA không sử dụng riêng rẽ để những kiểm tra an toàn chính trong hầu hết các<br /> cải thiện độ an toàn trong qui trình chăm sóc bệnh viện, phòng khám. Họ nên biết loại thuốc<br /> bệnh nhân. Tự như mô hình FMEA có thể được nào họ đang uống, đặc điểm nhận dạng của<br /> sử dụng để đánh giá nguy cơ tiềm ẩn cho bất kì<br /> <br /> <br /> 26 Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2016<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 2 * 2016 Tổng Quan<br /> <br /> chúng như thế nào, các loại tác dụng phụ và họ Năm 2002, Ủy ban Liên hợp phối hợp cùng<br /> cũng nên thông báo với bác sĩ những thay đổi với Hiệp hội Y khoa Mỹ và một số nhóm ở quốc<br /> khi dùng thuốc và sự thể hiện của tác dụng phụ. gia khác nhằm đưa bệnh nhân tham gia vào hoạt<br /> Năm 2003, Diễn đàn Chất lượng Quốc gia đã động cải thiện an toàn cho bệnh nhân. Ủy ban<br /> kêu gọi thêm nhiều nghiên cứu về nâng cao vai Liên hợp (2008, tr. 22) yêu cầu các cơ sở y tế đã<br /> trò của bệnh nhân trong việc giảm thiểu nguy cơ được kiểm định chất lượng khuyến khích bệnh<br /> gánh chịu các sai sót y khoa. Từ đó, ngày càng nhân tham gia tích cực vào qui trình điều trị của<br /> nhiều nghiên cứu khuyến cáo bệnh nhân và gia mình, là tham gia vào chiến lược an toàn cho<br /> đình bệnh nhân có thể trở thành những người bệnh nhân. Nhân viên y tế phải trao đổi với<br /> bảo vệ trong hệ thống y tế (Spath, 2008). Sau đây bệnh nhân và thân nhân về các mặt của qui trình<br /> là một số biện pháp để bệnh nhân có thể tự bảo điều trị và khuyến khích họ nêu những quan<br /> vệ mình trong thời gian điều trị ở bệnh viện: ngại về vấn đề an toàn.<br /> - Quan sát hoặc yêu cầu nhân viên y tế KẾT LUẬN<br /> kiểm tra thông tin bệnh nhân trước khi tiến Trong nhiều năm qua, các cơ sở y tế chủ yếu<br /> hành điều trị. trông mong vào nhân viên thực hiện nhiệm vụ<br /> - Luôn mang theo danh sách về bệnh sử, các chính xác để tránh cho bệnh nhân những tổn hại<br /> phương pháp điều trị hiện tại, tiền sử quá mẫn, không cố ý. Sau nhiều thập niên nghiên cứu, chủ<br /> và chia sẻ danh sách này với nhân viên y tế lúc yếu là từ các ngành khác, đã chứng minh rằng<br /> nhập viện. hầu hết các tai nạn xảy ra do nhân viên có năng<br /> - Biết bao lâu phải thay băng và yêu cầu ai lực song lại bất cẩn trong một hệ thống không<br /> thay băng. hiệu quả. Các cơ sở chăm sóc sức khỏe ngày nay<br /> - Biết chủng loại, liều lượng và tần suất sử mượn các kĩ thuật của các ngành khác và sử<br /> dụng thuốc; yêu cầu nhân viên y tế giải thích dụng phương pháp các hệ thống để cải thiện<br /> đơn thuốc để chắc chắn là đúng; nếu sai, yêu cầu mức độ an toàn cho bệnh nhân.<br /> nhân viên y tế xem lại. An toàn cho người bệnh chỉ là một bình diện<br /> - Quan sát hoặc hỏi xem nhân viên y tế đã trong chất lượng chăm sóc sức khỏe, song lại<br /> rửa tay chưa. nhận được sự quan tâm từ những nhà quản lý vĩ<br /> mô, những người sử dụng dịch vụ chăm sóc sức<br /> - Giám sát việc lau chùi các thiết bị và làm vệ<br /> khỏe, và những tổ chức kiểm định. Khi khái<br /> sinh môi trường xung quanh, báo cáo khi phát<br /> niệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong<br /> hiện vấn đề.<br /> lĩnh vực chăm sóc sức khỏe ngày càng phát triển,<br /> - Phải được hướng dẫn về lợi ích của việc bệnh nhân đang kỳ vọng sẽ đóng vai trò tích cực<br /> thay đổi vị trí trên giường bệnh và yêu cầu thay hơn trong bảo vệ sự an toàn của chính mình.