LỚP 12 - CÂU HỎI LỊCH SỬ VIỆT NAM
Câu 1:
Tóm tắt sự chuyển biến của kinh tế Việt Nam dưới tác động của những cuộc khai thác thuộc địa
do thực dân Pháp tiến hành ở Đông Dương.
Sau khi dập tắt phong trào phong trào Cần Vương, thực dân Pháp căn bản hoàn thành công cuộc
bình định nước Việt Nam và tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất do Pôn
Đume phụ trách. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp tiến hành chương trình khai thác lần
thứ hai do Anbe Xarô phụ trách. Dưới tác động của các chương trình này, nền kinh tế Việt Nam
có sự biến chuyển.
a) Về tính chất của nền kinh tế
- Do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tính chất nền kinh tế Việt Nam ít
nhiều có sự biến đổi. Quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, gắn liền với sự ra đời những đô thị
mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới. Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa hình thành và
có sự phát triển.
- Tuy nhiên, sự chuyển biến trên chỉ có tính chất cục bộ ở một số vùng, còn phổ biến vẫn trong
tình trạng lạc hậu, nghèo nàn và bị cột chặt và nền kinh tế Pháp. Đông Dương vẫn là thị trường
độc chiếm của tư bản Pháp.
b) Và cơ cấu kinh tế
- Và cơ cấu ngành kinh tế
+ Từ một nền kinh tế thuần nông, đã xuất hiện những ngành kinh tế mới như công nghiệp, giao
thông vận tải, tài chính ngân hàng,…
+ Trong nông nghiệp : diện tích đồn điền cao su đặt mở rộng, nhiều công ty cao su đặt thành lập.
(Công ty Đất Đỏ, Công ty Misơlanh…)
+ Trong công nghiệp: việc khai thác mỏ, trước hết là khai thác than đặt chú trọng. Nhiều công ty
khai thác than đặt thành lập. (Công ty than Hạ Long, Đông Triều…) Các cơ sở khai thác kẽm,
thiếc, sắt đều đặt bổ sung thêm vốn, nhân công và đẩy mạnh tiến độ khai thác.
+ Thương nghiệp, ngoại thương có bước phát triển mới. Giao lưu hàng hóa nội địa đặt đẩy mạnh.
+ Trog ngành tài chính – ngân hàng: Ngân hàng Đông Dương nắm quyền kinh tế Đông Dương.
Năm 1930, ngân sách tăng 3 lần so với 1912.
+ Trong giao thông vận tải: đường sắt, đường bộ và đường thủy ngày càng phát triển phục vụ
khai thác kinh tế và các mục đích quân sự.
- Về cơ cấu vùng kinh tế: từ chỗ không có một vùng kinh tế rõ rệt, đặt xuất hiện những vùng
kinh tế mới như các vùng mỏ và đồn điền, với sự tập trung nguồn vốn, kỹ thuật và nhân lực của
tư bản Pháp.
- Về cơ cấu thành phần kinh tế: từ chỗ chỉ có thành phần kinh tế tiểu nông, đặt xuất hiện những
thành phần kinh tế mới như tư bản tư nhân, tư bản nhà nước, tiểu thương và tiểu chủ.
c) Nhận xét chung
Dưới tác động của các cuộc khai thác thuộc địa do thực dân Pháp tiến hành ở Đông Dương, nền
kinh tế Việt Nam ít nhiều có sự biến chuyển. Tuy nhiên, thực dân Pháp không du nhập hoàn
chỉnh phương thức tư bản chủ nghĩa vào Việt Nam, mà vẫn duy trì quan hệ phong kiến; kế hoạch
hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến để thu nhiều lợi nhuận. Vì thế, nền kinh tế Việt
Nam không thể phát triển một cách bình thường lên chủ nghĩa tư bản được, mà chủ yếu vẫn là
một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, què quặt và phụ thuộc nặng nề vào nền kinh tế Pháp.
Câu 2:
Nêu ý nghĩa lịch sử những cuộc khởi nghĩa và kháng chiến thắng lợi của nhân dân Việt Nam
trong thế kỉ XX. Những cuộc khởi nghĩa và kháng chiến đó đã góp phần xóa bỏ ách thống trị trên
toàn thế giới?
Trong thế kỉ XX, ở Việt Nam có nhiều cuộc khởi nghĩa và kháng chiến, nhưng chỉ có ba cuộc
khởi nghĩa và kháng chiến giành thắng lợi là: 1- Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; 2- Cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954); 3- Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954-
1975).
a) Ý nghĩa lịch sử của Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945
- Đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm, ách thống trị của phát xít Nhật gần 5
năm, chấm dứt chế độ phong kiến ngót chục thế kỉ ở Việt Nam, lập nên nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa – Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; giải quyết thành công vấn đề
cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền.
- Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ
bước lên địa vị người làm chủ đất nước. Đảng Cộng sản từ chỗ phải hoạt động bí mật, bất hợp
pháp, trở thành một Đảng cầm quyền. Dân tộc Việt Nam tiến lên hàng các dân tộc tiên phong
trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
- Đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của Cách mạng Việt Nam, mở đầu kỉ nguyên mới của dân
tộc: kỉ nguyên độc lập, tự do; kỉ nguyên nhân dân lao động năm chính quyền; kỉ nguyên giải
phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội.
- Góp phần vào chiến thắng của phe Đồng minh chống phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ
hai, đột phá một khâu trọng yếu trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc; cổ vũ mạnh mẽ
các dân tộc thuộc địa đang đấu tranh giành độc lập ở Á, Phi, Mĩ Latinh, “có ảnh hưởng trực tiếp
và rất to lớn đến hai dân tộc bạn là Miên và Lào”.
b) Ý nghĩa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)
- Chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược, đồng thời chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp gần
một thế kỉ trên đất nước Việt Nam.
- Miền Bắc được giải phóng, chuyển sang giai đoạn cm xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở cho cuộc đấu
tranh thống nhất đất nước, trở thành căn cứ địa của cuộc cách mạng cả nước, thành hậu phương
lớ của tiền tuyến lớn miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước sau này.
- Giáng đòn nặng nề vào tham vọng xâm lược, âm mưu nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, góp phần
làm tan rã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng
dân tộc ở Châu Á, Châu Phi và khu vực Mĩ Latinh.
c) Ý nghĩa cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954-1975)
- Kết thúc thắng lợi 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc từ sau Cách mạng
tháng Tám năm 1945, chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến ở Việt
Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong phạm vi cả nước, thống nhất
Tổ quốc.
- Mở ra kỉ nguyên mới của lịch sử dân tộc – kỉ nguyên cả nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ
nghĩa xã hội.
- Tác động mạnh đến tình hình nước Mĩ và thế giới, là nguồn cổ vũ lớn đối với phong trào giải
phóng dân tộc trên thế giới.
- Đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam là một trang chói lọi nhất, một biểu tượng về sự toàn thắng của
chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người; đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ
đại của thế kỉ XX, một sự kiện có ý nghĩa thời đại và tầm vóc quốc tế.
d) Những cuộc khởi nghĩa và kháng chiến đó đã góp phần xóa bỏ ách thống trị của chủ nghĩa
thực dân trên thế giới.
Câu 3:
Phân tích bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam. Bài học nào có
thể vận dụng để giải quyết vấn đề biển, đảo hiện nay?
a) Bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám năm 1945
Thực tiễn cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 của dân tộc Việt Nam để lại nhiều bài học kinh
nghiệm quý báu, nhất là những bài học về thay đổi chủ trương chiến lược, về xây dựng lực
lượng, và phương pháp cách mạng và về xây dựng một chính Đảng cách mạng vững mạnh.
- Một là, phải giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai
nhiệm vụ độc lập dân tộc và cách mạng ruộng đất. Đó là bài học về xác định chủ trương, về chỉ
đạo chiến lược.
Mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Việt Nam thời thuộc địa là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt
Nam với đế quốc xâm lược và tay sai. Mâu thuẫn đó quy đinh nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng
là chống đế quốc, giành độc lập dân tộc. Đó là yêu cầu khách quan của lịch sử.
Mặt khác, giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp đông đảo nhất (chiếm hơn 90% dân số). Khi
đất nước bị đế quốc xâm lược, nông dân là đối tượng chủ yếu của các chính sách khai thác thuộc
địa, bóc lột tô thuế và cướp đoạt ruộng đất. Giải phóng dân tộc cũng chính là giải phóng nông
dân. Yêu cầu số một của giai cấp nông dân là thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, là
độc lập dân tộc, chứ chưa phải là ruộng đất.
Trong giai đoạn 1939-1945, Đảng đã thay đổi chủ trương chiến lược cho phù hợp với hoàn cảnh
lịch sử, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”,
đưa Cách mạng tháng Tám đến thành công.
Thực tiễn lịch sử trên đây khẳng định rằng, trong điều kiện xã hội thuộc địa, phải đặt nhiệm vụ
giải phóng dân tộc lên hàng đầu, coi đó là nhiệm vụ bức thiết nhất. Nhiệm vụ cách mạng ruộng
đất cần tạm gác lại, nhằm phục vụ cho nhiệm vụ chống đế quốc.
- Hai là, xây dựng một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, đoàn kết mọi lực lượng chống đế
quốc. Đó là bài học về xây dựng lực lượng cách mạng.
Trong xã hội Việt Nam thuộc địa có nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau. Trừ bộ phận đại địa
chủ phong kiến phản động và tư sản mại bản làm tay sai cho đế quốc, những giai cấp và tầng lớp
còn lại (công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc, địa chủ vừa và nhỏ) đều chung số phận
đất nước và đều có mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi dân tộc, nền đều có thể tham gia cách
mạng giải phóng dân tộc.
Để chuẩn bị lực lượng cho Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng đã lãnh đạo xây dựng Mặt
trận Việt Minh với các tổ chức quần chúng mang tên “Cứu quốc”, đoàn kết mọi người Việt Nam
có lòng yêu nước thương nòi, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng,
tạo ra sức mạnh toàn dân tộc, đồng thời phân hóa, cô lập cao độ kẻ thù là đế quốc xâm lược và
tay sai để tập trung mũi nhọn đấu tranh vào chúng.
Mặt trận Việt Minh đã huy động lực lượng toàn dân tộc lên trận tuyến đấu tranh cách mạng, tan
rã sức mạnh áp đảo, đưa Tổng khởi nghĩa tháng Tám đến thành công. Thực tiễn đó để lại bài
học, để xây dựng một mặt trận thống nhất dân tộc rộng rãi, dựa trên cơ sở khối liên minh công
nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh và độc
lập tự do.
- Ba là, phải kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị với
đấu tranh vũ trang; đi từ khởi nghĩa từng phần ở nông thôn, tiến lên chớp đúng thời cơ tổng khởi
nghĩa ở cả nông thôn và thành thị. Đây là bài học về phương pháp, cách mạng, về nghệ thuật chỉ
đạo khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Trong điều kiện một nước thuộc địa, kẻ thù luôn dùng bạo lực đặt thống trị và bóc lột quần
chúng, thì con đường đã tự giải phóng, dùng để đập tan bộ máy chính quyền của đế quốc và tay
sai, thiết lập chính quyền cách mạng.
Bạo lực của Cách mạng tháng Tám năm 1945 dựa trên cơ sở hai lực lượng: lực lượng chính trị
và lực lượng vũ trang; biểu hiện ở sự kết hợp hai hình thức đấu tranh: đấu tranh chính trị và đấu
tranh vũ trang trong một cuộc tổng khởi nghĩa toàn dân; đi từ khởi nghĩa từng phần và chiến
tranh du kích cục bộ ở vùng nông thôn, tiến lên chớp thời cơ tổng khởi nghĩa ở cả nông thôn và
thành thị.
Sức mạnh áp đảo của cuộc khởi nghĩa dân tộc làm tan rã bộ máy chính quyền quân phiệt Nhật
Bản và tay sai ở cả trung ương và địa phương, ở cả nông thôn và thành thị trong đó những cuộc
khởi nghĩa ở thành thị nhằm vào các cơ quan đầu não của kẻ thù, có tác dụng quyết định thắng
lợi của tổng khởi nghĩa.
- Bốn là, xây dựng Đảng vững mạnh về thị trường, chính trị và tổ chức, đủ năng lực và uy tín để
lãnh đạo cách mạng thành công.
Để đưa Cách mạng tháng Tám đến thành công, Đảng đã vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, lí luận
cách mạng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh để xác định đường lối, chiến lược và sách lược; có
biện pháp tổ chức, xây dựng lực lượng và phương pháp cách mạng sáng tạo, lãnh đạo nhân dân
đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa.
Trong suốt 15 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn kết hợp xây dựng và đấu tranh thông qua
thực tiễn đấu tranh để rèn luyện đội ngũ cán bộ, Đảng viên, làm cho Đảng ngày càng phát triển
và trưởng thành.
Nhờ quan hệ gắn bó với nhân dân, với dân tộc, luôn lấy lợi ích của cách mạng, của nhân dân làm
mục tiêu phấn đấu, Đảng có uy tín tuyệt đối trong quần chúng. Đường lối giải phóng dân tộc
đúng đắn của Đảng đáp ứng nguyện vọng cứu nước của mọi tài liệu nhân dân, làm cho Đảng quy
tụ được lực lượng và sức mạnh toàn dân tộc và đưa cách mạng đến thành công.
Thực tiễn quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc giai đoạn 1930-1945 nói chung trong Cách
mạng tháng Tám nói riêng chứng tỏ rằng, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu đảm bảo
mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì thế, phải không ngừng xây dựng Đảng vững mạnh về
mọi mặt, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân
tộc Việt Nam.
b) Bài học có thể vận dụng để giải quyết vấn đề biển, đảo hiện nay
(Học sinh có thể căn cứ vào tình hình thực tế để trình bày ý kiến và suy nghĩ riêng về bài học của
Cách mạng tháng Tám năm 1945 có thể vận dụng để giải quyết vấn đề chủ quyền biển, đảo của
Tổ quốc, nhưng cần lập luận chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc. Dưới đây là một số gợi ý vận dụng bài
học về xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi).
- Từ năm 1974, Trung Quốc dùng lực lượng quân sự đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa
dưới sự quản lí của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đến năm 1988m Trung Quốc chiếm một
số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Ngày 1-5-2014, Trung Quốc cho giàn khoan
Hải Dương 981 và các tàu bảo vệ ngang nhiên hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm
lục địa của Việt Nam được quy định bởi Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982, vi
phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 (DOC). Việt Nam có đầy đủ
cơ sở pháp lí, chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa; quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và
thềm lục địa ở Biển Đông.
- Trong tình hình trên, có thể và cần phải vận dụng bài học: “Tăng cường xây dựng mặt trận dân
tộc thống nhất rộng rãi, tập hợp, tổ chức, đoàn kết mọi lực lượng trong cộng đồng dân tộc Việt
Nam, tạo nên sức mạnh toàn dân, tạo cơ sở thực lực để đấu tranh bằng mọi biện pháp cần thiết
nhằm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Trên cơ sở thống nhất ý chí và hành động của toàn dân, Việt Nam có điều kiện để đoàn kết với
các nước trong khu vực Đông Nam Á và các nước trong cộng đồng thế giới, tranh thủ sự đồng
tình ủng hộ của nhân dân thế giới, làm sáng tỏ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt
Nam, vạch trần hành động vi phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc, qua đó cô lập và làm
thất bại hành động của họ. Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khóa XI), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: tình hình biển Đông hiện đang diễn
biến rất phức tạp, nghiêm trọng, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải hết sức tỉnh táo,
sáng suốt, tăng cường đoàn kết, cả nước một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn
vẹn lãnh thỗ của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát
triển đất nước.
Câu 4:
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các giai cấp trong xã hội Việt Nam có sự chuyển biến như thế
nào? Sự chuyển biến đó có tận dụng gì đối với phong trào dân tộc, dân chủ ở Việt Nam trong
những năm 1919-1930?
a) Sự chuyển biến giai cấp trong xã hội Việt Nam (Như trong chuẩn)
b) Tác động đến phong trào dân tộc, dân chủ, đồng thời tạo ra cơ sở xã hội cho sự tiếp thu những
hệ tư tưởng mới truyền bá vào Việt Nam, kể cả tư tưởng tư sản và tư tưởng vô sản, để làm vũ khí
đấu tranh.
- Những giai cấp mới và những hệ tư tưởng mới làm cho phong trào dân tộc, dân chủ ở Việt Nam
mang những tính chất mới mà các phong trào yêu nước trước kia không thể nào có được.
- Hình thành nên hai khuynh hướng tư sản và khuynh hướng vô sản. Cả hai khuynh hướng này
đều vươn lên giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc. Đây là đặc điểm của phong trào dân tộc
Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến đầu năm 1930.
Câu 5:
Trình bày hoàn cảnh lịch sử của phong trào cách mạng Việt Nam 1930-1931. Vì sao từ đầu năm
1930, Đảng Cộng sản Việt Nam nắm ngọn cờ lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam?
a) Hoàn cảnh lịch sử (như trong chuẩn)
b) Vì sao từ đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam nắm ngọn cờ lãnh đạo duy nhất đối với
cách mạng Việt Nam?
- Cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2-1930) bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu, kéo theo sự tan rã hoàn
toàn của Việt Nam Quốc dân đảng, chấm dứt vai trò lịch sử của giai cấp tư sản Việt Nam.
- Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, là lực lượng duy nhất còn tồn tại trên vũ đài
chính trị, có tổ chức chặt chẽ, đường lối chính trị đúng đắn và phương pháp cách mạng khoa học
đảm đương sứ mệnh lssu nắm ngọn cờ lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam.
Câu 6:
Vì sao nói sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam ở vào tình thế "ngàn cân treo
sợi tóc"? Trình bày ý kiến về từng sách lược của Việt Nam trong việc hòa hoãn quân Trung Hoa
Dân quốc và thực dân Pháp.
a) Vì sao nói sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam ở vào tình thế "ngàn cân treo
sợi tóc"? (Như trong chuẩn)
b) Trình bày ý kiến về từng sách lược của Việt Nam trong việc hòa hoãn quân Trung Hoa Dân
quốc và thực dân Pháp
- Từ tháng 9-1945 đến trước ngày 6-3-1946: thực hiện sách lược hòa hoãn với quân Trung Hoa
Dân quốc. Đó là việc làm cần thiết vì:
+ So sánh lực lượng chưa có lợi cho cách mạng, cần tránh trường hợp phải đánh nhiều kẻ thù
cùng một lúc.
+ Cần có thời gian hòa bình để củng cố chính quyền và xây dựng lực lượng cách mạng về mọi
mặt.
+ Mặt khác, Trung Hoa Dân quốc đang phải lo đối phó với lực lượng cách mạng Trung Quốc.
Nội bộ của Trung Hoa Dân quốc có mâu thuẫn, Việt Nam có thể lợi dụng những khó khăn đó để
hòa hoãn với quân Trung Hoa Dân quốc.
- Từ ngày 6-3-1946 đến trước ngày 19-12-1946: thực hiện sách lược "hòa để tiến", nhân nhượng
với Pháp. Đó là sự thay đổi sách lược phù hợp với tình hình đất nước lúc đó vì:
+ Hiệp ước Hoa - Pháp được kí kết (28-2-1946). Theo đó, quân Pháp được thay quân Trung Hoa
Dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật ở Bắc vĩ tuyến 16. Tình hình đó đặt Việt Nam trước
hai khả năng: hoặc là phải đánh hai kẻ thù cùng lúc, hoặc là hòa hoãn với Pháp để đuổi quân
Trung Hoa Dân quốc về nước. Để tránh tình trạng phải đối phó với nhiều kẻ thù cùng lúc, Chính
phủ Việt Nam quyết định hòa hoãn với Pháp.
+ Hòa hoãn với Pháp có tác dụng đẩy quân Trung Hoa Dân quốc về nước, bớt cho nhân dân Việt
Nam một kẻ thù nguy hiểm.
