intTypePromotion=1
ADSENSE

Câu hỏi ôn tập môn Đường lối Đảng Cộng sản Việt Nam

Chia sẻ: Con Khác | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:7

203
lượt xem
53
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu Câu hỏi ôn tập Đường lối Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra những câu hỏi và đáp án trả lời trong môn học, từ đó giúp các bạn nắm bắt được những kiến thức cơ bản để có thể ghi nhớ bài học một cách tốt hơn. Mời các bạn tham khảo tài liệu để nắm bắt nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Câu hỏi ôn tập môn Đường lối Đảng Cộng sản Việt Nam

  1. CÂU HỎI ÔN ĐƯỜNG LỐI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 1. Vì sao nói sự ra đời của Đảng là một bước ngoặc trong lịch sử Việt Nam? + Trước khi có Đảng: Từ  năm 1858, thực dân Pháp xâm lược và từng bước thiết lập chế  độ  thống trị rất tàn bạo, hà khăc và phản động của chủ nghĩa thực dân lên đất nước ta. Nước ta trở  thành một nước phong kiến nữa thuộc địa. Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với đế  quốc xâm   lược và giữa nhân dân ta chủ yếu là nông dân với bọn địa chủ  và tay sai. Nhiều cuộc khởi nghĩa  nổi lên đều thất bại, nguyên nhân là do các phong trào thiếu đường lối cứu nước đúng đắn, thiếu   lực lượng, thiếu phương pháp cách mạng, thiếu một Đảng chính trị  làm trung tâm hạt nhân để  lãnh đạo phong trào. + Khi có Đảng: Sự ra đời của Đảng năm 1930 là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu   tranh dân tộc trong thời đại mới, là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác­Lenin với phong trào  công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài  mấy chục năm đã được giải quyết. Cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản   Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thắng lợi cách mạng tháng Tám 1945, chiến  thắng Điện Biên Phủ 1954, giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước1975, 30 năm đổi mới đất  nước. + Từ năm 1930 lịch sử Đảng gắn liền với lịch sử dân tộc, vận mệnh của Đảng gắn liền với   vận mệnh của cả dân tộc, thuận lợi của Đảng gắn liền với thuận lợi của cả dân tộc. + Chăm lo xây dựng Đảng là yếu tố  hàng đầu quyết định sự  thắng lợi của cách mạng Việt   Nam. 2. So sánh điểm giống nhau và khác nhau giữa cương lĩnh tháng 2 và luận cương tháng   10 năm 1930 của Đảng? Giống nhau: ­ Phương hướng chiến lược cách mạng: tư sản dân quyền cách mạng và thổ  địa cách mạng  để đi tới xã hội cộng sản ­ Nhiệm vụ cách mạng: đánh đổ  đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến giành độc lập   dân tộc, lấy lại ruộng đất. ­ Lực lượng cách mạng: công nhân và nông dân ­ Phương pháp cách mạng: cả chính trị và vũ trang ­ Vị trí quốc tế: là một bộ phận của cách mạng thế giới ­ Lãnh đạo cách mạng: giai cấp công nhân thông qua Đảng cộng sản ­ Cả  hai văn kiện điều thấm nhuần chủ  nghĩa Mác­Lênin và cách mạng vô sản chịu  ảnh   hưởng của cách mạng tháng Mười Nga. Khác nhau: Cương lĩnh tháng 2 Luận cương tháng 10 Xây   dựng   đường   lối   của   cách   mạng  Xây   dựng   đường   lối   của   cách   mạng  Việt Nam Đông Dương Xác  Đánh đổ  giặc Pháp trước sau đó đánh  Đánh   đổ   phong   kiến,   thực   hành   cách 
  2. định  đổ   phong   kiến   và   tay   sai   phản   cách  mạng ruộng đất triệt để  và đánh đổ  đế  kẻ  mạng (nhiệm vụ dân tộc và dân chủ)  quốc   chủ   nghĩa   Pháp,   làm   cho   Đông  thù,  Dương hoàn toàn độc lập. nhiệm   Chưa   xác   định   được   kẻ   thù,  vụ,  nhiệm vụ  hàng đầu  ở  một nước thuộc  mục  địa  nữa   phong kiến  nên không  nêu  cao  tiêu  vấn đề  dân tộc lên hàng đầu đó là nêu  cách  cao vấn đề đấu tranh giai cấp cách mạng  mạng  ruộng đất Lực  Giai cấp công nhân và nông dân là lực  Giai cấp vô sản và nông dân là hai động  lượng  lượng chính nhưng bên cạnh đó phải  lực   chính   của   cách   mạng   tư   sản   dân  cách  liên minh đoàn kết với tiểu tư sản, lợi  quyền. Giai cấp vô sản là động lực chính  mạng dụng   hoặc   trung   lập   phú   nông,   trung  và mạnh,là giai cấp lãnh đạo cách mạng.  nông, tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam  Giai cấp nông dân đông đảo nhất là động  chưa rỏ mặt phản cách mạng lực mạnh của cách mạng.  