<br /> đổi vị trí nếu không được thực hiện. Tăng cường vai trò của người bệnh trong việc cải<br /> - Yêu cầu giúp đỡ khi ra khỏi giường, hoặc thiện an toàn đang trở thành một đóng góp quan<br /> yêu cầu phương tiện trợ giúp (ví dụ như: gậy trọng cho những nỗ lực quản trị chất lượng ở các<br /> hoặc khung tập đi). cơ sở y tế.<br /> - Xác nhận rằng nhân viên y tế biết y lệnh An toàn của người bệnh bao gồm những<br /> của bác sĩ. thành tố cơ bản về quản trị chất lượng như: đo<br /> - Hỏi về các thiết bị để hiểu ý nghĩa những lường, đánh giá, và cải tiến. Hai mô hình cải tiến<br /> âm thanh hoặc tiếng ồn lạ, báo ngay cho nhân là FMEA và RCA, thường được sử dụng để giảm<br /> viên y tế khi xuất hiện vấn đề. thiểu nguy cơ sai sót nghiêm trọng.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2016 27<br /> Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 2 * 2016<br /> <br /> Lời cảm ơn: Các tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến GS BS 7. O'Leary M., Chappell SL. (1996). Confidential incident<br /> Nguyễn Đình Hối – nguyên Hiệu trưởng ĐH Y Dược TP. HCM reporting systems create vital awareness of safety problems.<br /> International Civil Aviation OrganizationJournal, 51(8), 11-3.<br /> – và TS BS Lưu Trọng Tuấn – Khoa Quản lý Nhà nước, ĐH Kinh<br /> 8. Reason JT. (2001). Heroic Compensations: the benign face of<br /> tế TP. HCM – về những góp ý quý báu cho nội dung bài viết.<br /> the human factor. Flight Safety Australia, 6(1), 29-31.<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO 9. Spath P. (2001).The basics of patient safety. Forest Grove, OR:<br /> Brown-Spath & Associates.<br /> 1. Institute of Medicine (IOM) (2000). To err is human: Building a 10. Spath P. (2008). Safety from the patient’s point of view. In<br /> safer health system. Washington, DC: National Academies Spath, P. (ed.), Engaging patients as safety partners: a guide for<br /> Press. reducing errors and improving satisfaction, 1-40. Chicago: Health<br /> 2. Institute of Medicine (IOM) (2001).Crossing the quality chasm: A Forum, Inc.<br /> new health system for the 21st century.Washington, DC: National 11. The Joint Commission (2008). Hospital Accreditation Program,<br /> Academies Press. 2009 Chapter: National Patient Safey Goalds (prepublication<br /> 3. Leape LL., Bates DW., Cullen DJ., Cooper J., Demonaco HJ., version). Oakbrook Terrace, IL.<br /> Gallivan T., Hallisey R., Ives J., Laird N., Laffel G., 12. Tucker AL., Edmondson AC. (2003). Why hospitals don't<br /> Edmondson A. (1995).Systems analysis of adverse drug learn from failures: Organizational and psychological<br /> events.JAMA, 274(1), 35-43. dynamics that inhibit system change. California Management<br /> 4. Lưu Thị Bích Ngọc và Lê Nguyễn Thùy Khanh (2014). Mô Review, 45(2), 55-72.<br /> hình hệ thống trong quản trị bệnh viện. Tạp chí Y học Thành 13. Vincent C. (2003). Understanding and Responding to Adverse<br /> phố Hồ Chí Minh, 18(4), 1-7. Events.New England Journal of Medicine, 348(11), 1051-1056.<br /> 5. Luu Trong Tuan (2012). Clinical governance: a lever for 14. Wachter RM. (2008). Understanding p
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2