+ Tạo ra thời gian hòa bình vô cùng quý báu để củng cố lực lượng kháng chiến Nam Bộ và Nam
Trung Bộ; tiếp tục củng cố chính quyền, chuẩn bị lực lượng về mọi mặt cho một cuộc kháng
chiến lâu dài.
Câu 7:
Nêu những điểm khác nhau giữa Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam
(đầu năm 1930) và Luận cương chính trị (10-1930) của Đảng Cộng sản Đông Dương. Vì sao có
sự khác nhau đó?
a) Những điểm khác nhau
- Về nội dung của cuộc cách mạng tư sản dân quyền
+ Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là làm
“tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.
+ Luận cương chính trị tháng 10-1930 nêu rõ cách mạng Đông Dương lúc đầu là cuộc cách mạng
tư sản dân quyền có tính chất thổ địa và phản đế, sau đó sẽ tiếp tục phát triển bỏ qua thời kì tư
bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa.
+ Như vậy, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, tư sản đế quốc cách mạng không bao gồm nhiệm
vụ ruộng đất mà chỉ thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Cách mạng ruộng đất là một cuộc
cách mạng khác. Còn trong Luận cương chính trị tháng 10-1930, tư sản dân quyền sự bao gồm
cả nhiệm vụ cách mạng ruộng đất và nhiệm vụ giải phóng dân tộc.
- Về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ độc lập dân tộc và cách mạng ruộng đất
+ Cương lĩnh chính trị đầu tiên nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu trong giai đoạn trước mắt là giải
phóng dân tộc (đánh đổ Đế quốc Pháp, bọn phong kiến và tư sản phản cách mạng làm cho nước
nước Việt Nam được độc lập tự do…; tịch thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc; tịch thu ruộng đất
của đế quốc và bọn phản cách mạng chia cho dân cày nghèo.
+ Luận cương chính trị tháng 10-1930: Hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là đánh đổ
phong kiến và đánh đổ đế quốc có quan hệ khăng khít với nhau. Luận cương nhấn mạnh “vấn đề
thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền”.
+ Như vậy, Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định nhiệm vụ cách mạng bao gồm cả hai nội dung
dân tộc dân chủ, chống đế quốc và phong kiến nhưng nổi lên hàng đầu là chống đế quốc và giành
độc lập dân tộc. Còn Luận cương chính trị nhấn mạnh đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng
đất, không đưa ngọn cờ dân tộc lên hàng đầu.
- Về tập hợp lực lượng cách mạng:
+ Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định lực lượng cách mạng là công nhân, nông dân, tiểu tư
sản, trí thức. Đối với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản phải lợi dụng hoặc trung lập.
+ Luận cương chính trị tháng 10-1930; động lực cách mạng là công nhân, nông dân.
+ Như vậy, Cương lĩnh chính trị đầu tiên chủ trương tập hợp lực lượng toàn dân tộc, thể hiện tư
tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh. Còn Luận cương chính trị không thấy được khả
năng cách mạng của tiểu tư sản, khả năng chống đế quốc của tư sản dân tộc, khả năng phân hóa
và lôi kéo một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ đi theo cách mạng.
b) Vì sao có sự khác biệt đó?
- Do nhận thức thực tiễn: Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại hội nghị tháng 10-1930 chưa
nhận thức được mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội thuộc địa là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc bị
áp bức với đế quốc xâm lược, nên không nhận thức được nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng là
giải phóng dân tộc. Từ đó, Trung ương Đảng không thấy được mặt tích cực của giai cấp và tầng
lớp trên, nên không coi họ là lực lượng cách mạng.
- Do ảnh hưởng của tư tưởng tả khuynh, giáo điều, nhấn mạnh một chiều đấu tranh giai cấp đang
tồn tại trong Quốc tế Cộng sản và một số Đảng Cộng sản anh em lúc đó. Về sau này, trong quá
trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đặt từng bước khắc phục những hạn chế của Luận cương chính
trị tháng 10-1930 và đưa cách mạng đến thành công.
Câu 8:
Dựa vào những dữ liệu trong bảng dưới đây và những kiến thức đã được học, hãy xác định vai
trò của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thời gian Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc
Tháng 7-1920 Đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề
thuộc địa của Lênin.
Tháng 12-1920 Dự Đại hội Tua, tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản, tham gia thành
lập Đảng Cộng sản Pháp.
Năm 1921 Tham gia thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa.
Năm 1922 Làm chủ nhiệm báo Người cùng khổ, viết bài cho báo Nhân đạo, Đời
sống công nhân.
Năm 1923 Viết Bản án chế độ thực dân Pháp; rời Pháp sang Liên Xô dự Hội nghị
Quốc tế nông dân.
Năm 1924 Dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản, viết bài cho báo Sự thật của Đảng
Cộng sản Liên Xô, cho tạp chí Thư tin quốc tế của Quốc tế Cộng sản.
Tháng 11-1924 Đến hoạt động ở Quảng Châu (Trung Quốc), mở lớp đào tạo cán bộ.
Tiếp xúc với Tâm tâm xã.
Năm 1925 Thành lập nhóm Cộng sản đoàn, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên,
sáng lập báo Thanh niên.
Năm 1927 Tác phẩm Đường Kách mệnh được xuất bản, cùng với báo Thanh niên
trang bị lí luận cách mạng giải phóng dân tộc cho cán bộ Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên để tuyên truyền cho nhân dân.
Năm 1930 Triệu tập và chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Soạn
thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
a) Nguyễn Ái Quốc là người có vai trò hết sức quan trọng trong việc chuẩn bị những điều kiện về
tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam những năm 20 của thế kỉ
XX.
- Về tư tưởng chính trị: Sau khi bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin và xác định con đường giải phóng
dân tộc theo khuynh hướng vô sản, Nguyễn Ái Quốc đã hoạt động kiên trì, bền bỉ, xây dựng và
truyền bá lí luận cách mạng giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản vào Việt Nam. Lí luận
đó được trình bày qua nhiều bài báo, một số tham luận tại các Đại hội và hội nghị quốc tế và một
số Tác phẩm. Đó là sự chuẩn bị về tư tưởng chính trị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
và đặt nền móng để xây dựng nên Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng sau này.
- Về tổ chức: Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (6-1926). Đây là
một tổ chức yêu nước có khuynh hướng cộng sản, một tổ chức quá độ để tiến lên thành lập Đảng
Cộng sản, một bước chuẩn bị có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng.
Thông qua những lớp huấn luyện chính trị, Người trực tiếp đào tạo một đội ngũ cán bộ cho cách
mạng Việt Nam.
b) Sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam
- Người chủ động triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, gồm đại biểu hai
nhóm Đông Dương Cộng sản đảng và An Nam Cộng sản đảng. Với uy tín tuyệt đối, Người đã
đưa Hội nghị đến thành công. Các đại biểu đều nhất trí bỏ mọi thành kiến xung đột, thành thật
hợp tác, thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam,
- Người trực tiếp soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, bao gồm Chính cương vắn
tắt, Sách lược vắn tắt và được Hội nghị thành lập Đảng thông qua. Đó là cương lĩnh giải phóng
dân tộc đúng đắn và sáng tạo.
- Ở vào thời điểm diễn ra bước ngoặt của lịch sử, sự xuất hiện của Nguyễn Ái Quốc là sự xuất
hiện của mới lãnh tụ. Vì thế, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là hình ảnh tượng trưng cho bước
ngoặt vĩ đại trong tiến trình phát triển của lịch sử cách mạng Việt Nam.
Câu 9:
Trình bày và nhận xét nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam được xác định trong Cương
lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam và Luận cương chính trị tháng 10-1930 của
Đảng Cộng sản Đông Dương.
a) Cương lĩnh chính trị đầu tiên
- Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng xác định nhiệm vụ cụ thể của cách mạng tư sản dân
quyền (tức cách mạng giải phóng dân tộc) là: đánh đổ Đế quốc Pháp, bọn phong kiến và tư sản
phản cách mạng, làm cho nước Việt Nam được độc lập tự do, lập Chính phủ công nông binh; tổ
chức quân đội công nông, tịch thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc; tịch thu ruộng đất của đế quốc
và bọn phản cách mạng chia cho dân cày nghèo…
- Nhận xét:
Bản Cương lĩnh đầu tiên xác định nhiệm vụ cách mạng bao gồm cả hai nội dung dân tộc và dân
chủ, chống đế quốc và chống phong kiến, nhưng nhiệm vụ hàng đầu là chống đế quốc và giành
độc lập dân tộc.
Điều đó phản ánh đúng yêu cầu khách quan của lịch sử, vì ở nước Việt Nam thuộc địa, mâu
thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược là mâu thuẫn chủ yếu nhất, cần tập
trung giải quyết.
Cương lĩnh đáp ứng nguyện vọng độc lập, tự do của quần chúng nhân dân, làm cho Đảng ngay
khi mới ra đời đã quy tụ được lực lượng và sức mạnh toàn dân tộc và làm dấy lên phong trào
cách mạng trong những năm 1930-1931.
b) Luận cương chính trị tháng 10-1930
- Luận cương chính trị tháng 10-1930 xác định cách mạng Đông Dương lúc đầu là cuộc cách
mạng tư sản dân quyền “có tính chất thổ địa và phản đế”; tiến hành cả hai nhiệm vụ cách mạng
ruộng đất và giành độc lập dân tộc. Hai nhiệm vụ này gắn bó khăng khít với nhau.
- Nhận xét:
Luận cương chưa nêu được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Đông Dương, không đưa vấn đề dân
tộc lên hàng đầu, mà nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất.
Đây là một hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10-1930, đồng thời cũng là điểm khác biệt so
với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
Câu 10:
Giữa chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968) và chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”
(1969-1973) của Mĩ ở Việt Nam có những điểm giống nhau và khác nhau như thế nào?
a) Giống nhau
- Âm mưu và mục đích: chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc
địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ ở Đông Nam Á; làm bàn đạp tiến công miền Bắc và ngăn
chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội xuống khu vực Đông Nam Á.
- Về bản chất: đều là những loại hình chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới; đều dựa vào bộ
mặt chính quyền và quân đội Sài Gòn do Mĩ trực tiếp viện trợ, huấn luyện, trang bị, tổ chức và
chỉ huy.
- Về thủ đoạn: đều ra sức thực hiện các kế hoạch bình định nhằm chiếm đất, giành dân; đều có
hoạt động phối hợp bằng chiến tranh phá hoại miền Bắc; phối hợp hoạt động quân sự với các
biện pháp chính trị và ngoại giao.
b) Khác nhau
- Về lực lượng: Trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ” có quân Mĩ, quân đồng minh của Mĩ và
quân đội Sài Gòn, trong đó quân đội Mĩ giữ vai trò chủ yếu. Trong chiến lược “Việt Nam hóa
chiến tranh”, quân đội Sài Gòn giữ vai trò chủ yếu; quân đội Mĩ giữ vai trò phối hợp chiến đấu
và yểm trợ và hỏa lực.
- Về biện pháp: trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mĩ liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân
“tìm diệt” và “bình định” (hai cuộc phản công mùa khô 1965-1966 và 1966-1967). Trong chiến
lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mĩ đẩy mạnh các hoạt động “bình định”, lợi dụng mâu thuẫn
Xô – Trung.
- Quy mô (địa bàn): trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mĩ mở rộng ra miền Bắc bằng chiến
tranh phá hoại. Trong chất lượng “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mĩ mở rộng thành “Đông Dương
hóa chiến tranh”.
Câu 11:
Trình bày và nhận xét hoạt động của tư sản Việt Nam trong những năm 1919-1923
a) hoạt động của tư sản Việt Nam
- Từ năm 1919, tư sản Việt Nam mở cuộc vận động “chấn hưng nội hóa, bài trừ ngoại hóa”; đấu
tranh chống độc quyền thương cảng Sài Gòn, chống độc quyền xuất khẩu lúa gạo ở Nam Kì.
- Năm 1923, một số tư sản và đại địa chủ ở Nam Kì thành lập Đảng Lập hiến. Đảng này cũng
nêu một số khẩu hiệu đòi tự do dân chủ đã tranh thủ quần chúng.
- Ngoài ra còn có nhóm Nam phong và nhóm Trung Bắc tân văn hoạt động ở Bắc Kì. Họ mở các
cuộc vận động đòi tự do đi lại, tự do ngôn luận, tự do buôn bán.
b) Nhận xét về các hoạt động yêu nước của tư sản
- Về lực lượng: chủ yếu là tư sản và địa chủ lớp trên.
- Về mục tiêu: nhằm thay đổi một số chính sách trong khuôn khổ của chế độ thuộc địa, tạo điều
kiện cho tư sản Việt Nam sản xuất, kinh doanh.
- Mũi nhọn đấu tranh mới chỉ nhằm vào bộ phận tư sản Hoa kiều hoặc một số công ti của tư bản
Pháp, chưa dám chống lại toàn bộ nền thống trị của thực dân Pháp tại Việt Nam.
- Về tính chất: nhìn chung, phong trào mang nặng tính chất cải lương, giới hạn trong khuôn khổ
chế độ thực dân, phong kiến, nên khi được Pháp nhượng bộ cho ít quyền lợi hoặc thẳng tay đàn
áp, thì họ lại đi vào con đường đầu hàng, thõa hiệp, nên nhanh chóng bị phong trào quần chúng
vượt qua.
Câu 12:
Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) của Đảng Cộng sản Đông Dương được
thể hiện trong các tài liệu cơ bản nào? Hãy nêu và giải thích nội dung của đường lối đó.
a) Tài liệu cơ bản
Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng ta được thể hiện trong Chỉ thị Toàn dân
kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (12-12-1946), Lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến của Hồ Chí Minh (19-12-1946) và được giải thích cụ thể trong tác phẩm Kháng chiến nhất
định thắng lợi của Trường Chinh (9-1947).
b) Nêu và giải thích nội dung đường lối kháng chiến
- Xác định mục đích kháng chiến là giành độc lập và thống nhất hoàn toàn. Hồ Chí Minh kêu
gọi: “Thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
- Xác định tính chất của cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện.
+ Kháng chiến toàn dân
Kháng chiến toàn dân là huy động toàn dân đánh giặc và đánh giặc bằng mọi vũ khí có trong tay;
thực hiện các khẩu hiệu “Toàn dân kháng chiến”, “Kháng chiến khắp nơi”, "Mỗi làng là một
pháo đài".
Phải kháng chiến toàn dân vì so sánh lực lượng giữa Việt Nam và Pháp rất chênh lệch, nếu chỉ
dựa vào lực lượng quân đội thì sẽ không thể nào thắng được giặc. Đó là sự kế thừa và phát huy
truyền thống "cả nước chung sức đánh giặc" của dân tộc, thể hiện tư tưởng “chiến tranh nhân
dân” của Hồ Chí Minh.
+ Kháng chiến toàn diện
Kháng chiến toàn diện là kháng chiến trên tất cả các mặt: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa – xã
hội và ngoại giao.
Phải kháng chiến toàn diện vì: 1- Thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn để xâm lược nước Việt Nam
và thống trị nhân dân Việt Nam, nên phải làm thất bại mọi thủ đoạn của chúng. 2- Để kháng
chiến thắng lợi phải xây dựng một hậu phương vững mạnh và mọi mặt, đồng thời phải tranh thủ
sự ủng hộ và giúp đỡ của quốc tế.
- Xác định phương châm chiến lược: trường kì và tự lực cánh sinh
+ Kháng chiến trường kì
Đây là phương châm chiến lược đánh lâu dài, từng bước làm thay đổi so sánh lực lượng trên
chiến trường, tiến lên tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định để kết thúc chiến tranh.
Phải kháng chiến trường kì vì: 1- So sánh lực lượng giữa Việt Nam và Pháp rất chênh lệch,
không thể giành thắng lợi nhanh chóng; 2- Để chống lại chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh”
của giặc Pháp, không cho quân Pháp phát huy lối đánh sở trường của chúng; 3- Cần có thời gian
để vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa kháng chiến vừa xây dựng và vận động quốc tế.
+ Kháng chiến tự lực cánh sinh
Đây là phương châm dựa vào sức mình là chính, nhằm phát huy mọi nỗ lực chủ quan tránh bị
động trông chờ vào sự giúp đỡ bên ngoài. Trong thời gian đầu (1946-1949), cuộc kháng chiến
nằm trong tình thế bị bao vây, cô lập, càng phải phát huy tinh thần tự lực cánh sinh.
Trong khi nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, Đảng và Chính phủ vẫn coi trọng sự giúp đỡ quốc
tế, nên vẫn ra sức tuyên truyền, vận động quốc tế, tranh thủ mọi sự giúp đỡ về vật chất và tinh
thần, lằm tăng thêm sức mạnh của cuộc kháng chiến.
- Đường lối kháng chiến của Đảng là đường lối chiến tranh nhân dân. Đó là nguồn cổ vũ, dẫn dắt
cả dân tộc Việt Nam đứng lên kháng chiến, là xuất phát điểm cho mọi sự thắng lợi của cuộc
kháng chiến.
Câu 13:
Trình bày hoàn cảnh ra đời, chính sách và biện pháp của Xô viết Nghệ - Tĩnh trên các lĩnh vực
chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội. Vì sao nói Xô viết Nghệ - Tĩnh thực sự là chính quyền cách
mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng?
a) Hoàn cảnh ra đời
- Trong phong trào cách mạng 1930-1931, Nghệ - Tĩnh là nơi phong trào phát triển mạnh mẽ
nhất. Quần chúng tổ chức tuần hành thị uy, biểu tình có vũ trang tự vệ tiến công vào bộ máy
chính quyền thực dân, phong kiến ở địa phương.
- Trước khí thế đấu tranh của quần chúng, bộ máy chính quyền thực dân và phong kiến tay sai ở
nhiều nơi bị tê liệt, ở nhiều xã bị tan rã.
- Các Ban Chấp hành Nông hội xã do các Chi bộ Đảng lãnh đạo đứng ra quản lí mọi mặt đời
sống xã hội ở nông thôn, làm chức năng, nhiệm vụ của một chính quyền nhà nước dưới hình thức
các Ủy ban tự quản theo kiểu Xô viết.
b) Chính sách và biện pháp
- Về chính trị, thực hiện các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân. Thành lập đội tự vệ đỏ, tòa án
nhân dân.
- Về kinh tế, thi hành các biện pháp như: chia lại ruộng đất công cho dân cày nghèo, bãi bỏ thuế
thân, thuế chợ; xóa nợ cho người nghèo; tu sửa cầu cống, đường giao thông, lập các tổ chức để
nông dân giúp đỡ nhau sản xuất…
- Về văn hóa – xã hội, mở lớp dạy chữ Quốc ngữ cho các tầng lớp nhân dân, xóa bỏ tệ nạn mê tín
dị đoan, xây dựng nếp sống mới.
c) Xô viết Nghệ - Tĩnh thực sự là chính quyền cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của
Đảng
- Về tổ chức : Chính quyền Xô viết được hình thành từ các Ban Chấp hành Nông hội do các Chi
bộ Đảng ở địa phương lãnh đạo.
- Về hoạt động: Các chính sách và biện pháp của Xô viết Nghệ - Tĩnh để đem lại nhiều lợi ích
cho nhân dân, tỏ rõ bản chất cách mạng và tính ưu việt của chính quyền cách mạng; là chính
quyền của dân, do dân và vì dân.
- Xô viết Nghệ - Tĩnh là mẫu hình chính quyền cách mạng đầu tiên ở Việt Nam. Các xô viết
được thành lập và thực thi những chính sách tiến bộ chứng tỏ rằng Xô viết Nghệ - Tĩnh là đỉnh
cao của phong trào cách mạng 1930-1931.