Đánh giá không đúng vai trò tầng  lớp tiểu tư  sản. Phủ  nhận mặt tích cực  của tiểu tư  sản dân tộc, chưa thấy khả  năng phân hóa lôi kéo một bộ  phận địa  chủ   vừa   và   nhỏ   trong   cách   mạng   giải  phóng dân tộc. Tuy   còn   sơ   lược   vắn   tắt   nhưng   đã  Sử  dụng một cách rập khuôn máy móc  vạch   ra   phương   hướng   cơ   bản   cho   chủ nghĩa Mác­Lenin và cách mạng Việt  cách mạng nước ta, phát triển từ  cách  Nam, còn quá nhấn mạnh đấu tranh giai  mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách  cấp. mạng xã hội chủ nghĩa. Vận   dụng   đúng   đắn   sáng   tạo,   nhạy  bén   chủ   nghĩa   Mác­Lenin   vào   hoàn  cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam,   kết   hợp   nhuần   nhiễn   chủ   nghĩa   yêu  nước   và   chủ   nghĩa   quốc   tế   vô   sản,  giữa tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản  và thực tiễn cách mạng Việt Nam  3. Vì sao nói thành công cách mạng tháng Tám thể  hiện tài tình sáng suốt của Đảng  trong việc lựa chọn thời cơ cách mạng? Thành công cách mạng tháng Tám thể hiện tài tình sang suốt của Đảng trong việc lựa chọn thời  cơ cách mạng là vì: Đảng ta đã phân tích tình hình, chuẩn bị lực lượng đợi thời cơ, chủ động đợi  và chớp lấy thời cơ. + Năm 1940, phát­xít Ðức tiến công nước Pháp, Pa­ri đã thất thủ rơi vào tay quân Ðức, còn ở Việt  Nam, Nhật nổ súng đánh chiếm Lạng Sơn, hai đế quốc Nhật ­ Pháp tranh nhau miếng mồi Ðông  Dương. Phân tích về diễn biến cuộc chiến tranh giữa phe phát­xít và Ðồng minh, lãnh tụ Nguyễn 
  3. Ái Quốc khẳng định, thắng lợi cuối cùng sẽ thuộc về phe dân chủ và nhận định thời cơ giải  phóng dân tộc đang đến rất gần, + Với quyết tâm phải giành cho được tự  do, độc lập, Ðảng chỉ  đạo tích cực xây dựng lực   lượng cách mạng trước hết tập trung xây dựng lực lượng chính trị  rộng khắp của quần chúng,  đồng thời xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng; chủ  động đón thời cơ, nổi dậy giành chính   quyền, khởi nghĩa từng phần, tiến tới tổng khởi nghĩa.  + Ngày 9­3­1945, phát­xít Nhật đảo chính Pháp, kéo theo đó là tình trạng khủng hoảng chính  trị   ở  Việt Nam. Ngay lập tức Ban Thường vụ Trung  ương Ðảng đã họp và đưa ra những nhận  định khách quan về thời cơ khởi nghĩa đang đến rất gần: "Những cơ hội tốt đang giúp cho những  điều kiện khởi nghĩa mau chín muồi"; và ra Chỉ  thị: "Nhật ­ Pháp bắn nhau và hành động của   chúng ta". Ðảng quyết định phát động cao trào chống Nhật cứu nước. + Khi phát­xít Nhật đầu hàng Ðồng minh (13­8­1945), trong lúc 16 nghìn quân Anh chưa vào   miền nam và 200 nghìn quân Tưởng chưa vào miền bắc để giải giáp quân Nhật; cũng là lúc quân   Nhật bại trận mất tinh thần, ngồi chờ Ðồng minh đến tước vũ khí; ngụy quyền tay sai bỏ  trốn   hoặc đầu hàng chính quyền cách mạng. Ðảng ta khẳng định, tình thế  cách mạng đã xuất hiện,  đây là cơ hội giải phóng dân tộc ngàn năm có một: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã   đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự  giải phóng cho ta". Cả  dân tộc theo   tiếng gọi của Người, nhất tề đứng lên khởi nghĩa, chỉ trong chưa đầy nửa tháng, các địa phương  trong cả nước đã giành thắng lợi.  Thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945 chứng tỏ, Ðảng ta có tầm nhìn vượt trước  thời gian, xác định đúng thời cơ, cho nên đã chuẩn bị tốt lực lượng, sẵn sàng chủ động, chớp thời   cơ lãnh đạo nhân dân ta đứng lên tổng khởi nghĩa giành thắng lợi. Ðây là sự  vận dụng sáng tạo  quy luật vận động phát triển của khởi nghĩa và cách mạng, khôn khéo trong nghệ  thuật chỉ đạo  chớp thời cơ, giành thắng lợi.  4. Vì sao nói trong sự  nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta nguồn lực con  người là quan trọng nhất? Trong sự  nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nước ta lấy việc phát huy nguồn lực con người   làm yếu tố cơ bản để phát triển nhanh chóng và bền vững. Vì:  ­ Nếu là các nguồn lực khác như  vốn, tài nguyên thì sẽ  có hạn, nếu sử  dụng quá mức mà   không có biện pháp phục hồi dễ dẫn đến suy thoái và mất đi. ­ Nếu là nguồn lực kĩ thuật công nghệ mà không có nguồn lực con người sử dụng thì cũng  không thể phát huy được giá trị của nguồn lực.  