
CÁNH KIẾN ĐỎ
CÁNH KIẾN ĐỎ
Lacca
Tên khoa học: Vị thuốc là sản phẩm do Sâu cánh kiến
(Laccifer lacca Kerr.), họ Sâu cánh kiến (Lacciferideae)
tạo ra.
Mô tả: Rệp son cánh kiến là một côn trùng rất nhỏ, dài
vào khoảng 0,6-0,7mm, rộng 0,3 đến 0,35mm hình trông
giống thuyền nhỏ, trên đầu có 2 râu, miệng có vòi nhỏ để
hút nhựa. Thân có ngực gồm 3 đốt, 3 đôi chân, 2 đôi lỗ

thở, bụng dài, ở phía cuối có 2 lông cứng dài. Rệp son có
con cái con đực, nhưng từ khi nhỏ đến lớn có nhiều dạng
khác nhau, trong con đực lại có con có cánh có thể bay từ
cành này sang cành khác trên một khoảng cách không xa
và có con đực không có cánh, chỉ bò quanh tập đoàn nhựa
mà thôi. Trong một tập đoàn, bình thường con đực chiếm
30-40%, con cái chiếm 60-70%. Con cái mới sản xuất ra
nhựa cánh kiến, con đực cũng nhựa nhưng tổ nhỏ và
mỏng. Tổ nhựa của con đực hơi hình thoi, còn tổ nhựa
của con cái hình tròn. Khi mới ở tổ mẹ chui ra, con rệp
son cánh kiến tìm đến những cành non thích hợp của cây
chủ rồi định cư thành những tập đoàn bao bọc cả hay một
phần chung quanh cành, chiều dài của tập đoàn (tổ nhựa)
dài 2 đến 50 cm có khi dài trên 1m. Khi rệp mới nở ra
trông không rõ đực cái, cũng không thấy râu, chân và
đuôi, chỉ là một hình bầu dục, đầu có vòi nhỏ cắm vào vỏ
cây, hai bên lưng và đuôi có 3 chùm lông tơ trắng. Sau 2
tuần định cư thấy xuất hiện các tổ nhựa đực (hình thoi) và
tổ nhựa cái (hình tròn), sau 1 tháng rưỡi các tổ đã khít lại
gần nhau, lúc này ta thấy có một số cánh kiến đực có cánh
và không cánh đi tìm con cái để giao hợp. Con cái nằm
nguyên trong tổ. Con đực chỉ sống 2-3 ngày, làm xong
nhiệm vụ thì chết. Sau thời kỳ này tổ phát triển mạnh.
Đến tháng 4-5 đối với vụ mùa hay tháng thứ 5 thứ 6 (đối
với vụ chiêm)
Phân bố: Sâu cánh kiến có ở nước ta và nước ta có trên
200 loài cây chủ, trên đó Sâu cánh kiến có thể sinh sống

và tạo Cánh kiến đỏ.
Thu hái: Mỗi năm có 2 vụ cánh kiến: Vụ chiêm buộc
giống vào tháng 8-10, thu hoạch vào tháng 4-5, vụ mùa
buộc giống vào tháng 4-5, thu hoạch vào tháng 9-10
Thành phần hoá học:
- Nhựa 4%: Gồm nhựa mềm tan trong ether (25%) và
nhựa cứng không tan trong ether (75%). Nhựa là hỗn hợp
các poliester dẫn chất của các acid béo có nhóm OH và
các acid thuộc nhóm sesquiterpen.
Các acid là acid aleuritic (22%), acid senlolic, acid jolaric,
acid butonic, acid tetradecanoic, acid hexadecanoic, acid
octadecanoic...
- Chất màu (2 - 3%): Gồm các chất đỏ tan trong nước là
phức hợp của nhiều loại acid laccaic, chất màu vàng
không tan trong nước, erytrolaccin (1, 2, 5, 7
tetrahydroxy-4-methylantraquinon).
- Sáp (6,6%): Trong đó phần tan trong cồn nóng chiếm
80% và phần tan trong benzen chiếm 20%.
- Các muối, đường (glucose, arabinose, fructose).
- Tạp chất: Xác sâu kiến, đất, cát.

Công năng: Thanh nhiệt, lương huyết, giải độc, chỉ
huyết, đậu chẩn.
Công dụng: Nhựa cánh kiến để làm phẩm màu, nhuộm
thức ăn, tráng bóng trái cây, hột cà phê và một số loại hột
khác. Nhựa cánh kiến cũng được dùng để pha màu sơn và
vẹc ni các loại và dùng trong keo xịt tóc. Trong kỹ nghệ,
người ta dùng nhựa cánh kiến để làm nón nỉ, feutre có pha
chút nhựa cánh liến sẽ cứng và đứng hẳn lên, làm keo gắn
kín các miếng ron (joints hay gaskets), làm loại sáp làm
kín, làm mực in, để tráng lên mặt sau các lá bài có tiêu
chuẩn cao, và dùng shellac trắng, pha chế với các chất
hóa học khác làm chất sáp đánh bóng sàn nhà. Trong y
khoa, người ta dùng nhựa cánh kiến trong việc chế tạo các
khuôn làm răng giả, và làm lớp tráng bên trong các bình
dùng trữ nước tiểu trong 24 giờ để thử nghiệm, nhất là
dành cho người bị bệnh tiểu đường. Ngày nay, nhựa cánh
kiên đỏ còn được dùng trong công nghiệp vecni, son, mạ
những sản phẩm chiu nhiệt, chịu acid, chiu tác động của
khí hậu khắc nghiệt, như máy bay, đồ điện tử cao cấp;
Sản phẩm cánh kiến đỏ còn dùng rộng rãi trong dược
phẩm, thực phẩm, mỹ phẩm, túi nilon tự hủy.... Những
sản phẩm thân thiên với môi trường và sức khỏe cộng
đồng.
Cách dùng, liều lượng:

- Thuốc hạ sốt: Ngày dùng 4 - 6g; Cồn gômlac 5% chấm
răng để phòng sâu răng, làm hương liệu, bao viên thuốc
chống ẩm. Làm chất mầu, chất tạo màng (vecni, chất cách
điện, keo dán).