Câu 14:
Tóm tắt diễn biến của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam. Vì
sao nói những cuộc khởi nghĩa ở thành thị có ý nghĩa quyết định thắng lợi của Tổng khởi nghĩa?
a) Tóm tắt diễn biến (Như trong chuẩn)
b) Những cuộc khởi nghĩa ở thành thị có ý nghĩa quyết định thắng lợi của Tổng khởi nghĩa
- Thành thị, nhất là những thành phố lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn là nơi tập trung các cơ quan
đầu não của kẻ thù. Những cuộc khởi nghĩa ở thành thị, nhằm vào các cơ quan đó, làm cho chính
quyền của Nhật và tay sai bị tê liệt, tạo điều kiện để các địa phương khác giành thắng lợi.
- Cách mạng tháng Tám năm 1945 diễn ra với sự kết hợp chặt chẽ giữa khởi nghĩa ở nông thôn
và thành thị, trong đó những cuộc khởi nghĩa ở thành thị giữ vai trò qi thắng lợi của Tổng khởi
nghĩa.
Câu 15:
Nêu những sự kiện lịch sử tiêu biểu thể hiện tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam
và Lào trong 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược (1945-1975).
a) Trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954)
- Nhân dân ba nước Việt - Lào - Campuchia đoàn kết chống xâm lược dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Đông Dương.
- Tháng 3-1951, Liên minh nhân dân Việt – Miên – Lào được thành lập, tăng cường tình đoàn
kết trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.
- Tháng 4-1953, bộ đội Việt Nam phối hợp với bộ đội Pathét Lào mở chiến dịch Thượng Lào,
làm cho căn cứ kháng chiến ở Lào được mở rộng và nối liền với vùng Tây Bắc Việt Nam.
- Trong Đông – Xuân 1953 – 1954, liên quân Lào – Việt mở chiến dịch Trung – Lào, giải phóng
thị xã Thà Khẹt và toàn bộ tỉnh Khăm Muộn, uy hiếp Xênô; tiến công địch ở Thượng Lào, mở
rộng căn cứ kháng chiến ở Lào và góp phần làm phá sản kế hoạch Nava.
- Với chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam, thực dân Pháp buộc phải kí Hiệp định Giơnevơ
về Đông Dương (21-7-1954), công nhận các quyền dân tộc cơ bản của ba nước Đông Dương.
b) Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ (1954-1975)
- Ngày 24 và 25-4-1970, Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương họp tại Hà Nội, biểu thị quyết
tâm đoàn kết chiến đấu chống Mĩ.
- Nửa đầu năm 1970, quân tình nguyện Việt Nam ở Lào cùng quân dân Lào đập tan cuộc hành
quân lấn chiếm Cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng, giải phóng một vùng rộng lớn ở Nam Lào.
- Tháng 2 và 3-1971, quân và dân Việt Nam phối hợp với quân và dân Lào đập tan cuộc hành
quân “Lam Sơn – 719” của quân đội Sài Gòn ra vùng Đường 9 – Nam Lào giữ vững hành lang
chiến lược của cách mạng Đông Dương.
- Thắng lợi của cách mạng Việt Nam buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pari (1973), sau đó các phái ở
Lào thỏa thuận kí Hiệp định Viêng Chăn (21-2-1973), lập lại hòa bình và thực hiện hòa hợp dân
tộc ở Lào.
- Chiến thắng 30-4-1975 của Việt Nam đã cổ vũ và tạo điều kiện cho cuộc kháng chiến chống Mĩ
ở Lào giành thắng lợi hoàn toàn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ra đời (2-12-1975).
- Tình đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam – Lào là một trong những nhân
tố chiến lược đảm bảo thắng lợi của cuộc kháng chiến ở mỗi nước.
Câu 16:
Trong hơn một năm sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng và Chính phủ Việt Nam
đã giải quyết những khó khăn về chính trị, quân sự như thế nào? Nêu ý nghĩa của việc giải quyết
đó.
a) Giải quyết khó khăn về chính trị - quân sự
- Một tuần sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 8-9-1945, Chính phủ lâm thời
công bố lệnh tổng tuyển cử trong cả nước.
- Ngày 6-1-1946, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức cuộc Tổng tuyển cử bầu
Quốc hội trong cả nước. Hơn 90% cử tri đi bỏ phiếu và bầu được 333 đại biểu vào Quốc hội đầu
tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
- Sau cuộc bầu cử Quốc hội, tại các địa phương Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã tiến hành bầu cử
Hội đồng nhân dân các cấp, thành lập Ủy ban hành chính các cấp.
- Ngày 2-3-1946, Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa họp phiên đầu tiên, thông
qua danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và lập ra Ban Dự
thảo Hiến pháp.
- Ngày 9-11-1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội
thông qua.
- Đẩy mạnh xây dựng lực lượng bán vũ trang. Cuối năm 1945, lực lượng dân quân tự vệ tăng lên
hàng chục vạn người, có mặt ở hầu hết các thôn, xã, đường phố, xí nghiệp trong cả nước.
b) Ý nghĩa
- Tổng tuyển cử bầu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là cuộc vận động chính trị rộng lớn,
là cuộc biểu dương sức mạnh, thể hiện ý chí, quyết tâm của nhân dân Việt Nam là xây dựng một
nước Việt Nam thống nhất, độc lập. Điều đó cũng thể hiện quyền tự do, dân chủ của nhân dân,
khẳng định Nhà nước cách mạng Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
- Giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu chi rẽ, lật đổ và xâm lược của đế quốc và tay sai, tạo cơ
sở pháp lí vững chắc cho Nhà nước cách mạng để thực hiện nhiệm vụ đối nội, đối ngoại trong
thời kì mới, góp phần nâng cao uy tín của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên trường quốc tế.
- Làm cho bộ máy chính quyền nhà nước được kiện toàn từ Trung ương tới địa phương, trở thành
công cụ sắc bén phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
- Trực tiếp củng cố và phát triển thành quả của Cách mạng tháng Tám, đồng thời tích cực chuẩn
bị lực lượng về mọi mặt cho một cuộc kháng chiến lâu dài.
Câu 17:
Kế hoạch quân sự của Nava ra đời trong hoàn cảnh nào? Nêu nội dung và nhận xét về bản chất
của kế hoạch đó.
a) Hoàn cảnh ra đời của kế hoạch quân sự Nava (Như trong chuẩn)
b) Nội dung kế hoạch (Như trong chuẩn)
c) Nhận xét về bản chất của kế hoạch
- Bản chất của kế hoạch Nava là tập trung binh lực (nhằm tiến công chiến lược theo hai bước,
giành lại thế chủ động chiến lược đã mất và kết thúc chiến tranh trong 18 tháng).
- Điều đó mâu thuẫn với bản chất của chiến tranh xâm lược thuộc địa là phải phân tán binh lực
để chiếm đất, giữ dân, nhất là ở những nơi có tầm quan trọng về chiến lược.
Câu 18 :
Xác định mốc thời gian kết thúc hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc. Tóm tắt
những yếu tố tác động đến việc khẳng định con đường cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc.
a) Mốc thời gian kết thúc hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc
Tháng 7-1920, khi Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân
tộc và vấn đề thuộc địa của Lê nin. Luận cương giúp Người khẳng định, muốn cứu nước và giải
phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản.
Tiếp đó, tại Đại hội của Đảng xã hội Pháp (12-1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia
nhập Quốc tế Cộng sản và thành lập Đảng Cộng sản Pháp.
b) Tóm tắt những yếu tố tác động đến việc khẳng định con đường cứu nước mới của Nguyễn Ái
Quốc
- Yếu tố thời đại
+ Chủ nghĩa tư bản đã chuyển hẳn sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Những mâu thuẫn nội tại
của nó đang phát triển gay gắt; mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc dẫn tới chiến tranh đế quốc;
mâu thuẫn giữa đế quốc với thuộc địa dẫn tới sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc;
mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản dẫn tới sự phát triển của phong trào công nhân và cách mạng xã
hội.
+ Cách mạng tháng Mười Nga (1917) thành công, mở ra trước mắt các dân tộc bị áp bức “thời
đại giải phóng dân tộc”. Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành hiện thực và được truyền bá rõ ràng
khắp nơi, dẫn đến sự ra đời các Đảng Cộng sản ở nhiều nước trên thế giới. Quốc tế Cộng sản
được thành lập (3-1919). Đại hội II của Quốc tế Cộng sản thông qua Luận cương về vấn đề dân
tộc và các vấn đề về thuộc địa của Lê nin, chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc
bị áp bức.
+ Thời đại dầy biến động trên giúp cho Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tiễn
để xác định một con đường cứu nước đúng đắn.
- Yếu tố dân tộc:
+ Phát huy truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, các phong trào yêu nước chống Pháp của
nhân dân Việt Nam diễn ra liên tục và anh dũng theo những con đường khác nhau, nhưng đều bị
thực dân Pháp dập tắt.
+ Thất bại của phong trào Cần vương cuối thế kỉ XIX khẳng định con đường cứu nước theo
khuynh hướng phong kiến là không thành công, độc lập dân tộc không thể gắn với chủ nghĩa
phong kiến.
+ Thất bại của phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX khẳng định con đường giải phóng dân tộc
theo khuynh hướng tư sản không thacong, độc lập dân tộc không thể giành thắng lợi, độc lập dân
tộc không gắn liền với chủ nghĩa tư bản.
+ Đất nước lâm vào “tình hình đen tối dường như không có đường ra”. Tình hình đó phải đặt ra
yêu cầu bức thiết phải tìm con đường cứu nước mới.
- Yếu tố chủ quan
Trí tuệ và nhãn quan chính trị của Nguyễn Ái Quốc, thể hiện:
+ Nhận thấy hạn chế trong các con đường cứu nước cũ (của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,
Hoàng Hoa Thám,…), vì thế, mặc dù rất khâm phục tinh thần yêu nước của các vị tiền bối,
nhưng Nguyễn Ái Quốc không tán thành những con đường của họ, mà quyết tâm ra đi tìm một
con đường mới.
+ Kết hợp nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tế ở nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả các nước tư
bản và thuộc địa, nhất là ba nước tư bản phát triển : Anh, Pháp, Mĩ; rút ra nhiều kết luận quan
trọng về cách mạng tư sản là “cách mạng chưa đến nơi”; về bạn và thù của cách mạng Việt Nam
trên thế giới; về tinh thần độc lập tự chủ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc…; đặc biệt phát hiện
thấy trong Luận cương của Lê nin một phương hướng cứu nước mới và khẳng định con đường
giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản.
Câu 19:
Trình bày những chủ trương chống phát xít được đề ra trong các Hội nghị Ban Chấp hành Trung
ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp tháng 7-1936, tháng 5-1941 và tháng 3-1945. Nêu kết
quả thực hiện những chủ trương đó trong năm 1945.
Quá trình đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít ở Việt Nam diễn ra qua phong trào cách mạng,
tương ứng với hai giai đoạn khác nhau: phong trào dân chủ 1936-1939, phong trào giải phóng
dân tộc 1939-1945.
a) Chủ trương của Đảng trong giai đoạn 1936-1939
Chủ trương của Đảng được đề ra tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 7-1936
- Xác định kẻ thù cụ thể trước mắt của nhân dân Đông Dương chưa phải là thực dân Pháp nói
chung, mà là phản động thuộc địa không chịu thực hiện những chính sách mà Chính phủ Mặt
trận nhân dân Pháp đặt ban hành.
- Nhiệm vụ trước măt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, chống
nguy cơ chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình.
- thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (sau đổi thành Mặt trận dân chủ
Đông Dương), tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân chủ chống phát xít.
- Tận dụng mọi hình thức tổ chức và đấu tranh : công khai, hợp pháp, bán công khai, bán hợp
pháp, kết hợp với bí mật, bất hợp pháp.
b) Những chủ trương của Đảng trong giai đoạn 1939-1945
- Chủ trương chiến lược được đề ra từ Hội nghị tháng 11-1939 và hoàn chỉnh tại Hội nghị tháng
5-1941 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng: đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu,
tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”; tập hợp mọi lực lượng chống đế quốc trong Mặt trận
thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (11-1939), Mặt trận Việt Minh (5-1941); đồng thời đề
ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang; thành lập chính quyền nhà nước với hình thức cộng hòa dân
chủ.
- Chủ trương khởi nghĩa từng phần, được đề ra tại Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng
ngày 9-3-1945: xác định kẻ thù cụ thể, trước mắt, duy nhất của nhân dân Đông Dương là phát xít
Nhật, thay khẩu hiệu “Đánh đuổi Pháp – Nhật” bằng khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”; quyết
định phát động một “cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi
nghĩa”.
- Chủ trương tổng khởi nghĩa, được đề ra tại Hội nghị toàn quốc của Đảng (ngày 14 và 15-8-
1945): quyết định phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít
Nhật trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương.
Câu 20:
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam (1945-1954) đã kết thúc như thế
nào?
- Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã kết thúc bằng sự kết hợp giành thắng lợi quyết định
trên mặt trận quân sự với một giải pháp ngoại giao.
- Từ thu- đông năm 1953, Pháp thực hiện kế hoạch Nava. Tháng 9-1953, Bộ Chính trị Trung
ương Đảng đề ra kế hoạch tác chiến Đông – Xuân 1953-1954 với phương hướng chiến lược: Tập
trung lực lượng mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng về chiến lược mà địch
tương đối yếu, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch giải phóng đất đai, đồng thời buộc địch
phải phân tán lực lượng đối phó trên những địa bàn xung yếu mà chúng không thể bỏ, tạo điều
kiện thuận lợi mới để tiêu diệt thêm từng bộ phận sinh lực của chúng; xác định phương châm
chiến lược: tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt.
- Cùng với chủ trương tiến công về quân sự, Đảng và Chính phủ Việt Nam quyết định kết hợp
đấu tranh ngoại giao để kết thúc cuộc kháng chiến. Tháng 11-1954, trong bài trả lời phỏng vấn
báo Expressen của Thụy Điển, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: Nếu Chính phủ Pháp đã rút được
kinh nghiệm qua 8 năm chiến tranh và muốn đi vào giải quyết hòa bình cuộc chiến tranh Đông
Dương, thì Chính phủ và nhân dân Việt Nam sẵn sàng tiếp ý muốn đó.
- Cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953-1954 của quân đội và nhân dân Việt Nam làm
cho kế hoạch Nava không thể thực hiện được theo dự kiến: muốn tập trung nhưng lại phân tán
binh lực, muốn giành quyền chủ động, nhưng lại bị động đối phó lúng túng, muốn tiến công,
nhưng lại phải phòng ngự, buộc Pháp phải điều chỉnh kế hoạch, chọn Điện Biên Phủ làm khâu
chính của kế hoạch Nava (từ 11-1953), xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm
mạnh nhất Đông Dương. Tháng 12 – 1953, Bộ Chính trị qdi mở chiến dịch Điện Biên Phủ.
- Tháng 1-1954, Hội nghị Ngoại trưởng 4 nước lớn (Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp) họp tại Béclin
quyết định triệu tập Hiệp nghị Giơnevơ để bàn về một giải pháp chính trị cho Triều Tiên và giải
quyết hòa bình cuộc chiến tranh Đông Dương. Đây cũng là lúc công tác chuẩn bị cho chiến dịch
Điện Biên Phủ của quân đội và nhân dân Việt Nam đang diễn ra với tinh thần “Tất cả cho tiền
tuyến. Tất cả để chiến thắng”.
- Trong lúc Hội nghị Giơnevơ họp bàn về vấn đề Triều Tiên, cũng là lúc chiến dịch Điện Biên
Phủ bắt đầu, làm cho quânphap ngày càng lâm vào nguy kịch. Ngày 7-5-1954, chiến dịch Điện
Biên Phủ kết thúc thắng lợi, đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava giáng đòn quyết định vào ý chí
xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh và tạo cơ sở thực lực cho
cuộc đấu tranh ngoại giao tại Giơnevơ.
- Ngày 8-5-1954, Hội nghị Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương họp phiên đầu tiên. Đoàn đại
biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bước vào Hội nghị với tư thế là người chiến thắng.
Hội nghị diễn ra trong sự đấu tranh quyết liệt của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam và sự dàn
xếp của các nước lớn. Ngày 21-7-1954, Hiệp định Giơnevơ được kí kết, công nhận các quyền
dân tộc cơ bản của các nước Việt - Lào – Campuchia là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn
vẹn lãnh thỗ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
- Cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ đặt kết thúc cuộc kháng chiến lâu dài
và anh dũng của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược.
Câu 21:
Trình bày và nhận xét về phong trào yêu nước của tiểu tư sản Việt Nam trong nửa đầu những
năm 20 của thế kỉ XX.
a) Phong trào yêu nước của tiểu tư sản Việt Nam
- Nhiều thanh niên trí thức sang Quảng Châu (Trung Quốc) tìm đường cứu nước. Năm 1923, họ
lập ra tổ chức Tâm tâm xã. Hoạt động tiêu biểu của tổ chức này là cử Phạm Hồng Thái thực hiện
mưu sát Toàn quyền Đông Dương Méclanh (6-1924). Tuy không thành công nhưng sự kiện này
đã khích lệ tinh thần đấu tranh của nhân dân Việt Nam, nhất là thanh niên, “như chim én nhỏ báo
hiệu mùa xuân”.
- Thành lập nhiều tổ chức chính trị như Việt Nam nghĩa đoàn, Hội Phục Việt (sau đổi thành
Hưng Nam), Đảng Thanh niên,… với nhiều hoạt động sôi nổi như mít tinh, biểu tình, bãi
khóa,…
- Ra nhiều tờ báo tiến bộ như An Nam trẻ, Người nhà quê, Chuông rè, … (tiếng Pháp), Hữu
Thanh, Tiếng dân, Đông Pháp thời báo, Thực nghiệp dân báo …( tiếng Việt).
- Lập một số nhà xuất bản tiến bộ như Nam đồng thư xã ở Hà Nội, Cường học thư xã ở Sài Gòn,
Quan hải tùng thư ở Huế…
- Một số hoạt động nổi bật là cuộc đấu tranh đòi nhà cầm quyền Pháp thả Phan Bội Châu (1925),
các cuộc truy điệu và để tang Phan Châu Trinh (1926).
b) Nhận xét
- Mục tiêu đấu tranh: đòi các quyền tự do, dân chủ, khích lệ lòng yêu nước và ý thức dân tộc.
- Lực lượng nòng cốt của phong trào là tài liệu tiểu tư sản trí thức, dễ dàng tiếp thu những tư
tưởng dân chủ tiến bộ.
- Hình thức đấu tranh phong phú, như mít tinh, biểu tình, bãi thị, bãi khóa, thành lập các tổ chức
chính trị, ra báo chí, lập nhà xuất bản, tuyên truyền văn hóa tiến bộ…
- Là phong trào yêu nước mang tính chất dân chủ công khai.
- Có tận dụng chuẩn bị cho sự ra đời của các tổ chức cách mạng trong những năm tiếp theo. Có
bộ phận đi sâu hơn nữa vào khuynh hướng dân chủ tư sản (Nam đồng thư xã phát triển thành
Việt Nam Quốc dân đảng), có bộ phận chuyển dần sang khuynh hướng vô sản (từ Hội Phục Việt,
Hưng Nam phát triển thành Tân Việt Cách mạng đảng).
Câu 22:
Các chiến lược chiến tranh của Mĩ ở miền Nam Việt Nam từ năm 1961 đến năm 1968 có những
điểm gì giống và khác nhau?
a) Từ năm 1961 đến năm 1968, Mĩ đã thực hiện ở miền Nam hai chiến lược chiến tranh: chất
lượng “Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965) và chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968).
b) Những điểm giống nhau
- Âm mưu: chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam, biến Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn
cứ quân sự của Mĩ; làm bàn đạp tiến công miền Bắc và ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã
hội xuống khu vực Đông Nam Á.
- Về bản chất: đều là những loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới, nằm trong chiến lược
toàn cầu của Mĩ.