Nguồn lực con người là quan trọng nhất, vì con người là vô hạn. Là một nguồn lực càng   sử  dụng thì càng có thể  phát huy cao hơn khả  năng hiện tại, càng phát triển hơn. Nguồn   lực con người là quan trọng nhất trong mọi nguồn lực, là nguồn tài nguyên quan trọng nhất  trong mọi nguồn tài nguyên. Các nguồn lực khác muốn phát huy tác dụng đều phải thông  qua nguồn lực con người.  Phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường   phát triển tất yếu của Việt Nam để thực hiện mực tiêu xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân  chủ, công bằng, văn minh”, là nguồn động lực để phát triển kinh tế­xã hội.
  4. 5. Thế  nào là kinh tế  thị trường định hướng XHCN? Nền kinh tế nước ta không phải là  nền kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp, cũng không phải là nền kinh tế tự do theo kiểu các nước tư  bản và cũng chưa hoàn toàn là nên kinh tế thị trường XHCN. Đó là một hình thức tổ chức kinh tế  vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và chịu sự dẫn dắt chi phối bởi  các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội **** Có ý kiến cho rằng làm gì có mô hình kinh tế  thị  trường định hướng XHCN quan   niệm của em về vấn đề này như thế nào? + nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta không phải là kiểu kinh tế  quản lý tập trung theo kiểu quan lieu bao cấp, kinh tế th ị trường tự do t ư b ản ch ủ nghĩa, chưa   hoàn toàn là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ  nghĩa. Bởi vì nước ta đang ở trong thời kì   quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn có sự đan xen và đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. + tính chất chung của nền kinh tế  thị  trường là các chủ  thể  kinh tế  có tính độc lập, có   quyền tự  do trong sản xuất kinh doanh. Giá cả  do thị  trường quyết định, hệ  thống thị  trường   được phát triển đầy đủ và có tác dụng làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực kinh tế. + Nền kinh tế vận động theo quy luật vốn có của nền kinh tế thị trường như quy luật giá  trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Có sự  điều tiết vĩ mô của nhà nước thông qua pháp   luật kinh tế, kế hoạch hóa, các chính sách kinh tế Nước ta xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên lấy phát triển   kinh tế thị trường là phương tiện để đạt được mực đích cơ bản xây dựng xã hội chủ nghĩa, thực  hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Con người được giải phóng khỏi áp   bức bốc lột, có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Vì vậy mỗi   bước tăng trưởng kinh tế phải gắng liền với cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ, công bằng   xã hội. Việc phân phối các quỹ  phúc lợi tập thể  và xã hội có ý nghĩa quan trọng để  thực hiện   mục tiêu đó. 6. Thế nào là nhà nước pháp quyền ?  Là tổ chức quyền lực công khai trong hệ thống chính trị của xã hội công dân được xây dựng trên  nền tảng các tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại như  công bằng, nhân đạo, dân chủ  và pháp   chế, nhằm đảm bảo thực sự  những giá trị  xã hội được thừa nhận chung của nền văn minh thế  giới – sự tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do của con người, sự ngự trị của pháp luật trong các  lĩnh vực sinh hoạt của xã hội, tính tối cao của pháp luật trong các lĩnh vực hoạt động của nhà  nước, sự phân công quyền lực (lập pháp, hành pháp và tư pháp) và chủ quyền nhân dân. ­ Khía cạnh hình thức, tức là sự  ngự  trị  của pháp luật, sự  gang buộc bởi pháp luật đối với   Nhà nước và tất cả các thành viên khác của xã hội ­ Khía cạnh nội dung pháp lý, tức là bản thân pháp luật phải đảm bảo yêu cầu khách quan   thúc đẩy tiến bộ xã hội. *** Tư tưởng của Đảng về nhà nước  pháp quyền qua các kì đại hội? ­ Yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền lần đầu tiên được Đảng ta chính thức đưa vào   văn kiện Đại hội VII của Đảng, trong đó nêu rõ: “Quốc hội cần hướng vào việc thực hiện hai  yêu cầu cơ bản: Một là, xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nhà nước có năng lực định ra một hệ  thống luật pháp đồng bộ đáp ứng được yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế ­ xã hội và quản lý 