- Về lực lượng: đều dựa vào bộ máy chính quyền và quân đội Sài Gòn, do Mĩ trực tiếp viện trợ,
trang bị, tổ chức và chỉ huuy…
- Về biện pháp: đều chú trọng thui chính sách bình định nhằm chiếm đạt, giành dân; có kết hợp
với những hoạt động chống phá miền Bắc.
c) Những điểm khác nhau
- Về lực lượng: trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, lực lượng chủ yếu là quân đội Sài Gòn
(thực hiện âm mưu “dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam”); trong chiến lược “Chiến
tranh cục bộ”, lực lượng gồm quân viễn chinh Mĩ, quân 5 nước đồng minh của Mĩ và quân đội
Sài Gòn, trong đó quân Mĩ giữ vai trò chủ yếu.
- Về quy mô chiến tranh: trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, chiến tranh chỉ diễn ra ở miền
Nam, trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, quy mô chiến tranh được mở rộng ra miền Bắc
bằng cuộc chiến tranh phá hoại.
Câu 23:
Tóm tắt bối cảnh lịch sử của phong trào yêu nước Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.
Sự ra đời và phát triển của các giai cấp công nhân, tư sản và tiểu tư sản có tấn công như thế nào
đối với phong trào?
a) Bối cảnh lịch sử
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển mới:
- Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, trật tự thế giới mới được thiết lập – đó là hệ thống Véc-
xai – Oasinhtơn. Các nước tư bản Châu Âu đều bị chiến tranh tàn phá, nước Pháp thiệt hại nặng
nề.
- Cách mạng tháng Mười Nga thành công, mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức
trên thế giới. Quốc tế Cộng sản được thành lập (1919).
- Tư tưởng dân chủ tư sản tiếp tục ảnh hưởng đến Việt Nam, nhất là chủ nghĩa Tam dân của Tôn
Trung Sơn.
- Thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, làm cho tình hình kinh tế, xã hội
Việt Nam tiếp tục chuyển biến.
b) Tác động của sự ra đời và phát triển của các giai cấp công nhân, tư sản và tiểu tư sản đối với
phong trào yêu nước
- Đây là những lực lượng mới trong xã hội Việt Nam, tạo cơ sở cho việc tiếp thu những tư tưởng
mới vào Việt Nam, kể cả tư tưởng tư sản và tư tưởng vô sản, làm cho phong trào yêu nước mang
những sắc thái mới mà các phong trào yêu nước trước kia không thể nào có được.
- Những giai cấp mới cùng những hệ tư tưởng mới làm xuất hiện hai khuynh hướng tư sản và
khuynh hướng vô sản trong phong trào. Cả hai khuynh hướng đều cố gắng vươn lên giải quyết
nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra. Đó chính là cuộc đấu tranh giành quyền lao
động duy nhất đối với Cách mạng Việt Nam. Đây là đặc điểm lớn nhất của phong trào yêu nước
Việt Nam trong thời gian từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến đầu năm 1930.
Câu 24:
Trình bày nguyên nhân và ý nghĩa cuộc kháng chiến ở Nam Bộ (từ ngày 23-9-1945 đến trước
ngày 6-3-1946).
a) Nguyên nhân
- Thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam.
+ Ngay từ khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc ở Châu Âu, thực dân Pháp ở Đông Dương
theo phái Đờ Gôn đặt ráo riết hoạt động, chờ thời cơ phản công quân Nhật Bản giành lại địa vị
thống trị cũ.
+ Khi Nhật Bản dài hạn Đồng minh, Pháp xúc tiến âm mưu trở lại xâm lược nước thuộc địa cũ ở
Đông Dương, được sự tiếp tay của Mĩ và Anh.
+ Ngày 23-9-1945, được sự giúp đỡ của Anh, quân Pháp nổ súng đánh úp trụ sở Ủy ban Nhân
dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai.
- Nhân dân Việt Nam nói chung, nhân dân Nam Bộ nói riêng “quyết đem tất cả tinh thần và lực
lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập” vừa mới giành được, bảo vệ thành
quả của Cách mạng tháng Tám.
- Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xác định kẻ thù chính của nhân dân Việt
Nam là thực dân Pháp xâm lược, mà nhân dân Việt Nam phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào
chúng; quyết định phát động cả nước ủng hộ cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, chi viện cho Nam Bộ
kháng chiến.
b) Ý nghĩa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ
- Bước đầu làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp, giữ vững và phát
triển lực lượng, tích lũy được nhiều kinh nghiệm chiến đấu.
- Góp phần bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Tám, bảo vệ chính quyền cách mạng còn non
trẻ.
- Tạo điều kiện để cả nước chuẩn bị lực lượng về mọi mặt cho cuộc kháng chiến toàn quốc về
sau.
Câu 25:
Trình bày bối cảnh lịch sử và hoạt động tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc. Kết quả cuối
cùng của những hoạt động ấy có ý nghĩa như thế nào đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt
Nam?
a) Bối cảnh lịch sử
- Bối cảnh thế giới:
+ Chủ nghĩa tư bản đã chuyển hẳn sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Những mâu thuẫn trong
lòng nó phát triển gay gắt: mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc dẫn tới chiến tranh đế quốc, tiêu
biểu là Chiến tranh thế giới thứ nhất; mâu thuẫn giữa đế quốc với thuộc địa dẫn tới sự phát triển
của phong trào giải phóng dân tộc; mâu thuẫn giữa vô sản với tư sản dẫn tới sự phát triển của
phong trào công nhân và cách mạng xã hội.
+ Cách mạng tháng Mười Nga (1917) thành công, mở ra trước mắt các dân tộc bị áp bức “thời
đại giải phóng dân tộc”. Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành hiện thực và được truyền bá rộng rãi
khắp nơi, dẫn đến sự ra đời của các Đảng Cộng sản ở nhiều nước trên thế giới.
+ Quốc tế Cộng sản được thành lập (3-1919). Đại hội II của Quốc tế Cộng sản (1920) thông qua
Luận cương về vấn đề dân tộc và các vấn đề về thuộc địa của Lê nin, chỉ ra phương hướng đấu
tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức.
Bối cảnh trên đây giúp Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tiễn để xác định một
con đường cứu nước đúng đắn.
- Bối cảnh trong nước:
+ Thực dân Pháp xâm lược và thống trị Việt Nam. Đất nước mất độc lập, nhân dân không được
tự do. Độc lập tự do là khát vọng cháy bỏng của mọi người Việt Nam yêu nước.
+ Phát huy truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, các phong trào yêu nước chống Pháp của
nhân dân Việt Nam diễn ra liên tục và anh dũng theo những con đường khác nhau nhưng đều bị
thực dân Pháp dập tắt. Thất bại của phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX khẳng định con
đường cứu nước theo khuynh hướng phong kiến là không thành công, độc lập dân tộc không thể
gắn với chủ nghĩa phong kiến. Thất bại của phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX khẳng định con
đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư sản không thể giành thắng lợi, độc lập dân tộc
không gắn liền với chủ nghĩa tư bản. Sự nghiệp giải phóng dân tộc lầm vào “ tình hình đen tối
dường như không có đường ra”, đặt ra yêu cầu bức thiết phải tìm một con đường cứu nước mới.
b) Quá trình tìm đường cứu nước
- Từ rất sớm, Nguyễn Tất Thành đã có chí “đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào”. Khi tiếp
xúc với khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác ái” của cách mạng Pháp, Nguyễn Tất Thành rất muốn
sang Pháp đã tìm hiểu xem những gì ẩn náu đằng sau những từ ấy. Đến năm 1911, Nguyễn Tất
Thành vào Sài Gòn tìm cơ hội ra nước ngoài để “xem họ làm như thế nào”, rồi trở về giúp đồng
bào, giải phóng dân tộc. Ngày 5-6-1911, trên một chiếc tàu buôn của Pháp, Nguyễn Tất Thành
rời cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước.
- Sau khi đến Mácxây (Pháp), Nguyễn Tất Thành qua nhiều nước ở Châu Phi, Châu Mĩ và Châu
Âu; kết hợp nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tiễn, nhất là ở ba nước tư bản phát triển Mĩ, Anh
và Pháp, nhận thấy các cuộc cách mạng tư sản là “chưa đến nơi”, ở đâu bọn đế quốc, thực dân
cũng tàn bạo, độc ác, ở đâu những người lao động cũng bị áp bức, bóc lột dã man.
- Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ Luân Đôn (Anh) đến Pari (Pháp). Tại đây, Nguyễn Tất
Thành hoạt động trong phong trào yêu nước của Việt kiều và trở thành nhân vật chủ chôt của
Hội những người Việt Nam yêu nước ở Pari, rồi gia nhập Đảng xã hội Pháp vì đây là tổ chức
chính trị duy nhất ở Pháp theo đuổi lí tưởng của Đại Cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái
và đấu tranh vì quyền lợi cho các nước thuộc địa.
- Tháng 6-1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi đến
Hội nghị Véc-xai bản yêu sách của nhân dân An Nam, đòi các quyền tự do, dân chủ, quyền bình
đẳng và quyền tự quyết của to Việt Nam. Bản Yêu sách không được chấp nhận. Nguyễn Ái Quốc
kết luận : “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào lực lượng của bản thân
mình”.
- Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân
tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lê nin. Luận cương đã giúp Người khẳng định muốn cứu nước
và giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản.
- Tháng 12-1920, tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng xã hội Pháp (Đại hội Tua), Nguyễn Ái
Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp.
c) Ý nghĩa
Như vậy, sau 10 năm tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin
và xác định con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản. Kết quả đó có ý nghĩa mở
đường đã giải quyết tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước đầu thế kỉ XX.
Câu 26:
Tóm tắt cuộc đấu tranh trên mặt trận quân sự của quân dân miền Nam trong giai đoạn 1965-
1968. Đánh giá thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.
a) Tóm tắt cuộc đấu tranh trên mặt trận quân sự của quân dân miền Nam trong giai đoạn 1965-
1968
- Chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” là chống lại cuộc chiến tranh xâm lược được
tăng cường và mở rộng với lực lượng quân đội mạnh và vũ khí hiện đại. Nhưng với tinh thần
"Không có gì quý hơn độc lập, tự do", nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mĩ xâm lược, được sự
phối hợp và chi viện của miền Bắc, quân dân miền Nam đặt chiến đấu với các thắng lợi mở đầu
ở Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi).
Trong chiến dịch Vạn Tường (8-1965), quân chủ lực và nhân dân địa phương đã đẩy lùi được
cuộc hành quân của Mĩ, loại khỏi vòng chiến đấu 900 tên. Vạn Tường được coi là “Ấp Bắc” đối
với quân Mĩ và quân Đồng minh, chứng tỏ khả năng Quân giải phóng đánh thắng chiến lược
“Chiến tranh cục bộ”, mở đầu cao trào “Tìm Mĩ mà đánh, lùng ngụy mà diệt” trên khắp miền
Nam.
- Đập tan hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, bẻ gãy cả hai gọng
kìm “tìm diệt” và “bình định” của Mĩ.
- Thừa thắng, quân dân miền Nam mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam,
nhằm hướng chủ yếu là các đô thị, giáng một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mĩ,
buộc Mĩ phải chấm dứt ném bom miền Bắc và ngồi vào bàn đàm phán tạ Hội nghị Pari (1973).
b) Đánh giá thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968
- Đây là một loại hình chiến dịch độc đáo, chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh thế giới, làm
cho Mĩ bị bất ngờ và choáng váng, ý chí xâm lược bị lung lay. Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hóa”
chiến tranh Việt Nam (tức thừa nhận thất bại của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”), chấm dứt
không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, chịu đàm phán ở Pari đã bàn về chấm dứt chiến
tranh. Đó là bước ngoặt đi xuống của Mĩ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam.
- Mở ra bước ngoặt mới của cuộc chiến tranh cách mạng nhân dân Việt Nam, liên tục kết hợp
tiến công và nổi dậy, kết hợp đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Trong
cục diện “vừa đánh, vừa đàm”, quân đội và nhân dân Việt Nam tiếp tục tiến lên “Đánh cho Mĩ
cút, đánh cho Ngụy nhào”, đưa sự nghiệp chống Mĩ, cứu nước từng bước đến toàn thắng.
Câu 27:
Hãy làm sáng tỏ vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc chuẩn bị những điều kiện ra đời Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Sau khi xác định con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản (1920), Nguyễn Ái
Quốc đã tiến hành những hoạt động kiên trì, bền bỉ để xây dựng và truyền bá lulu cách mạng giải
phóng dân tộc vào Việt Nam, đồng thời tích cực chuẩn bị những điều kiện về tư tưởng Chủ tịch
và tổ chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam.
a) Về tư tưởng chính trị
- Nguyễn Ái Quốc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể ở
nước Việt Nam thuộc địa, xây dựng lí luận cách mạng giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô
sản rồi truyền bá vào Việt Nam.
- Lí luận đó được trình bày qua nhiều bài viêt cho các báo (Người cùng khổ, Nhân đão, Đời sống
công nhân, Sự thật, Thanh niên, Tạp chí Thư tín quốc tế…), một số tham luận trình bày tại Hội
nghị Quốc tế nông dân và Đại hội V của Quốc tế Cộng sản, nhất là qua hai tác phẩm Bản án chế
độ thực dân Pháp và Đường Kách mệnh.
- Lí luận giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản là ngọn cờ dẫn đường cho phong
trào cách mạng Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản ra đời, là sự chuẩn bị về tư tưởng chính trị
cho sự ra đời của Đảng, đồng thời đặt cơ sở để hình thành Cương lĩnh chính trị của Đảng về sau.
b) Về tổ chức
- Sau khi từ Liên Xô đến Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc chọn một số thanh niên
tích cực trong Tâm tâm xã tổ chức thành nhóm Cộng sản đoàn (2-1925), làm nòng cốt để thành
lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (6-1925) nhằm tổ chức và lãnh đạo quần chúng đoàn
kết đấu tranh đánh đổ thực dân Pháp và tay sai giải phóng dân tộc. Hội đã xây dựng hệ thống tổ
chức ở khắp nơi trong nước. Cơ quan lãnh đạo cao nhất là Tổng bộ, xuống Kì bộ, cơ sở là Chi
bộ. Đến năm 1929, Hội có khoảng 1700 hội viên. Đây là một tổ chức yêu nước có khuynh hướng
cộng sản, một tổ chức quá độ để tiến lên thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một bước chuẩn bị
có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng.
- Nguyễn Ái Quốc mở nhiều lớp huấn luyện chính trị, đào tạo một đội ngũ cán bộ cho Cách
mạng Việt Nam, đa số là thanh niên, học sinh, trí thức yêu nước. Họ “học làm cách mạng, học
hoạt động bí mật”. Một số được gửi đi học ở Trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) hoặc và
Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc), còn phần lớn trở về nước hoạt động, tuyên truyền lí
luận cách mạng giải phóng dân tộc trong quần chúng và xây dựng tổ chức của Hội.
Câu 28:
Phân tích điều kiện bùng nổ của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam.
a) Điều kiện chủ quan
- Đảng có sự chuẩn bị đầy đủ về đường lối và phương pháp cách mạng, biểu hiện tập trung ở Hội
nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941). Đảng đã giải quyết mối quan hệ giữa
hai nhiệm vụ giải phóng dân tộc và cách mạng ruộng đất, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên
hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, giải quyết các vấn đề dân tộc trong khuôn
khổ từng nước ở Đông Dương, thành lập ở mỗi nước một mặt trận riêng, đồng thời đề ra chủ
trương khởi nghĩa vũ trang.
- Lực lượng cách mạng, bao gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang chuẩn bị chu đáo
trong suốt 15 năm kể từ khi Đảng ra đời, được rèn luyện qua các phong trào cách mạng 1930-
1931, 1936-1939, nhất là cuộc tập dượt vĩ đại trong cao trào kháng Nhật cứu nước (từ ngày 9-3
đến giữa tháng 8-1945).
- Tầng lớp trung gian, khi Nhật đảo chính Pháp mới chỉ hoang mang dao động, nhưng sau một
thời gian đã thấy rõ bản chất xâm lược của Nhật, chán ngán những chính sách của Nhật, nên đặt
ngả hẳn về phía cách mạng.
Đến tháng 8-1945, toàn Đảng, toàn dân đặt sẵn sàng hành động, kiên quyết phấn đấu giành độc
lập tự do. Những điều kiện chủ quan cho một cuộc tổng khởi nghĩa đầy đủ.
b) Điều kiện khách quan
- Ngày 15-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện, Chiến tranh thế
giới thứ hai kết thúc. Ở Đông Dương, chính quyền Nhật và tay sai hoang mang, quân đội Nhật
mất hết tinh thần. Kẻ thù trực tiếp của nhân dân Việt Nam ngã gục, thời cơ cách mạng xuất hiện.
- Tuy nhiên, một nguy cơ mới đang đến gần. quân đội các nước Đồng minh chuẩn bị vào Đông
Dương làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Với bản chất đế quốc, họ có thể dựng lên một chính
quyền tay sai trái với ý chí và nguyện vọng của dân tộc Việt Nam. Đế quốc Pháp đang lăm le
khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương. Các thế lực phản động trong nước cũng đang tìm cách
thay thầy đổi chủ. Vì thế, vấn đề giành chính quyền được đặt ra như một cuộc chạy đua nước rút
với quân Đồng minh mà Đảng và nhân dân Việt Nam không thể chậm trễ.
- Thời cơ “ngàn năm có một” chỉ tồn tại trong thời gian từ sau khi quân phiệt Nhật Bản đầu hàng
Đồng minh (15-8-1945) đến trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương (cuối tháng 8-1945).
Đó là lúc kẻ thù cũ đã suy sụp, nhưng kẻ thù mới chưa kịp đến, là lúc so sánh lực lượng có lợi
nhất đối với cách mạng.
Câu 29:
Qua bảng dữ liệu sau, hãy nhận xét mục đích của cuộc Tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 -
1954 và vai trò của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954) trong cuộc kháng chiến chống
Pháp của nhân dân Việt Nam 1945-1954.
Thời gian Nội dung
Ngày 10-12-1953 Bộ đội chủ lực Việt Nam tiến công thị xã Lai
Châu, giải phóng Lai Châu. Pháp điều quân từ
đồng bằng Bắc Bộ tăng cường cho Điện Biên
Phủ, biến Điện Biên Phủ trở thành nơi tập
trung quân thứ hai của Pháp.
Đầu tháng 12-1953 Liên quân Lào - Việt mở cuộc tiến công ở
Trung Lào; tiêu diệt nhiều sinh lực địch ở đây.
Pháp tăng cường lực lượng cho Xênô. Xênô trở
thành nơi tập trung binh lực thứ ba của Pháp.
Cuối tháng 1-1954 Lqvl tiến công Thượng Lào; giải phóng lưu
vực sông Nậm Hu và Phong Xa Lì. Pháp điều
quân từ đồng bằng Bắc Bộ sang tăng cường,
biến Luông Phabang và Mường Sài thành nơi
tập trung quân thứ tư của Pháp.
Đầu tháng 2-1954 Bộ đội chủ lực Việt Nam tiến công Bắc Tây
Nguyên, giải phóng Kon Tum, uy hiếp Plâyku.
Pháp tăng quân giữ playki. Plâyku trở thành
nơi tập trung quân thứ năm của Pháp.
Từ ngày 13-3 đến ngày 7-5-1954 Quân đội và nhân dân Việt Nam tiến công và
tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, đập
tan hoàn toàn kế hoạch Nava.
Ngày 21-7-1954 Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được kí
kết, Pháp buộc phải chấm dứt chiến tranh xâm
lược Đông Dương, rút quân đội về nước.
- Cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953-1954 của quân đội và nhân dân Việt Nam nhằm
buộc quân Pháp phải bị động phân tán lực lượng trên chiến trường làm cho kế hoạch Nava không
thể thực hiện được như dự kiến…
- Chiến thắng Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc Tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 – 1954,
trận quyết chiến chiến lược trong kháng chiến chống Pháp, đập tan kế hoạch Nava, giáng đòn
quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh và tạo
cơ sở thực lực về quân sự cho cuộc ngoại giao, đi đến kí kết Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương,
kết thúc cuộc kháng chiến.
Câu 30:
Phân tích những biện pháp của Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm đối
phó với quân đội Trung Hoa Dân quốc từ tháng 9-1945 đến trước ngày 6-3-1946.
- Thực hiện quyết định của Hội nghị Pốtxđam (7-1945), 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc kéo
và Đông Dương, từ vĩ tuyến 20 trở ra, theo sau là các đảng Việt Quốc, Việt Cách, âm mưu tiêu
diệt Đảng Cộng sản, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng. Tuy nhiên, trong tình thế
“"ngàn cân treo sợi tóc"” của nước Việt Nam sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng
và Chính phủ chủ trương hòa hoãn với quân đội Trung Hoa Dân quốc, sử dụng biện pháp nhân
nhượng cho họ một số quyền lợi.
+ Cung cấp cho họ một phần lương thực, thực phẩm trong lúc nhân dân Việt Nam đang phải lo
giải quyết nạn đói.
+ Chấp nhận cho họ tiêu những đồng tiền để mất giá ở Trung Quốc (Quan kim Quốc tệ) trên thị
trường Việt Nam, trong khi nền tài chính của đất nước đang khủng hoảng nghiêm trọng.
+ Đồng ý nhường cho Việt Quốc, Việt Cách 70 ghế trong Quốc hội và 4 ghế trong Chính phủ
liên hiệp mà không qua bầu cử.
+ Hết sức kiềm chế, tránh xung đột để họ khỏi kiếm cớ sách nhiễu chính quyền cách mạng.
+ Đảng Cộng sản Đông Dương phải rút vào hoạt động bí mật với danh nghĩa “tự giải tán” để
tránh mũi nhọn tiến công của Trung Hoa Dân quốc.
- Việc thực hiện những biện pháp trên đây là cần thiết vì:
+ Trong hoàn cảnh lúc đó, Việt Nam không thể đánh nhiều kẻ thù một lúc, khi so sánh lực lượng
chưa có lợi cho cách mạng.
+ Cần phải tập trung lực lượng kháng chiến chống thực dân Pháp đang tiến hành chiến tranh xâm
lược ở miền Nam.
+ Nhân dân Việt Nam cần có thời gian hòa bình để củng cố chính quyền, xây dựng và phát triển
lực lượng về mọi mặt.
+ Trung Hoa Dân quốc có mâu thuẫn nội bộ, lại phải lo đối phó với lực lượng cách mạng Trung
Quốc đang ngày càng phát triển. Việt Nam có thể lợi dụng những khó khăn của họ để hòa hoãn
với họ.
- Trong khi nhân nhượng với Trung Hoa Dân quốc, Đảng và Chính phủ vẫn luôn giữ vững
những nguyên tắc cách mạng:
+ Giữ vững chủ quyền dân tộc, giữ vững chính quyền cách mạng của nhân dân Việt Nam và vai
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
+ Dựa vào quần chúng để kiên quyết vạch trần âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực
phản động; kiên quyết trừng trị theo pháp luật những kẻ phá hoại khi có đủ bằng chứng.
- Tác dụng của những biện pháp nhân nhượng:
+ Hạn chế được các hoạt động chống phá của quân đội Trung Hoa Dân quốc và tay sai, làm thất
bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của họ.
+ Tạo điều kiện tập trung lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở
Nam Bộ và Nam Trung Bộ, bước đầu làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của Pháp.
+ Tạo ra thời gian hòa bình để củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng
vũ trang, chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu lâu dài.
Câu 31:
Nêu âm mưu, thủ đoạn của Mĩ trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Trong thời gian
1969-1972, quân đội và nhân dân Việt Nam phải thực hiện những nhiệm vụ gì?
a) Âm mưu và thủ đoạn của Mĩ trong chất lượng “Việt Nam hóa chiến tranh” (Như trong chuẩn)
b) Nhiệm vụ của quân đội và nhân dân Việt Nam trong giai đoạn 1969-1973
- Quân và dân miền Nam tiến hành cuộc chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”
của Mĩ.
- Quân dân miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai, vừa sản xuất, xây
dựng và làm nghĩa vụ hậu phương chi viện cho tiền tuyến miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế đối
với Lào và Campuchia.
- Quân dân cả nước phối hợp với Campuchia và Lào chống chiến lược “Đông Dương hóa” chiến
tranh của Mĩ.
Câu 32:
Dựa vào những dữ liệu trong bảng (đã cho) và kiến thức đã được học, hãy phân tích chủ trương
chiến lược của Đảng Cộng sản Đông Dương trong giai đoạn 1939-1945.
Trong giai đoạn trực tiếp vận động giải phóng dân tộc 1939-1945, Đảng Cộng sản Đông Dương
đã đề ra chủ trương chiến lược mới từ Hội nghị tháng 11-1939 và hoàn chỉnh tại Hội nghị tháng
5-1941 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
- Về nhiệm vụ cách mạng: Đảng giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ độc lập dân tộc và
cách mạng ruộng đất; xác định nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu trước mắt của cách mạng là đánh
đổ đế quốc và tay sai, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách
mạng ruộng đất. Hội nghị tháng 5-1941, nhấn mạnh giải phóng dân tộc là "nhiệm vụ bức thiết
nhất", đặt quyền lợi của giai cấp "dưới sự sinh tử tồn vong của quốc gia dân tộc".
- Về vấn đề dân tộc: Hội nghị tháng 5-1941 chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn
khổ từng nước ở Đông Dương, thành lập ở mỗi nước một mặt trận riêng, một chính quyền cách
mạng riêng.
- Về tập hợp lực lượng: Các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đều chủ trương tập hợp
rộng rãi mọi lực lượng chống đế quốc trong các mặt trận thống nhất dân tộc, không phân biệt giai
cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo tín ngưỡng.
- Về phương pháp: Hội nghị tháng 11-1939 khẳng định con đường vũ trang bạo lực giành chính
quyền. Hội nghị tháng 5-1941 đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang, nhấn mạnh việc chuẩn bị
khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân là khởi nghĩa từng phần tiến
lên tổng khởi nghĩa.
- Về hình thức chính quyền nhà nước: Hội nghị tháng 11-1939 thay khẩu hiệu thành lập chính
quyền Xô viết công nông binh bằng khẩu hiệu thành lập Chính phủ cộng hòa; Hội nghị tháng 5-
1941 chỉ rõ ở Việt Nam sự thành lập Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Như vậy, bước vào giai đoạn trực tiếp vận động cứu nước 1939-1945, Đảng kiên quyết giương
cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, khắc phục triệt để những hạn chế của Luận cương chính trị
tháng 10-1930, khẳng định lại đường lối đúng đắn trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
và lí luận cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh. Nhờ đó Đảng đặt lãnh đạo nhân dân
đẩy mạnh chuẩn bị lực lượng và đưa Cách mạng tháng Tám đến thành công.
Câu 33:
Thiện chí hòa bình của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong quan hệ với Pháp từ ngày
6-3-1946 đến trước ngày 19-12-1946 được thể hiện như thế nào?
a) Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946
- Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời mong muốn được các nước công nhân độc lập,
chủ quyền. Pháp âm mưu thôn tính và chia cắt nước ta một lần nữa.
- Ngày 28-2-1946, thực dân Pháp và Trung Hoa Dân quốc kí Hiệp ước Hoa - Pháp để cho quân
Pháp ra miền Bắc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật. Hiệp ước Hoa - Pháp đặt Việt Nam
trước một cuộc chiến tranh trên quy mô cả nước.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng khai thác mọi khả năng hòa bình, chủ động đàm
phán với Pháp để đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, tiếp tục phát triển thực lực cách mạng về mọi mặt
để đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược và làm cơ sở cho đấu tranh ngoại giao nhằm tiếp tục
bảo vệ nền độc lập dân tộc.
- Ngày 3-3-1946, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì,
quyết định chọn giải pháp "hòa để tiến".
- Ngày 6-3-1946, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ ta, kí với đại diện Chính
phủ Pháp là G. Xanhtơni bản Hiệp định Sơ bộ.
+ Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có Chính
phủ riêng, quân đội riêng, tài chính riêng nằm trong khối Liên hiệp Pháp.
+ Chính phủ Việt Nam đồng ý để cho 15000 quân Pháp ra miền Bắc thay quân Trung Hoa Dân
quốc giải giáp quân đội Nhật và rút quân sau 5 năm.
+ Hai bên không xung đột ở Nam Bộ và giữ nguyên quân đội tại vị trí cũ, nhằm đưa đến điều
kiện thuận lợi cho tương lai của Đông Dương.
- Việc kí Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 tạm thời hòa hoãn với Pháp là chủ trương đúng đắn và kịp
thời của Chính phủ cách mạng, đã ngăn chặn được âm mưu câu kết của thực dân Pháp và Trung
Hoa Dân quốc, nhanh chóng gạt 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc và tay sai về nước, tránh
được một cuộc chiến tranh nổ ra quá sớm và bất lợi cho ta, tạo thời gian hòa hoãn để chuẩn bị
cho cuộc chiến đấu về sau.
b) Tạm ước 14-9-1946
- Sau Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946, với mong muốn tìm một giải pháp hòa bình để giải quyết
tình trạng xung đột, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là thượng khách sang thăm nước Pháp
theo lời mời của Chính phủ Pháp.
- Chính phủ do Hồ Chí Minh đứng đầu đã cử đoàn đàm phán với Pháp ở Hội nghị trù bị Đà Lạt
(từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 5-1946) và Hội nghị Phôngtennơblô (từ tháng 6 đến tháng 9-
1946). Do thái độ hiếu chiến của Pháp nên các cuộc đàm phán đều thất bại. Quan hệ Việt Pháp
căng thẳng, nguy cơ một cuộc chiến tranh sắp nổ ra.
- Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đàm phán và kí với đại diện của Chính
phủ Pháp (Mutê) bản Tạm ước 14-9-1946 tiếp tục nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi kinh
tế- văn hóa ở Việt Nam, nhằm mục đích kéo dài thời gian hòa hoãn tích cực chuẩn bị lực lượng
cho kháng chiến.
- Cuộc đấu tranh ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa trong năm 1946, tuy chưa giải quyết được mục tiêu cơ bản nhưng đã làm cho nhân dân Pháp
và thế giới hiểu rõ hơn về vấn đề Việt Nam, làm cho số đông người Pháp đồng tình ủng hộ nền
độc lập của Việt Nam.
- Kiên trì con đường đàm phán hòa bình với Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện thiện chí và
hòa bình của Chính phủ và nhân dân Việt Nam, đẩy được quân Trung Hoa Dân quốc về nước và
phá tan âm mưu câu kết giữa chúng chống lại nhân dân Việt Nam; đồng thời, cũng kéo dài thêm
thời gian hòa hoãn để chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến không thể tránh khỏi.
Câu 34:
So sánh chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến dịch Hồ Chí Minh trong 30 năm chiến tranh cách
mạng Việt Nam 1945-1975 (về tính chất, lực lượng, mục tiêu, hình thức, địa bàn, phương châm
tác chiến, kết quả và ý nghĩa).
a) Về tính chất
Đều là hai trận quyết chiến chiến lược, đỉnh cao của hai cuộc tiến công chiến lược trong hai cuộc
kháng chiến chống ngoại xâm.
b) V8 lực lượng
- Giống nhau: đều tập trung lực lượng đến mức cao nhất. Chiến dịch Điện Biên Phủ "Tất cả cho
tiền tuyến, tất cả để chiến thắng"; chiến dịch Hồ Chí Minh: "tập trung đến mức cao nhất mọi lực
lượng và phương tiện vật chất kĩ thuật".
- Khác nhau: Chiến dịch Điện Biên Phủ có 5 đại đoàn chủ lực, chiến dịch Hồ Chí Minh có 5
quân đoàn và tương đương quân đoàn chủ lực.
c) Mục tiêu khác nhau
Chiến dịch Điện Biên Phủ nhằm vào mục tiêu quân sự (một tập đoàn cứ điểm); chiến dịch Hồ
Chí Minh nhằm và các cơ quan đầu não của kẻ thù (của quân sự và chính trị).
d) Hình thức thực hiện
- Giống nhau: đều là hai chiến dịch chủ động tiến công.
- Khác nhau: Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch tiến công của lực lượng quân sự, chiến dịch
Hồ Chí Minh là sự kết hợp tiến công của lực lượng vũ trang với phong trào nổi dậy của quần
chúng.
e) Địa bàn khác nhau
Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra ở vùng nông thôn rừng núi; chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra ở
một đô thị lớn ở đồng bằng.
g) Phương châm tác chiến
- Giống nhau: đều đảm bảo đánh chắc thắng.
- Khác nhau: chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra với phương châm "đánh chắc, tiến chắc" (trong
thời gian dài), còn chiến dịch Hồ Chí Minh theo phương châm "thần tốc, táo bạo, bất ngờ" (trong
thời gian ngắn hơn).
h) Kết quả khác nhau
Chiến dịch Điện Biên Phủ đã tiêu diệt hoàn toàn một tập đoàn cứ điểm của quân Pháp; chiến
dịch Hồ Chí Minh đặt làm sụp đổ và tan rã hoàn toàn bộ máy chính quyền và quân đội Sài Gòn,
quét sạch cơ đồ thực dân mới của đế quốc Mĩ.
i) Ý nghĩa
- Giống nhau:
+ Đều là những thắng lợi đưa đến kết thúc các cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam trong hai
cuộc chiến tranh cách mạng chống chủ nghĩa thực dân.
+ Đều tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng Lào và Campuchia tiến lên hoàn thành chiến tranh
giải phóng, cổ vũ các dân tộc đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc trên thế giới.
- Khác nhau:
+ Chiến dịch Điện Biên Phủ tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao để kết thúc
chiến tranh.
+ Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc 21 năm cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước đồng thời kết
thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc từ sau Cách mạng tháng Tám năm
1945.
Câu 35:
Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam có phải là một cuộc cách mạng bạo lực hay không?
Tại sao?
- Trong điều kiện một nước thuộc địa như Việt Nam, kẻ thù luôn dùng bạo lực để thống trị và
đàn áp nhân dân ta, thì con đường để giành độc lập tự do chỉ có thể là con đường cách mạng bạo
lực. Bạo lực là công cụ dùng để đập tan bộ máy chính quyền của đế quốc và tay sai, thiết lập
chính quyền cách mạng của nhân dân.
- Cách mạng tháng Tám là một cuộc vùng dậy của cả dân tộc Việt Nam, diễn ra với hình thức
khởi nghĩa vũ trang. Đó là một cuộc cách mạng bạo lực.
- Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nên bạo lực cách mạng của là bạo lực của quần
chúng. Đảng và Hồ Chí Minh đã lãnh đạo xây dựng cơ sở của bạo lực cách mạng bao gồm hai
lực lượng cơ bản: lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang.
+ Lực lượng chính trị được tập hợp, giác ngộ và rèn luyện trong Mặt trận Việt Minh với các tổ
chức quần chúng mang tên "Cứu quốc".
+ Lực lượng vũ trang bao gồm Cứu quốc quân, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, được
thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân (5-1945) và lực lượng bán vũ trang được xây dựng
rộng rãi ở khắp nơi (gồm những đội du kích, tự vệ và tự vệ chiến đấu).
- Dựa vào hai lực lượng trên, Đảng đã phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính
quyền với sự kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị với
đấu tranh vũ trang; trong đó lực lượng chính trị quần chúng là lực lượng đông đảo nhất và giữ vị
trí quyết định thắng lợi. Còn lực lượng vũ trang, tuy còn ít về số lượng, thiếu thốn về trang bị,
non yếu về trình độ tác chiến, nhưng với vai trò rất quan trọng trong hoạt động tiến công quân sự
ở một số nơi, gây thanh thế cho cách mạng, đồng thời là lực lượng nồng cốt, lực lượng xung
kích, hỗ trợ quần chúng nội dung giành chính quyền khi thời cơ đến.
- Nhờ sự kết hợp hai lực lượng, hai hình thức đấu tranh, cuộc khởi nghĩa dân tộc có sức mạnh
làm áp đảo, làm tan rã bộ máy chính quyền của quân phiệt Nhật Bản và tay sai, lập nên nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Câu 36:
Vì sao trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), quân đội và nhân
dân Việt Nam phải thực hiện phương châm chiến lược đánh lâu dài?
Đánh lâu dài là một phương châm chiến lược của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của nhân
dân Việt Nam chống thdp xâm lược, được xác định trong đường lối kháng chiến của Đảng. Hồ
Chí Minh nói: "Trường kì kháng chiến nhất định thắng lợi". Nhân dân Việt Nam phải tiến hành
kháng chiến lâu dài vì:
- So sánh lực lượng giữa Việt Nam và Pháp rất chênh lệch, nhất là về kinh tế và quân sự, Việt
Nam không thể giành thắng lợi một cách nhanh chóng.
- Nhân dân Việt Nam cần có thời gian để vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa kháng chiến vừa
xây dựng hậu phương và vận động sự giúp đỡ quốc tế.
- "Đánh nhanh thắng nhanh" là lối đánh sở trường của thực dân Pháp (để phát huy ưu thế về quân
sự, khắc phục chỗ yếu của chiến tranh xâm lược phi nghĩa và tiết kiệm chi phí chiến tranh). Đánh
lâu dài là để chống chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" của quân Pháp, không cho Pháp phát
huy lối đánh sở trường của chúng, mà buộc phải đánh theo cách đánh của Việt Nam. Hồ Chí
Minh nói: "Địch dùng lối đánh nhanh thắng nhanh, ta quyết kế trường kì kháng chiến".
- Trên cơ sở thực hiện phương châm chiến lược đánh lâu dài, quân đội và nhân dân Việt Nam
phải giành thắng lợi từng bước, từng bước làm thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường, tiến
lên tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định và kết hợp với giải pháp ngoại giao để kết thúc
cuộc kháng chiến.
Câu 37:
Tóm tắt những thắng lợi của ba nước Đông Dương trên các mặt trận chính trị và ngoại giao từ
năm 1969 đến năm 1973. Nêu ý nghĩa của mỗi thắng lợi đó.
- Ngày 6-6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập.
Vừa mới ra đời, Chính phủ này được 23 nước công nhận, 21 nước đặt quan hệ ngoại giao.
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời là sự kiện chính trị quan
trọng. Đó là Chính phủ đại diện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam, nâng cao vị thế
của cách mạng miền Nam trên trường quốc tế.
- Tháng 4-1970, Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương họp tại Hà Nội, khẳng định quyết tâm
đoàn kết chống Mĩ. Bản Tuyên bố chung của Hội nghị là một cương lĩnh datra, một hiến chương
về tình đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Việt - Lào - Campuchia trong sự nghiệp chống kẻ thù
chung.
Thành công của Hội nghị góp phần củng cố và tăng cường khối đoàn kết Đông Dương khối liên
minh chiến đấu giữa ba dân tộc, một nhân tố đảm bảo thắng lợi của cách mạng mỗi nước, nhất là
trong điều kiện Mĩ đang thực hiện "Đông Dương hóa chiến tranh".
- Ngày 21-7-1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lặp lại hòa bình ở Việt Nam được kí
kết. Hoa Kì phải cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nước Việt Nam là độc lập, chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thỗ; rút hết quân viễn chinh khỏi miền Nam.
Đây là một thắng lợi của cuộc đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Với
việc kí Hiệp định này, nhân dân Việt Nam căn bản hoàn thành nhiệm vụ "đánh cho Mĩ cút", làm
so sánh lực lượng ở miền Nam thay đổi có lợi cho cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi để nhân
dân Việt Nam tiếp tục tiến lên "đánh cho Ngụy nhào", giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ
quốc.