  5. mọi mặt xã hội văn minh, tiến bộ; hệ thống pháp luật đó là cơ  sở  bảo đảm cho đường lối, chủ  trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được thực thi có hiệu quả, là một nhân tố  trọng yếu   làm cho các quan hệ xã hội của chúng ta trở  nên lành mạnh hơn. Hai là, bảo đảm quyền lực và   hiệu lực trên thực tế của Quốc hội, do Hiến pháp quy định”. ­ Từ Đại hội VII đến Đại hội VIII, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước  pháp quyền đã có bước phát triển. Ở Đại hội VIII, Đảng ta xác định thêm tính “xã hội chủ nghĩa”  cho nhà nước pháp quyền, tức là chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Ở  đây, chúng ta thấy bước phát triển tư duy lý luận của Đảng về nhà nước pháp quyền là ở chỗ đã   đề  cao tính pháp chế, coi đó là đặc trưng cơ  bản của nhà nước pháp quyền, đồng thời cũng coi  trọng khía cạnh đạo đức như một thuộc tính của xã hội chủ nghĩa. “Tăng cường pháp chế xã hội  chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời  coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức" ­ Tại Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục chủ  trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ  nghĩa và xác định bản chất của nhà nước, đó là của dân, do dân và vì dân. Đồng thời với chủ  trương tăng cường pháp chế, các Nghị quyết của Đại hội IX cũng chủ trương mở rộng dân chủ ­  là cơ  sở  chính trị  ­ xã hội của nhà nước pháp quyền xã hội chủ  nghĩa. Còn về  cơ  sở  kinh tế  ­   chính trị của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được Đảng ta dựa trên bản chất định hướng   xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường. ­ Chủ trương xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được Đảng  ta khẳng định lại ở Đại hội X: “Xây dựng cơ chế vận hành của nhà nước pháp quyền xã hội chủ  nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả  quyền lực nhà nước đều thuộc về  nhân dân, quyền lực nhà  nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập   pháp, hành pháp và tư pháp. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy   định trong văn bản pháp luật. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp   pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền. ­ Chủ  trương đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ  nghĩa Việt Nam với   những đặc trưng đã nêu ở trên vẫn tiếp tục được khẳng định tại Đại hội XI của Đảng, trong đó  Đảng ta đặc biệt chú ý đến việc “nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo   pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương” ­ Nghị  quyết Đại hội XII của Đảng về  Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được bổ  sung, phát triển, hoàn thiện và được diễn đạt khá rõ ràng so với các kỳ  đại hội trước. Khi tiếp  cận quan điểm về  Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong Nghị  quyết Đại hội XII của  Đảng là hướng tới làm rõ bản chất cách mạng, khoa học và những bổ sung, phát triển mới, đồng   thời phải cụ thể hóa vào giáo dục, tuyên truyền để nó thâm nhập sâu rộng vào đời sống tinh thần,   hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân.  7. Phân tích quan điểm đối ngoại Việt Nam sẳn sàng là bạn, là đối tác tinh cậy, là  thành viên có trách nhiệm? Bước vào thời kỳ  đổi mới trước những biến đổi đa dạng đa chiều của tình hình thế  giới cũng   như trong khu vực.  Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1991 đã đề  ra đường lối đối ngoại rộng mở, đa  phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, hóa giải thế  bị  bao vây cô lập. Việc thực hiện nhất   quán và không ngừng mở  rộng, hoàn chỉnh nội hàm của đường lối sáng suốt  ấy, đã góp phần   quan trọng vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc và tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi nhất có thể 