Câu 38:
Tóm tắt các chương trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Đông Dương (từ năm 1897
đến năm 1929) và nêu những tác động của nó đối với tình hình kinh tế và xã hội Việt Nam.
a) Các chương trình khai thác thuộc địa
- Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất
Sau khi dập tắt phong trào Cần Vương, căn bản hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam, từ
năm 1897 thực dân Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất ở Đông Dương
chú trọng các vấn đề sau:
+ Thiết lập một hệ thống chính sách thuế khóa nặng nề, kể cả thuế trực thu và thuế gián thu,
nhằm vơ vét tiền của để bỏ vào khai thác trên quy mô lớn hơn.
+ Ra sức xây dựng cơ sở hạ tầng, chủ yếu là hệ thống cầu cống, đường sắt và đường bộ để phục
vụ khai thác kinh tế…
+ Xây dựng một số cơ sở công nghiệp, như các nhà máy điện, nước, xi măng, dệt và xay xát gạo,
sản xuất những mặt hàng không cạnh tranh với ngành công nghiệp Pháp, tiến hành khai thác mỏ,
cướp ruộng đất, lập đồn điền trồng lúa, chè, cà phê, cao su…
- Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai:
Để bù đắp những tổn thất trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp tiến hành chương trình khai
thác thuộc địa lần thứ hai từ sau chiến tranh. Cụ thể như sau:
+ Đầu tư vốn trên quy mô lớn, tốc độ nhanh và Đông Dương, từ năm 1924 đến năm 1929, số vốn
đầu tư và Đông Dương tăng lên 4 tỉ phrăng.
+ Trọng tâm đầu tư là hai ngành: nông nghiệp (chủ yếu là đồn điền) và khai khoáng (chủ yếu là
mỏ than).
+ Phát triển mạng giao thông vận tải, kể cả đường sắt, đường bộ và đường thủy, nhằm phục vụ
khai thác kinh tế và đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân.
+ Thương nghiệp có tăng hơn trước (trước chiến tranh hàng hóa Pháp nhập và Đông Dương
chiếm 37% trong những năm 1929-1930 tăng lên 63%).
b) Tác động đối với nền kinh tế - xã hội Việt Nam
- Về kinh tế:
+ Nền kinh tế của tư bản Pháp được thiết lập và ngày càng mở rộng, bao trùm nền kinh tế phong
kiến Việt Nam. Trong quá trình đầu tư vốn và mở rộng khai thác thuộc địa, Pháp cũng đầu tư kĩ
thuật, nhân lực, song rất hạn chế.
+ Cơ cấu kinh tế Việt Nam có chuyển biến (xuất hiện những ngành kinh tế, thành phần kinh tế và
trung tâm kinh tế mới) song chỉ có tính chất cục bộ ở một số ngành, một số vùng, còn phổ biến
vẫn trong tình trạng nghèo nàn và lạc hậu, ngày càng bị cột chặt vào nền kinh tế Pháp và vẫn là
thống trị độc chiếm của tư bản Pháp.
- Về xã hội:
+ Cơ cấu xã hội có những chuyển biến mới. Sự phân hóa giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc.
Ngoài hai giai cấp cũ là địa chủ và nông dân, nhiều giai cấp mới xuất hiện : công nhân, tư sản và
tiểu tư sản.
+ Những mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc
Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động.
+ Tính chất xã hội cũng thay đổi, từ xã hội phong kiến trở thành một xã hội thuộc địa. Cuộc đấu
tranh của nhân dân Việt Nam chống đế quốc và tay sai giành độc lập dân tộc diễn ra ngày càng
gay gắt.
Câu 39:
Trình bày và nhận xét nhiệm vụ và hình thức đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong giai đoạn
1936-1939.
a) Nhiệm vụ
- Tháng 7-1936, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp và xác
định nhiệm vụ trực tiếp, trước mắt của nhân dân Đông Dương là đấu tranh chống chế độ phản
động thuộc địa, chống phát xít, chống nguy cơ chiến tranh, đòi các quyền tự do dân sinh, dân
chủ, cơm áo hòa bình; thành lập Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương nhằm tập
hợp mọi lực lượng dân chủ chống phát xít ở Đông Dương.
- Nhận xét: Nhiệm vụ cách mạng có sự thay đổi so với phong trào cách mạng những năm 1930-
1931, chưa chống lại toàn bộ thực dân Pháp ở Đông Dương, mà chỉ chống bọn phản động thuộc
địa, chống phát xít, chưa thực hiện nhiệm vụ giành gola và ruộng đất cho nông dân.
b) Hình thức đấu tranh
- Kết hợp các hình thức công khai và bí mật, hợp pháp và bất hợp pháp, biểu hiện cụ thể là
phong trào đấu tranh đói tự do, dân sinh, dân chủ, đấu tranh nghị trường, đấu tranh trên lĩnh vực
báo chí,…
- Hình thức đấu tranh rất phong phú, nhưng chưa sử dụng bạo lực cách mạng để lật đổ ách thống
trị của thực dân Pháp nói chung.
Câu 40:
Từ tháng 9-1945 đến tháng 12-1946, Đảng và Chính phủ đã thực hiện những chủ trương sách
lược nào để đối phó với thực dân Pháp xâm lược?
a) Từ tháng 9-1945 đến tháng 12-1946: tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở
Nam Bộ và Nam Trung Bộ.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: "cắt đứt mọi quan hệ với thực dân Pháp, xóa bỏ mọi Hiệp ước
mà Pháp đã kí với nước Việt Nam".
- Trung ương Đảng xác định thực dân Pháp là kẻ thù chính mà nhân dân Việt Nam phải tập trung
ngọn lửa đấu tranh vào chúng.
- Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược bùng nổ ở Nam Bộ
(23-9-1945) rồi ngày càng lan rộng. Đảng, Chính phủ và Hồ Chí Minh quyết tâm lãnh đạo nhân
dân Nam Bộ kháng chiến, huy động cả nước chi viện cho Nam Bộ và Nam Trung Bộ, bước đầu
làm thất bại âm mưu "đánh nhanh thắng nhanh" của thực dân Pháp.
b) Từ ngày 6-3-1946 đến trước ngày 19-12-1946: thực hiện sách lược hoà với Pháp.
- Sau khi Hiệp ước Hoa - Pháp được kí kết (2-1946), Đảng chủ trương "hòa để tiến", từ chỗ đánh
Pháp, chuyển sang thực hiện sách lược hòa với Pháp; kí với Pháp Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946)
đồng ý cho quân Pháp ra miền Bắc để thay quân Trung Hoa Dân quốc giải giáp quân Nhật.
- Tiếp tục thực hiện sách lược hòa với Pháp, Chính phủ Việt Nam chủ động đàm phán với Pháp
tại Hội nghị trù bị Đà Lạt (4-1946) và Hội nghị chính thức tại Phôngtenơblô (Pháp, 7-1946). Hội
nghị Phôngtenơblô không thu được kết quả gì. Nguy cơ chiến tranh đến gần.
- Để cứu vãn tình thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đang ở thăm nước Pháp với tư cách là thượng
khách của Chính phủ Pháp kí với Bộ trưởng Thuộc địa Pháp bản Tạm ước ngày 14-9-1946, nhân
nhượng cho Pháp một số quyền lợi kinh tế và văn hóa ở Việt Nam.
c) Từ ngày 19-12-1946, kiên quyết phát động và tiến hành cuộc kháng chiến toàn quốc chống
thực dân Pháp xâm lược.
- Thực dân Pháp ngày càng lấn tới, liên tiếp gây xung đột ở Lạng Sơn, Hải Phòng, Hà Nội. Ngày
18-12-1946, Pháp gửi tối hậu thư, đòi giải tán lực lượng tự vệ và trao quyền kiểm soát Thủ đô
cho quân Pháp. Khả năng hòa hoãn không còn nữa. Nhân dân Việt Nam chỉ có một con đường
đứng lên chiến đấu vì độc lập, tự do.
- Ngày 18-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến
toàn quốc.
- Ngày 19-12-1946, Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến quyết định phát động
cuộc kháng chiến toàn quốc.
- Cả dân tộc Việt Nam nhất tề vùng dậy với tinh thần : "thà hi sinh tất cả chứ nhất định không
chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ".
Câu 41:
Nêu những điểm giống và khác nhau giữa chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" và chiến lược
"Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mĩ ở miền Nam Việt Nam.
a) Giống nhau
- Âm mưu: đều nhằm thực hiện một âm mưu chiến lược chung là: biến miền Nam Việt Nam
thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ ở Đông Dương, làm bàn đạp tiến công miền
Bắc và ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội xuống khu vực Đông Nam Á.
- Về bản chất: đều là những loại hình chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới.
- Đều dựa vào bộ mặt chính quyền và quân đội Sài Gòn do Mĩ trực tiếp viện trợ, huấn luyện,
trang bị, tổ chức và chỉ huy…
- Biện pháp: đều chú trọng thực hiện chính sách bình định, nhằm chiếm đất, giành dân…
b) Khác nhau
- Về lực lượng: trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, lực lượng chủ yếu là quân đội Sài Gòn;
vai trò của Mĩ là chi viện bằng hỏa lực và sử dụng cố vấn Mĩ để chỉ huy. “Chiến tranh cục bộ”,
lực lượng gồm quân viễn chinh Mĩ, quân các nước đồng minh của Mĩ và quân đội Sài Gòn, trong
đó quân Mĩ giữ vai trò chủ yếu.
- Biện pháp: để bình định miền Nam, trong "Chiến tranh đặc biệt", Mĩ chú trọng xây dựng "ấp
chiến lược", … trong "Chiến tranh cục bộ", Mĩ liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân "bình định"
rất tàn khốc.
- Phạm vi: "Chiến tranh đặc biệt" tiến hành chủ yếu ở miền Nam Việt Nam. "Chiến tranh cục bộ"
được kết hợp với đẩy mạnh chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng bạo lực không quân và hải quân
Mĩ với quy mô ngày càng lớn, cường độ đánh phá ngày càng ác liệt.
Câu 42
Nêu những hình thức đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong quá trình chống chủ nghĩa phát xít.
- Qua quá trình đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít của nhân dân Việt Nam trải qua hai giai đoạn
khác nhau với hai phong trào cách mạng: phong trào dân chủ 1936-1939 và phong trào giải
phóng dân tộc 1936-1945.
- Hình thức đấu tranh trong phong trào dân chủ 1936-1939 rất phong phú, bao gồm tất cả các
hình thức công khai, bán công khai, hợp pháp, bán hợp pháp, kết hợp với bí mật, bất hợp pháp,
như : mít tinh, biểu tình, bãi công, bãi khóa, bãi thị, đấu tranh trên lĩnh vực báo chí, đấu tranh
nghị trường, thành lập các hội tương tế, hội ái hữu…
- Hình thức đấu tranh trong phong trào giải phóng dân tộc 1936-1945 chủ yếu là các hình thức
bất hợp pháp, sử dụng bạo lực cách mạng, tiến hành khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích
cục bộ (trong cao trào kháng Nhật cứu nước), tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền, làm
tan rã bộ máy chính quyền của đế quốc và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng.
Câu 43
Phong trào dân chủ 1936-1939 ở Việt Nam có tính chất dân tộc hay không? Vì sao?
Phong trào dân chủ 1936-1939 là một cuộc vận động dân chủ, nhưng vẫn có tính chất dân tộc vì:
- Về đối tượng cách mạng: phong trào chưa nhằm đánh đổ toàn bộ thực dân Pháp nói chung, mà
chỉ nhằm và bọn phản động thuộc địa, song đó là một bộ phận nguy hiểm nhất trong kẻ thù của
dân tộc.
- Mục tiêu đấu tranh: Trong phong trào này, Đảng chưa chủ trương thực hiện các khẩu hiệu "độc
lập dân tộc" và "cách mạng ruộng đất", mà chỉ đòi các quyền tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo,
hobi, nhưng đó của là quyền lợi của dân tộc và phải đấu tranh để đòi từ tay kẻ thù của dân tộc.
- Lực lượng của phong trào hết sức rộng rãi, từ quần chúng cơ bản (công nhân, nông dân ) đến
các tầng lớp trên (tiểu tư sản, tư sản dân tộc, trung, tiểu địa chủ) và cả những người Pháp có xu
hướng chống phát xít ở Đông Dương, nhưng lực lượng đông đảo nhất vẫn là lực lượng dân tộc.
- Thông qua phong trào này, Đảng có điều kiện xây dựng một lực lượng chính trị quần chúng
đông đảo, rèn luyện đội ngũ, cán bộ, đảng viên, tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm, chuẩn bị tiến
lên làm cách mạng giải phóng dân tộc.
Câu 44
Phân tích vai trò của miền Bắc Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống Mĩ, cứu nước
1954-1975.
- Trong thời kì 1954-1975, miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với tiến trình phát triển của
cách mạng Việt Nam nói chung và đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mĩ, cứu nước nói riêng.
- Miền Bắc đã làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam: chi viện sức
người, sức của cho tiền tuyến miền Nam với khẩu hiệu: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh
thắng giặc Mĩ xâm lược", "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Nhiều thế
hệ thanh niên miền Bắc tiếp nối nhau vào chiến trường miền Nam… Chỉ tính riêng trong hai
năm 1973-1974, miền Bắc đã chi viện cho miền Nam 15 vạn bộ đội chủ lực và hàng chục vạn
tấn vật chất, nhất là các loại vũ khí và các phương tiện chiến tranh hiện đại, góp phần đảm bảo
cho thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Miền Bắc là nguồn cổ vũ động
viên to lớn về chính trị tinh thần đối với cuộc chiến đấu gian khổ và ác liệt của đồng bào và chiến
sĩ ở miền Nam.
- Miền Bắc không chỉ là hậu phương, mà còn là chiến trường đánh Mĩ. Quân dân miền Bắc đặt
triển khai một cuộc chiến tranh nhân dân, đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, đặc
biệt là làm nên trận "Điện Biên Phủ trên không", đập tan cuộc tập kích bằng máy bay B52 của
Mĩ và Hà Nội, Hải Phòng (12-1972). Những chiến công của quân dân miền Bắc đã góp phần
buộc Mĩ phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán và kí kết Hiệp định Pari (1973) về
chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
- Miền Bắc làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả đối với cách mạng Lào và Campuchia, thường
xuyên chi viện sức người, sức của cho chiến trường hai nước bạn; góp phần củng cố và tăng
cường khối đoàn kết Đông Dương, khối liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc trong cuộc đấu
tranh chống kẻ thù chung, tạo ra một nhân tố chất lượng để đảm bảo thắng lợi của cách mạng
mỗi nước.
- Miền Bắc còn là nhịp cầu nối liền hậu phương quốc tế với chiến trường miền Nam, là nơi tiếp
nhận, bảo quản, cải tiến và vận chuyển tới chiến trường miền Nam các loại vũ khí và các phương
tiện vật chất khác được chi viện từ các nước anh em.
Câu 45
Đảng Cộng sản Đông Dương có những chủ trương như thế nào trong quá trình lãnh đạo nhân dân
đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít?
Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít qua hai giai
đoạn với hai phong trào cách mạng khác nhau: phong trào dân chủ 1936-1939 và phong trào giải
phóng dân tộc 1936-1945.
a) Chủ trương của Đảng trong phong trào dân chủ 1936-1939 được đề ra tại Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương tháng 7-1936.
- Xác định kẻ thù cụ thể trước mắt của nhân dân Đông Dương chưa phải là thực dân Pháp nói
chung, mà là phản động thuộc địa không chịu thực hiện những chính sách mà Chính phủ Mặt
trận nhân dân Pháp đặt ban hành.
- Xác định mục tiêu đấu tranh trước mắt: tạm gác khẩu hiệu "độc lập dân tộc" và "cách mạng
ruộng đất'; các quyền tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình.
- thành lập Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (sau đổi thành Mặt trận Dân chủ
Đông Dương) nhằm tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân chủ chống phát xít ở Đông Dương,
- Phương pháp đấu tranh là kết hợp các hình thức công khai, bán công khai, hợp pháp, bán hợp
pháp, kết hợp với bí mật, bất hợp pháp.
b) Chủ trương của Đảng trong phong trào giải phóng dân tộc 1936-1945
- Chủ trương chiến lược được đề ra tại Hội nghị tháng 11-1939 và hoàn chỉnh tại Hội nghị tháng
5-1941 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu,
tạm gác khẩu hiệu "cách mạng ruộng đất", thành lập Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế
Đông Dương (1-1939), Mặt trận Việt Minh (5-1941), nhằm tập hợp mọi lực lượng dân tộc vào
cuộc đấu tranh giành độc lập tự do; đồng thời đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang giành chính
quyền.
- Chủ trương khởi nghĩa từng phần : Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta"
của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (12-3-1945) quyết định "Phát động cao trào kháng Nhật
cứu nước mạnh mẽ để làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa".
- Chủ trương phát động tổng khởi nghĩa: Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào ngày 14
và 15-8-1945, chủ trương phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước
khi quân Đồng minh vào Đông Dương.
Câu 46
Phân tích đặc điểm tình hình nước Việt Nam sau khi Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông
Dương được kí kết. Nêu nhiệm vụ, vai trò của cách mạng mỗi miền Bắc, Nam và mối quan hệ
giữa cách mạng hai Mĩền trong thời kì 1954-1975. Đặc điểm lớn nhất, độc đáo nhất của Cách
mạng Việt Nam trong thời kì này là gì?
a) Đặc điểm tình hình
Sau khi Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương được kí kết, nước Việt Nam tạm thời bị chia
cắt thành hai miền:
- Miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Ngày10-10-1954, bộ đội Việt Nam tiến vào tiếp quản Thủ đô.
Ngày 16-10-1955, miền Bắc sạch bóng quân xâm lược, căn bản hoàn thành cuộc cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân.
- Ở miền Nam, đế quốc Mĩ vào thay chân Pháp, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến
miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ. cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân ở miền Nam vẫn chưa hoàn thành.
b) Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong thời kì 1954-1975
- Nhiệm vụ của cách mạng miền Bắc: bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng cơ
sở vật chất - kỹ thuật cũng chủ nghĩa xã hội. Trước khi bước vào thời kì này miền Bắc phải khôi
phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh. Khi Mĩ tiến hành chiến tranh phá hoại, miền Bắc
phải "vừa sản xuất, vừa chiến đấu", đồng thời làm nhiệm vụ hậu phương chi viện cho tiền tuyến
miền Nam và thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với Lào và Campuchia.
- Nhiệm vụ của cách mạng miền Nam: đấu tranh chống đế quốc Mĩ và tay sai, hoàn thành cuộc
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện giải phóng miền Nam, tiến tới hòa bình thống
nhất đất nước.
- Do nhiệm vụ của cách mạng mỗi miền khác nhau, nên vị trí của cách mạng mỗi miền cũng
khác nhau:
+ Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của
cách mạng cả nước.
+ Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp đối với sự
nghiệp giải phóng miền Nam.
- Tuy nhiệm vụ và vai trò của cách mạng mỗi miền khác nhau, nhưng có quan hệ mật thiết, gắn
bó và tác động lẫn nhau nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước,
thực hiện hòa bình thống nhất đất nước.
- Đặc điểm lớn nhất, độc đáo nhất của Cách mạng Việt Nam trong thời kì 1954-1975 là tiến hành
đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Câu 50
Phong trào yêu nước Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến đầu năm 1930 phát triển
trong những điều kiện kinh tế, xã hội và tư tưởng như thế nào?
- Về kinh tế: Thực dân Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai, làm cho nền
kinh tế Việt Nam ít nhiều có sự biến đổi về cơ cấu và tính chất, nhưng do thực dân Pháp không
du nhập hoàn chỉnh phương thức tư bản chủ nghĩa vào Việt Nam, mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế
phong kiến, nên nền kinh tế Việt Nam chuy vẫn là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, què quặt
và phụ thuộc nặng nề vào nền kinh tế Pháp.
- Về xã hội: Sự phân hóa giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc, các giai cấp nông dân và địa chủ
phong kiến tiếp tục có biến đổi; giai cấp công nhân phát triển về số lượng và mức độ tập trung,
có tới hàng nghìn công nhân trong một nhà mày, đồn điền, hầm mỏ, hàng vạn công nhân trong
một triệu tập kinh tế. Các giai cấp tư sản và tiểu tư sản ra đời.
- Về tư tưởng: Tư tưởng tư sản từ bên ngoài ảnh hưởng vào Việt Nam từ trước Chiến tranh thế
giới thứ nhất. Sau chiến tranh hệ tư tưởng đó vẫn tiếp tục chi phối phong trào yêu nước. Mặt
khác, tư tưởng vô sản (ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, chủ nghĩa Mác -
Lênin, nhất là lí luận cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc từng bước được truyền
bá vào Việt Nam.
Câu 47
Phân tích sự kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao đã kết thúc cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp (1945-1954) của nhân dân Việt Nam.
- Để làm thất bại kế hoạch quân sự Nava, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra
kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953-1954, chủ trương mở cuộc Tiến công chiến lược Đông -
Xuân 1953 - 1954, đánh vào những nơi có tầm quan trọng về chiến lược nhưng địch tương đối
yếu, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó với ta, tạo điều kiện để ta tiêu diệt thêm một bộ
phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng đất, giải phóng dân.
- Đồng thời với tiến công quân sự, Đảng và Chính phủ chủ trương đẩy mạnh cuộc đấu tranh
ngoại giao, mở ra khả năng giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương bằng con đường hòa bình.
Tháng 11-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: Nếu Chính phủ Pháp đã rút ra được bài học
trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó.
- Cuộc Tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 làm cho kế hoạch Nava không thể thực
hiện được theo dự kiến. Hội nghị Ngoại trưởng bốn nước Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp họp tại Beclin
(1-1954) thỏa thuận sẽ triệu tập một hội nghị quốc tế tại Giơnevơ để giải quyết vấn đề Triều Tiên
và lập lại hòa bình ở Đông Dương. Tuy nhiên, Pháp nuôi hi vọng kết thúc chiến tranh trên thế
mạnh, nên tăng cường xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông
Dương. Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ
Chí Minh chỉ rõ: Chiến dịch này là một chiến dịch lịch sử của quân đội ta, ta đánh thắng chiến
dịch này có ý nghĩa quân sự và chính trị quan trọng.
- Ngày 7-5-1954, quân đội và nhân dân Việt Nam giành thắng lợi hoàn toàn trong chiến dịch
Điện Biên Phủ, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển
cục diện chiến tranh, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc datr ngoại giao tại Hội nghị Giơnevơ về
Đông Dương (từ ngày 8-5-1954 đến 21-7-1954), kết thúc cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng
của dân tộc.
Câu 48
Dựa vào bảng dữ liệu, hãy xác định tổ chức chính trị theo khuynh hướng vô sản đầu tiên của Việt
Nam. Trình bày hoàn cảnh ra đời và vai trò của tổ chức đó.
Tổ chức chính trị Thời gian
Tổ chức Công hội (Sài Gòn- Chợ Lớn) Năm 1920
Đảng Lập hiến (Nam Kì) Năm 1923
Tổ chức Tâm tâm xã (Quảng Châu - Trung Năm 1923
Quốc)
Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (Quảng Năm 1925
Châu - Trung Quốc)
Hội Phục Việt sau đó đổi tên là Tân Việt Cách Năm 1925
mạng đảng (Trung Kì)
Năm 1927 Việt Nam Quốc dân đảng
a) Tổ chức chính trị theo khuynh hướng vô sản đầu tiên: Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên
(Quảng Châu - Trung Quốc) do Nguyễn Ái Quốc thành lập (6-1925).
b) Hoàn cảnh ra đời (Như trong chuẩn)
c) Vai trò (Như trong chuẩn)
Câu 49
Phong trào dân chủ 1936-1939 diễn ra trong bối cảnh lịch sử như thế nào? Phân tích ý nghĩa của
phong trào đó đối với Cách mạng tháng Tám năm 1945.
a) Bối cảnh lịch sử (Như trong chuẩn)
b) Ý nghĩa của phong trào
- Trong phong trào dân chủ 1936-1939, một phong trào cách mạng diễn ra trên quy mô rộng lớn,
lôi cuốn, đông đảo quần chúng tham gia, với những hình thức tổ chức và đấu tranh phong phú,
quần chúng được tổ chức, giác ngộ và rèn luyện qua thực tiễn đấu tranh đòi quyền lợi hằng ngày,
trở thành lực lượng chính trị hùng hậu của cách mạng.
- Đội ngũ cán bộ, đảng viên có sự phát triển về số lượng, được tôi luyện và trưởng thành.
- Phong trào đặt để lại nhiều bài học về xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, về giải quyết mối
quan hệ giữa mục tiêu chiến lược và mục tiêu trước mắt, về kết hợp các hình thức tổ chức và đấu
tranh…
- Phong trào dân chủ 1936-1939 là một cuộc tập dượt, chuẩn bị lực lượng cho cuộc tổng khởi
nghĩa tháng Tám năm 1945.
Câu 50
Trình bày và nhận xét những nhiệm vụ trực tiếp trước mắt của nhân dân Việt Nam trong hai giai
đoạn 1936-1939 và 1939-1945.
b) Trong giai đoạn 1936-1939
- Nhiệm vụ trực tiếp trước mắt: đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít,
chống chiến tranh, các quyền tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình.
- Nhận xét: chưa đánh lại toàn bộ kẻ thù của dân tộc, mà chỉ nhằm vào bộ phận phản động nhất
trong kẻ thù dân tộc mà thôi; cũng chưa thực hiện các khẩu hiệu "độc lập dân tộc" và "cách mạng
ruộng đất", mà chỉ đòi các quyền dân sinh, dân chủ hàng ngày.
Những nhiệm vụ trên phù hợp với tình hình quốc tế v trong nước lúc đó, đáp ứng yêu cầu của
cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình thế giới, đồng thời thực hiện giành thắng lợi một bước cho cách
mạng Việt Nam, chuẩn bị lực lượng để tiến lên làm cách mạng giải phóng dân tộc.
b) Trong giai đoạn 1939-1945
- Nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là giải phóng dân tộc, tạm gác khẩu hiệu "cách mạng ruộng đất",
nêu khẩu hiệu giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng đất công, tiến tới thực hiện "người cày có ruộng".
- Nhận xét: giương cao ngọn cờ dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tập trung
giải quyết mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa toàn dân tộc với đế quốc
xâm lược và tay sai.
Có tác dụng huy động lực lượng toàn dân tộc và cuộc đấu tranh giành độc lập tự do, tiến lên
trong cao trào kháng Pháp, đuổi Nhật, đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa giành
chính quyền cách mạng.
Câu 51
Dựa vào bảng dữ liệu trong bảng dưới đây, hãy nhận xét những nhiệm vụ mà Đảng, Chính phủ
và nhân dân Việt Nam đã giải quyết từ sau ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công
đến trước ngày 19-12-1946. Nêu ý nghĩa của việc giải quyết những nhiệm vụ đó.
Thời gian Nội dung
Ngày 3-9-1945 Trong phiên họp đầu tiên, Chính phủ xác định
vấn đề giải quyết nạn đói là một trong các
nhiệm vụ cấp bách.
Ngày 8-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh thành lập
"Nha Bình dân học vụ, cơ quan chuyên trách
việc chống "giặc dốt".
Ngày 23-9-1945 Quân dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược.
Ngày 6-1-1946 Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 2-3-1946 Quốc hội họp phiên đầu tiên, thông qua danh
sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến.
Ngày 6-3-1946 Đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa kí với đại diện. Chính phủ Pháp bản Hiệp
định Sơ bộ.
Ngày 22-5-1946 Vệ quốc đoàn được đổi thành quân đội quốc
gia Việt Nam.
Ngày 14-9-1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh kí với Mutê - Bộ trưởng
Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp bản Tạm ước.
Ngày 9-11-1946 Quốc hội thông qua Hiến pháp đầu tiên của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 11-11-1946 Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố "tự giải
tán".
Ngày 23-11-1946 Quốc hội quyết định cho lưu hành tiền Việt
Nam trong cả nước thay cho đồng tiền Đông
Dương.
a) Nhận xét về những nhiệm vụ để giải quyết
- Những nhiệm vụ xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa được tiến hành một cách toàn diện, trên tất
cả các lĩnh vực: kinh tế, kinh tế - tài chính; văn hóa - xã hội và an ninh - quốc phòng.
- Những nhiệm vụ bảo vệ chế độ mới được tiến hành song song với nhiệm vụ xây dựng chế độ
dân chủ cộng hòa, bằng những sách lược mềm dẻo, linh hoạt, khi thì hòa hoãn với Trung Hoa
Dân quốc và tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp, khi thì hòa với Pháp để đuổi quân
Trung Hoa Dân quốc về nước nhằm tránh cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù.
- việc thực hiện đồng thời hai loại nhiệm vụ trên đây phản ánh đúng quy luật của lịch sử dân tộc
Việt Nam - dựng nước đi đôi với giữ nước, đồng thời của phản ánh quy luật của đấu tranh cách
mạng- xây dựng chế độ mới phải gắn liền với bảo vệ chế độ mới.
b) Ý nghĩa
- Tránh được tình thế bất lợi phải chiến đấu với nhiều kẻ thù cùng một lúc khi so sánh lực lượng
chưa có lợi cho Cách mạng Việt Nam.
- Giữ vững và phát triển thành quả của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đặc biệt là giữ vững
chính quyền cách mạng.
- Từng bước ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội mới.
- Tạo ra sức mạnh vật chất và tinh thần cho dân tộc Việt Nam để sẵn sàng và chủ động bước vào
một cuộc kháng chiến lâu dài.
Câu 52
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), quân dân Việt Nam đã giành được
những thắng lợi tiêu biểu nào trên mặt trận quân sự? Phân tích ý nghĩa của những thắng lợi đó.
a) Những thắng lợi tiêu biểu trên mặt trận quân sự
- Chiến dịch Việt Bắc thu - đông năm 1947.
- Chiến dịch Biên giới thu - đông năm 1950.
- Cuộc Tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ.
b) Phân tích ý nghĩa
- Chiến dịch Việt Bắc: là chiến dịch phản công lớn đầu tiên của bộ đội chủ lực Việt Nam trong
cuộc kháng chiến, làm thất bại hoàn toàn chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" của thực dân
Pháp; buộc Pháp phải thay đổi chiến lược chiến tranh, từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang đánh
lâu dài. Căn cứ địa Việt Bắc được bảo vệ vững chắc, bộ đội chủ lực thêm trưởng thành, mở ra
bước phát triển mới của cuộc kháng chiến.
- Chiến dịch Biên giới: là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên của bộ đội chủ lực trong cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp; giành được thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ;
cùng với thắng lợi ngoại giao trong năm 1950, làm cho cuộc kháng chiến thoát khỏi tình thế bị
bao vây, cô lập; chuyển cuộc kháng chiến sang giai đoạn mới.
- Cuộc Tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ đập tan
hoàn toàn kế hoạch Nava, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp; làm xoay
chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương, tạo cơ sở thực lực cho cuộc đấu tranh ngoại giao tại
Hội nghị Giơnevơ, kết thúc cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc.
Câu 53
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954-1975), phong trào đấu tranh nào là mốc đánh
dấu bước chuyển của cách mạng Việt Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang tiến công? Nêu điều
kiện bùng nổ, kết quả và ý nghĩa của phong trào đó.
a) Mốc đánh dấu bước chuyển của cách mạng ở miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến
công là phong trào "Đồng khởi" (1959-1960). (Như trong chuẩn)
b) Điều kiện lịch sử (Như trong chuẩn)
c) Ý nghĩa (Như trong chuẩn)
Câu 54
Tài liệu nào giúp Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cứu nước mới cho nhân dân Việt
Nam? Vì sao Nguyễn Ái Quốc xác định con đường đó?
a) Tài liệu nào giúp Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cứu nước mới cho nhân dân Việt
Nam
Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lê nin
đăng trên báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp đã giúp Nguyễn Ái Quốc xác định con đường
cứu nước và giải phóng dân tộc đi theo con đường cách mạng vô sản.
b) Vì sao Nguyễn Ái Quốc xác định con đường cứu nước theo khuynh hướng vô sản?
- Do tác động của bối cảnh thời đại mới:
+ Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển hẳn sang giai đoạn đế quốc chủ
nghĩa. Nhưng mâu thuẫn nội tại của nó đang phát triển gay gắt. Mâu thuẫn giữa đế quốc với đế
quốc dẫn đến chiến tranh đế quốc, tiêu biểu là cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918).
Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với đế quốc dẫn đến sự phát triển của phong trào giải
phóng dân tộc. Mâu thuẫn giữa vô sản với tư sản dẫn đến phong trào công nhân và cách mạng xã
hội.
+ Tháng 11-1917, Cách mạng tháng Mười Nga thành công, mở ra con đường giải phóng cho các
dân tộc bị áp bức. Chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành hiện thực và được truyền bá rộng rãi khắp
nơi, dẫn đến sự ra đời của các Đảng Cộng sản trên thế giới. Quốc tế Cộng sản được thành lập
(1919)…
+ Thời đại mới đã giúp cho Nguyễn Ái Quốc kết hợp nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tiễn để
xác định một con đường cứu nước đúng đắn.
- Do yêu cầu của sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam:
Phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam diễn ra liên tục và anh dũng nhưng đều không thành
công, những con đường cứu nước theo khuynh hướng phong kiến (cuối thế kỉ XIX) và tư sản
(đầu thế kỉ XX) đều không thể giải quyết được nhiệm vụ giành độc lập dân tộc. Sự nghiệp cứu
nước lâm vào một tình hình đen tối tưởng như không có đường ra. Tình hình đó đặt ra yêu cầu
phải tìm một con đường cứu nước mới.
- Do trí tuệ và nhãn quan chính trị của Nguyễn Ái Quốc:
+ Thấy được những hạn chế trong các con đường cứu nước của thế hệ trước, Nguyễn Ái Quốc
quyết tâm ra đi để học tập rồi trở về giúp cho đồng bào mình. Người đến nhiều châu lục và quốc
gia trên thế giới, kể cả các nuo tư bản và thuộc địa, kết hợp tìm hiểu lí luận và khảo sát thực tiễn,
rút ra nhiều kết luận quan trọng về bạn và thù của nhân dân Việt Nam trên thế giới, về những
cuộc cách mạng tư sản là "chưa đến nơi", về bản chất của chủ nghĩa thực dân, về tinh thần độc
lập tự chủ của nhân dân các nước thuộc địa trong sự nghiệp giải phóng…
+ Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc phát hiện thấy trong Luận cương của Lê nin một phương
hướng cứu nước mới, thực sự giải phóng cho dân tộc, cho người lao động. Vì vậy, Người khẳng
định con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản.
Câu 55
Từ năm 1936 đến năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo nhân dân xây dựng thành
công những tổ chức mặt trận nào? Nêu vai trò của mỗi mặt trận đó.
a) Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương
- Do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập theo chủ trương của Hội nghị Ban Chấp hành Trung
ương tháng 7-1936, đến tháng 3-1938 đổi là Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương
(gọi tắt là Mặt trận Dân chủ Đông Dương).
- Vai trò: đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp, giai cấp, cá nhân yêu nước không phân biệt tôn giáo,
đảng phái, kể cả những người Pháp dân chủ tiến bộ, nhằm chống phát xít, phản động thuộc địa
và tay sai, đòi các quyền tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình; xây dựng và rèn luyện lực
lượng chính trị quần chúng cho Cách mạng tháng Tám năm 1945.
b) Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương
- Được thành lập theo chủ trương của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Đông Dương tháng 11-1939.
- Vai trò: đoàn kết mọi tầng lớp, giai cấp, cá nhân yêu nước không phân biệt tôn giáo, đảng phái,
nhằm chĩa mũi nhọn và đế quốc Pháp xâm lược và tay sai, đấu tranh giải phóng dân tộc, làm cho
Đông Dương hoàn toàn độc lập.
Câu 56
Trình bày và nhận xét những chủ trương, quyết định của Đảng Lao động Việt Nam cuối năm
1974 - đầu năm 1975 để giải phóng hoàn toàn miền Nam.
a) Chủ trương giải phóng hoàn toàn miền Nam và quyết định mở chiến dịch Tây Nguyên
- Cuối năm 1974 - đầu năm 1975, nhất là sau chiến thắng Phước Long (1-1975), Bộ Chính trị
Trung ương Đảng đề ra kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong 2 năm 1975 và 1976.
Tuy nhiên, Bộ Chính trị cũng chỉ rõ: Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức
giải phóng miền Nam trong năm 1975. Bộ Chính trị nhấn mạnh sự cần thiết tranh thủ thời cơ
đánh thắng nhanh để đỡ thiệt hại về người và của cho nhân dân, giữ gìn tốt cơ sở kinh tế, công
trình văn hóa… giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh. Bộ Chính trị quyết định chọn Tây Nguyên
làm hu71ng tiến công chủ yếu trong năm 1975.
- Nhận xét: Chủ trương, kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam được xác định một cách rõ
ràng và linh hoạt, khi địch đặt suy yếu, so sánh lực lượng trên chiến trường đang thay đổi có lợi
cho cách mạng. Quyết định chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu trong năm 1975 là
đúng đắn, vì đây là địa bàn chiến lược hết sức quan trọng, lực lượng cách mạng có nhiều lợi thế,
nhưng là nơi địch có nhiều sơ hỏ do nhận định sai hướng tiến công của bộ đội chủ lực Việt Nam.
Tây Nguyên là nơi dễ phá vỡ chiến lược phòng ngự của địch, dễ phát triển chiến lược tiến công
của cách mạng.
b) Quyết định giải phóng Huế và Đà Nẵng
- Trong khi chiến dịch Tây Nguyên đang tiếp diễn, nhận thấy thời cơ đang đến nhanh và hết sức
thuận lợi, cuộc tiến công chiến lược ở Tây Nguyên đã phát triển thành Tổng tiến công chiến lược
trên toàn miền Nam, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam,
trước tiên là giải phóng Huế - Đà Nẵng.
- Nhận xét: đặt là quyết định kịp thời và chính xác, được đưa ra khi địch đang bị vỡ trận, tháo
chạy khỏi Tây Nuyên, quân và dân trên chiến trường Tây Nguyên đang đánh truy kích địch rút
lui chiến lược. Đó là lúc xuất hiện khả năng hoàn thành quyết tâm giải phóng miền Nam trong
năm 1975.
c) Quyết định giải phóng Sài Gòn - Gia Định, giải phóng hoàn toàn miền Nam trước mùa mưa
năm 1975
- Sau những thắng lợi ở Tây Nguyên và Huế - Đà Nẵng, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhận
định "Thời cơ chất lượng đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng miền
Nam"; từ đó đi đến quyết định "phải tập trung nhanh nhất lực lượng binh khí kỹ thuật và vật chất
giải phóng miền Nam trước mùa mưa (trước tháng 5-1975)".
Ngày 14-4-1975, Bộ Chính trị quyết định chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định mang tên
chiến dịch Hồ Chí Minh.