  6. để đất nước đạt được kỳ tích phát triển trong thời kỳ Đổi mới. Từ một quốc gia nghèo nàn, lạc   hậu, bị tàn phá nặng nề sau hàng chục năm chiến tranh, Việt Nam đã vươn lên nhóm nước có thu  nhập trung bình và đang hội nhập quốc tế sâu rộng với vị thế ngày một được nâng cao. Bài học thành công này là cơ sở để khẳng định, trong một thế giới ngày càng gắn kết với nhiều   cơ  hội rộng mở  song cũng  ẩn chứa những biến động khó lường, đất nước chỉ  có thể  tiếp tục   vững vàng đi tới nếu kiên trì đường lối độc lập, tự chủ, huy động tổng lực nội lực đi đôi với việc   tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế và thực thi một chính sách đối ngoại khôn   khéo, linh hoạt, không để bị lợi dụng, bị lôi kéo đi với nước này để chống nước kia, hoặc rơi vào   thế  cô lập. Lịch sử  và thực tiễn luôn nhắc nhở  rằng, mỗi quốc gia đều có lợi ích và tính toán   riêng, việc các nước lớn thỏa hiệp trên lưng nước nhỏ  chẳng phải là câu chuyện lạ  lẫm. Để  không rơi vào tình thế  này, khó có kế  sách nào hơn việc phát huy tối đa tinh thần tự  lực, tự  cường, kiên định, nhất quán theo đuổi đường lối độc lập tự  chủ  và chính sách đối ngoại đa   phương hóa, đa dạng hóa. Đại hội XI đã nêu rõ định hướng nâng cao hiệu quả  các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các   mối quan hệ  quốc tế  vào chiều sâu. Cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ  ngoại giao với hơn   170 nước và có quan hệ  về kinh tế, thương mại và đầu tư  với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ.   Trong các mối quan hệ song phương này, Việt Nam tiếp tục ưu tiên tạo dựng khuôn khổ quan hệ  hợp tác hữu nghị, ổn định lâu dài với các nước láng giềng, các nước khu vực. Việt Nam sẽ chủ động thúc đẩy quan hệ nhiều mặt với các nước lớn, các nước công nghiệp phát  triển trên cơ sở hữu nghị, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi. Trong khi triển khai chính sách đối  ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa, Việt Nam cũng luôn coi trọng củng cố và tăng cường quan hệ  hữu nghị và hợp tác của Việt Nam với các nước bạn bè truyền thống, các nước khác ở  châu Á,  Đông Âu, Trung Đông, châu Phi và Mỹ La­tinh. Từ “muốn là bạn” (Đại hội VII, VIII), “sẵn sàng là bạn” (Đại hội IX), “là bạn và đối tác tin cậy”   (Đại hội X), Đại hội XI bổ sung thêm “thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Nội   hàm này thể  hiện bước trưởng thành của ngoại giao Việt Nam với sự  tham gia ngày càng tích   cực, chủ  động, có trách nhiệm tại các cơ chế/tổ chức/diễn đàn khu vực, đa phương và toàn cầu  (ngoại giao đa phương), góp phần củng cố, nâng cao vị  thế  của Việt Nam trên trường quốc tế,   bổ sung, hỗ trợ hiệu quả cho ngoại giao song phương. Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế nhưng chúng ta luôn nhận thức rõ rằng, các quốc  gia tuy chia sẻ một số lợi ích chung song luôn có những lợi ích riêng, đôi khi trái chiều nhau, nên   trong quan hệ quốc tế luôn diễn ra quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh. Thành công sẽ  đến khi   chúng ta chủ  động, tích cực phát huy các điểm tương đồng, có giải pháp phù hợp khắc phục   những bất đồng nhằm thúc đẩy hợp tác để  vừa bảo vệ  được các lợi ích cơ  bản của đất nước,   vừa bảo đảm lợi ích chính đáng của các đối tác và lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc   tế. Việt Nam đã, đang và sẽ còn xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với nhiều nước. Song, nội   hàm của mỗi mối quan hệ đối tác chiến lược này không hoàn toàn giống nhau. Có mối quan hệ  hợp tác toàn diện, có mối quan hệ đặt trọng tâm vào hợp tác kinh tế, giáo dục… Đường lối độc lập, tự chủ và chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế là sợi chỉ  xuyên suốt tạo nên những thành tựu đối ngoại của Việt Nam trong thời gian qua. Với sự kế thừa   và phát triển của Đại hội XI, việc thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại này là điều kiện tiên   quyết để  hoàn thành nhiệm vụ  giữ  vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công 
  7. nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ  vững chắc độc lập, chủ  quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh   thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân  tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2