- Nhận xét: đây là một quyết định nhanh chóng, kịp thời, ngay sau khi lực lượng vũ trang và
quần chúng nhân dân đã giải phóng hoàn toàn Đà Nẵng, một căn cứ quân sự liên hợp hải quân -
lục quân - không quân của địch, đồng thời đang phát triển tiến công giải phóng các tỉnh còn lại ở
ven biển miền Trung, Nam Tây Nguyên và một số tỉnh Nam Bộ. Địch phải co về phòng ngự Sài
Gòn, bắt đầu từ Phan Rang, Xuân Lộc. Lực lượng địch đã suy yếu nhiều. Lực lượng cách mạng,
nhất là bộ đội chủ lực có khả năng tập trung tới mức áp đảo và cơ động nhanh với các phương
tiện chiến tranh hiện đại để giành thắng lợi một cách triệt để theo phương châm "Thần tốc, táo
bạo, bất ngờ, chắc thắng".
Những chủ trương và quyết định cuối năm 1974- đầu năm 1975 thể hiện sự chỉ đạo kịp thời, sắc
bén, linh hoạt của Đảng trong việc giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc thắng lợi cuộc
kháng chiến chống Mĩ, cứu nước.
Câu 57
Tóm tắt những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ngày 2-9-1945 đến ngày 19-12-1946.
a) Trong công cuộc xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa
- Ngày 2-9-1945, Lễ Độc lập được tổ chức trọng thể tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội). Chính
phủ lâm thời ra mắt quốc dân. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên
ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
- Một tuần sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (8-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh
công bố lệnh Tổng tuyển cử trong cả nước. Trên cơ sở đó, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội
được tổ chức vào ngày 6-1-1946.
- Ngày 2-3-1946, tại phiên họp đầu tiên của Quốc hội, Hồ Chí Minh đứng ra thành lập Chính phủ
liên hiệp kháng chiến, phụ trách Ủy ban dự thảo Hiến pháp.
- Để giải quyết nạn đói, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân cả nước "Nhường cơm sẻ áo",
lập "Hũ gạo cứu đói", tổ chức "Ngày đồng tâm",… Người kêu gọi "Tăng gia sản xuất !Tăng gia
sản xuất ngay !Tăng gia sản xuất nữa!" . Một phong trào tăng gia sản xuất dấy lên khắp cả nước.
- Ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ - cơ quan
chuyên trách về chống "giặc dốt" - và kêu gọi nhân dân cả nước đi học.
- Để khắc phục tình trạng khó khăn về tài chính, Người phát động phong trào "Tuần lễ vàng",
xây dựng "Quỹ độc lập". Đầu năm 1946, Người kí sắc lệnh phát hành tiền Việt Nam.
b) Trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc
- Tháng 9-1945, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ ở Nam Bộ. Trung ương Đảng,
Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện quyết tâm lãnh đạo kháng chiến, huy động nhân
dân cả nước chi viện cho Nam Bộ và Nam Trung Bộ kháng chiến.
- Trong hoàn cảnh phải đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở miền Nam,Trung
ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương hòa hoãn, tránh xung đột với quân
Trung Hoa Dân quốc ở miền Bắc…
- Ngày 6-3-1946, thực hiện chủ trương "hòa để tiến", Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kí với đại diện Chính phủ phpa bàn Hiệp định Sơ bộ, hòa
hoãn với Pháp, tránh một cuộc chiến đấu bất lợi vì phải chống lại nhiều kẻ thù cùng một lúc.
- Ngày 14-9-1946, trong chuyến đi thăm nước Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ
Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí với Mutê - đại diện Chính phủ Pháp - bản Tạm ước, tiếp tục kéo
dài thời gian hòa hoãn để xây dựng và củng cố lực lượng.
- Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, như một lời
hiệu triệu cả dân tộc đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược vì độc lập, tự do.
Như vậy, trong năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng
với Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo nhân dân giải quyết nhiều khó khăn về đối nội, đối
ngoại, tích cực chuẩn bị lực lượng và kiên quyết bước vào cuộc kháng chiến lâu dài.
Câu 58
Lập bảng hệ thống kiến thức về đối sách của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo mẫu
sau:
Từ sau ngày 2-9-1945 đến Từ ngày 6-3-1946 đến trước
trước ngày 6-3-1946 ngày 19-12-1946
Kẻ thù nguy hiểm nhất Thực dân Pháp xâm lược
Chủ trương Hòa hoãn với quân Trung Hoa Hòa với Pháp để đẩy quân
Dân quốc để tập trung lực Trung Hoa Dân quốc về nước,
lượng đánh Pháp ở miền Nam. tránh phải chiến đấu cùng một
lúc với nhiều kẻ thù.
Biện pháp - Nhường cho Trung Hoa Dân - Kí với đại diện Chính phủ
quốc và tay sai một số quyền Pháp Hiệp định Sơ bộ ngày 6-
lợi kinh tế, chính trị. 3-1946, đồng ý cho quân Pháp
- Đảng Cộng sản rút vào hoạt ra miền Bắc.
động bí mật với danh nghĩa - Đàm phán với Pháp tại Hội
"tự giải tán". nghị Phôngtennơblô (7-1946).
- Kiên quyết trừng trị bọn - Kí bản Tạm ước ngày 14-9-
phản cách mạng khi có đủ 1946, nhượng cho Pháp một
bằng chứng. số quyền lợi kinh tế - văn hóa.
Kết quả, ý nghĩa - Hạn chế sự chống phá của - Tránh được một cuộc chiến
quân Trung Hoa Dân quốc và đấu bất lợi với nhiều kẻ thù
tay sai. một lúc.
- Tập trung kháng chiến chống - Loại bỏ bớt kẻ thù.
Pháp ở miền Nam…
Tạo thời gian để củng cố chủ quyền cách mạng, chuẩn bị lực
lượng cho cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp.
Câu 59
Tóm tắt hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc
- Ngày 5-6-1911, trên một chiếc tàu buôn của Pháp, Nguyễn Ái Quốc rời cảng Nhà Rồng ra đi
tìm đường cứu nước.
- Tháng 7-1911, Người đến cảng Mácxây, sau đó đến nhiều nước Châu Phi, Châu Mĩ, Châu Âu,
nhất là ba nước tư bản phát triển Mĩ, Anh và Pháp.
- Nguyễn Ái Quốc rút ra một số kết luận quan trọng: ở đâu bọn đế quốc, thực dân cũng tàn bạo,
độc ác; ở đâu người lao động cũng bị áp bức bóc lột nặng nề…
- Đầu tháng 12-1917, Nguyễn Ái Quốc từ Luân Đôn (Anh) đến Pari (Pháp) hoạt động . Người
gia nhập Đảng Xã hội Pháp, tham gia thành lập Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp.
- Ngày 18-6-1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước. Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội
nghị Véc-xai bản Yêu sách của nhân dân An Nam, đòi các quyền tự do, dân sinh, dân chủ, quyền
bình đẳng, quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam. Bản yêu sách không được Hội nghị chấp nhận.
Sự thật đó cho thấy những lời tuyên bố của các nhà chính trị đế quốc về quyền tự do dân chủ và
quyền tự quyết của các dân tộc mà điển hình là Chương trình 14 điểm của Tổng thống Mĩ
Uynxơn chỉ là trò lừa bịp. Nguyễn Ái Quốc kết luận: "muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có
thể trông cậy vào lực lượng của bản thân mình".
- Giữa tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề
dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lê nin, đăng trên báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp. Bản
Luận cương giúp cho Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cứu nước giải phóng dân tộc là
con đường của cách mạng vô sản.
- Ngày 25-12-1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội XVIII của Đảng Xã hội Pháp họp tại
thành phố Tua. Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản; đồng thời tham gia thành
lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.
- Như vậy, sau khoảng 10 năm tìm đường cứu nước (1911-1920) Nguyễn Ái Quốc đã bắt gặp
chủ nghĩa Mác - Lênin và xác định con đường cứu nước theo khuynh hướng vô sản, mở đường
để giải quyết tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước đầu thế kỉ XX.
Câu 61
Phân tích hoàn cảnh lịch sử và nội dung Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh
a) Hoàn cảnh lịch sử
- Với thiện chí nhân đạo và hòa bình, Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã kiên trì đàm
phán và nhân nhượng cho thực dân Pháp nhiều quyền lợi, thể hiện trong bản Hiệp định Sơ bộ
ngày 6-3-1946 và Tạm ước ngày 14-9-1946. Trong khi tranh thủ khả năng hòa bình, Chính phủ
và nhân dân Việt Nam vẫn tích cực chuẩn bị lực lượng về mọi mặt để sẵn sàng đối phó với khả
năng chiến tranh.
- Chính phủ Pháp ngoan cố bám giữ lập trường thực dân, nuôi hi vọng giành thắng lợi bằng quân
sự, không chịu công nhận một nước Việt Nam độc lập, thống nhất.
- Trái ngược với thiện chí của Việt Nam, thực dân Pháp ngày càng lấn tới. Sau khi đã đưa thêm
lực lượng quân sự tới Đông Dương, tháng 11-1946, thực dân Pháp gây xung đột ở Hải Phòng,
Lạng Sơn và cho quân đổ bộ lên Đà Nẵng. Tháng 12-1946, chúng chiếm đóng trái phép Đà
Nẵng, Hải Dương, đưa thêm viện binh đến Hải Phòng, rồi gây xung đột vũ trang ở Hà Nội: bắn
đại bác gây ra vụ thảm sát đẫm máu ở phố Hàng Bún, chiếm trụ sở Bộ Tài chính và Bộ Giao
thông Công chính của Việt Nam,…
- Trắng trợn hơn, ngày 18-12-1946 Pháp gửi tối hậu thư đòi Chính phủ Việt Nam giải tán lực
lượng tự vệ và trao quyền kiểm soát Thủ đo cho quân Pháp, nếu yêu cầu đó không được chấp
nhận thì chậm nhất vào sáng 20-12-1946, Pháp sẽ giành toàn quyền hành động.
- Khả năng hòa hoãn không còn nữa. Mọi nhân nhượng đã đến giới hạn cuối cùng nhân dân Việt
Nam chỉ có một con đường cầm vũ khí đứng lên chiến đấu và độc lập, tự do. Trung ương Đảng
và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ động và kiên quyết phát động cuộc kháng chiến toàn quốc. Ngày
18 và 19-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương, họp Hội nghị mở
rộng tại Vạn Phúc (Hà Đông) dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết định phát động
cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược. Ngày 19-12-1946, Hồ Chí Minh ra
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
b) nội dung Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
- Nếu rõ nguyên nhân dẫn đến cuộc kháng chiến là do thực dân Pháp cố tình gây chiến tranh xâm
lược nước Việt Nam. Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân
nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm
cướp nước ta một lần nữa.
- Xác định mục đích kháng chiến là vì độc lập, tốc độ, Hồ Chí Minh kêu gọi: "Không! Chúng ta
thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ".
- Phác họa những nét cơ bản của đường lối kháng chiến toàn dân, huy động toàn dân đánh giặc
bằng mọi vũ khí có trong tay : "Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không chia
tôn giáo, đảng phải, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu
Tổ quốc"."Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng,
gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp, cứu nước".
- Khẳng định cuộc kháng chiến sẽ diễn ra lâu dài, gian khổ nhưng cuối cùng nhất định thắng lợi:
"Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hi sinh, thì thắng lợi nhất định về
dân tộc ta".
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh là lời hịch cứu nước, là tiếng gọi của non
sông đất nước, là tiếng kèn xung trận, cổ vũ, dẫn dắt cả dân tộc Việt Nam đứng lên kháng chiến
và kháng chiến thắng lợi.
Câu 62
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1945-1954), kế hoạch nào của thực dân Pháp bắt
đầu thực hiện từ thu - đông năm 1953. Phân tích hoàn cảnh ra đời và nội dung của kế hoạch đó.
a) Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954-1954), từ thu - đông năm 1953, thực dân
Pháp thực hiện kế hoạch Nava.
b) Hoàn cảnh lịch sử
- Trải qua 8 năm chiến tranh, thực dân Pháp thiệt hại ngày càng lớn; vùng chiếm đóng ngày càng
bị thu hẹp, lâm vào thế bị động phòng ngự trên chiến trường. Cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông
Dương làm cho tình hình kinh tế - xã hội Pháp gặp nhiều khó khăn. Pháp tranh thủ sự viện trợ
của Mĩ, tập trung mọi cố gắng để kết thúc chiến tranh trong danh dự.
- Trước tình thế bị sa lầy và thất bại của Pháp, Mĩ can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh Đông
Dương, ép Pháp kéo dài và mở rộng chiến tranh, tích cực chuẩn bị thay thế Pháp chiếm đóng
Đông Dương.
- Ngày 7-5-1953, được sự thỏa thuận của Mĩ, Chính phủ Pháp cử tướng Nava làm Tổng chỉ huy
quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Nava đề ra một kế hoạch quân sự với hi vọng trong 18
tháng giành thắng lợi quyết định.
c) Nội dung kế hoạch Nava
- Kế hoạch Nava được chia thành 2 bước:
+ Bước thứ nhất, trong thu - đông 1953 và xuân 1954, giữ thế phòng ngự chiến lược ở Bắc Bộ,
tiến công chiến lược để bình định Trung Bộ và Nam Đông Dương; xóa bỏ vùng tự do Liên khu
V, đồng thời ra sức xây dựng đội quân cơ động chiến lược mạnh.
+ Bước thứ hai, từ thu - đông 1954, chuyển lực lượng ra chiến trường Bắc Bộ, thực hiện tiến
công chiến lược, cố gắng giành thắng lợi quân sự quyết định, buộc Việt Minh phải đàm phán với
những điều kiện có lợi cho Pháp.
- Thực hiện kế hoạch : từ thu - đông 1953, Nava tập trung lực lượng quân cơ động ở đồng bằng
Bắc Bộ là 44 tiểu đoàn (trong tổng số 84 tiểu đoàn cơ động chiến lược trên toàn Đông Dương),
mở rộng hoạt động thổ phỉ, biệt kích ở vùng rừng núi, biên giới, mở cuộc tiến công lớn vào vùng
giáp giới Ninh Bình, Thanh Hóa.
- Kế hoạch Nava thể hiện sự câu kêt chặt chẽ của Pháp - Mĩ. Đây là kế hoạch toàn diện, có quy
mô lớn, làm cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Bản chất của kế
hoạch Nava là một kế hoạch tập trung binh lực để tiến công quân sự, giành lại thế chủ động
chiến lược đã mất. Điều đó mâu thuẫn với bản chất của chiến tranh xâm lược thuộc địa là phải
phân tán binh lực để chiếm đất, giữ dân.
Tuy nhiên, ngay từ đầu nó đã hàm chứa những yếu tố thất bại như: ra đời trong thế bị động,
không thể giải quyết được khó khăn cơ bản giữa tập trung với phân tán lực lượng giữa thế và lực
của quân Pháp với mục tiêu chiến lược mà chúng đặt ra.
Câu 63
Lập bảng tóm tắt các phong trào cách mạng 1930-1931 và 1936-1939 theo mẫu
Phong trào 1930-1931 Phong trào 1936-1939
Kẻ thù Đế quốc Pháp và phong kiến Đế quốc phát xít, phản động
tay sai. thuộc địa Pháp và tay sai của
chúng.
Mục tiêu Giành độc lập dân tộc và Đòi các quyền tự do, dân chủ,
ruộng đất cho dân cày nghèo. cơm áo, hòa bình.
Lực lượng Chủ yếu là công nhân và nông Đông đảo các giai cấp, tầng
dân lớp: công nhân, nông dân, tiểu
tư sản, tư sản, địa chủ và của
những người Pháp của xu
hướng chống phát xít ở Đông
Dương.
Phương pháp Phong phú và quyết liệt, như : Rất phong phú, như mít tinh,
bãi công, biểu tình, bãi khóa, hội họp, lập hội, lập đoàn, đấu
bãi thị, mít tinh, bao vây tranh báo chí, đấu tranh nghị
huyện đường, thành lập các trường, đưa đơn kiến nghị, …
đội tự vệ… Hình thức đấu Hình thức đấu tranh là kết hợp
tranh chủ yếu là bất hợp pháp. công khai và bí mật, hợp pháp
và bất hợp pháp.
Câi 64
Nêu phương hướng chiến lược của quân đội và nhân dân Việt Nam trong Đông - Xuân 1953-
1954. Đánh giá hiệu quả việc thực hiện phương hướng chiến lược đó.
a) Phương hướng chiến lược
Trước sự thay đổi của cục diện chiến tranh ở Đông Dương và trên cơ sở nhận định âm mưu mới
của Pháp - Mĩ, tháng 9-1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đề ra kế hoạch tác chiến Đông -
Xuân 1953-1954 với phuonh chiến lược: Tập trung lực lượng tiến công và những hướng quan
trọng mà địch tương đối yếu, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó trên những địa bàn xung
yếu mà chúng không thể bỏ, tạo điều kiện thuận lợi mới để tiêu diệt thêm từng bộ phận sinh lực
của chúng, giải phóng đất đai.
b) Đánh giá hiệu quả thực hiện
- Khoét sâu mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán binh lực của thực dân Pháp: Bản chất của kế
hoạch Nava là một kế hoạch tập trung binh lực để thực hiện tiến công chiến lược. Nhưng bản
chất của chiến tranh xâm lược thuộc địa lại đòi hòi phải phân tán binh lực để chiếm đất, giữ dân.
Đánh vào những nơi có tầm quan trọng về chiến lược, Nava sẽ không thể bỏ, buộc phải phân tán
lực lượng chiếm giữ.
- Làm cho kế hoạch Nava không thể thực hiện được theo dự kiến: muốn tập trung nhưng lại phải
phân tán binh lực; muốn tiến công nhưng lại phải phòng ngự, muốn giành quyền chủ động nhưng
càng bị động đối phó lúng túng.
- Nava buộc phải điều chỉnh kế hoạch, chọn Điện Biên Phủ làm khâu chính, xây dựng Điện Biên
Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương.
Câu 65
Lập bản tóm tắt nội dung các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương
họp tháng 11-1939 và tháng 5-1941.
Hội nghị tháng 11-1939 Hội nghị tháng 5-1941
Nhiệm vụ - Nhiệm vụ, mục tiêu trước - Nhiệm vụ chủ yếu trước mắt
mắt là đánh đổ đế quốc và tay của cách mạng là giải phóng
sai, giải phóng các dân tộc dân tộc.
Đông Dương, làm cho Đông - Tiếp tục tạm gác khẩu hiệu
Dương hoàn toàn độc lập. cách mạng ruộng đất; nêu
- Tạm gác khẩu hiệu cách khẩu hiệu giảm tô, giảm tức,
mạng ruộng đất, đề ra khẩu chia lại ruộng đất công, tiến
hiệu tịch thu ruộng đất của đế tới thực hiện người cày có
quốc và địa chủ phản bội ruộng.
quyền lợi dân tộc, chống tô
cao, thuế nặng.
Tập hợp lực lượng - thành lập Mặt trận Thống - Thành lập Việt Nam độc lập
nhất nhân dân phản đế Đông Đồng minh (Việt Minh) nhằm
Dương (thay cho Mặt trận Dân tập hợp mọi lực lượng dân tộc
chủ Đông Dương) nhằm tập Việt Nam trong các tổ chức
hợp mọi lực lượng chống đế mang tên "Cứu quốc"; giúp đỡ
quốc ở Đông Dương. Các tổ thành lập mặt trận ở các nước
chức của mặt trận này đều Lào, Campuchia.
mang tên "Phản đế".
Phương pháp - Chuyển từ đấu tranh công - Đề ra chủ trương khởi nghĩa
khai, hợp pháp, nửa hợp pháp vũ trang; nhấn mạnh chuẩn bị
đòi dân sinh, dân chủ sang khởi nghĩa vũ trang là nhiệm
đánh đổ chính quyền của đế vụ trung tâm của toàn Đảng,
quốc và tay sai bằng bạo lực toàn dân; đi từ khởi nghĩa từng
cách mạng. phần tiến lên tổng khởi nghĩa.
Hình thức chính quyền - Thay khẩu hiệu thành lập - Thành lập Chính phủ nhân
chính quyền Xô viết công dân của nước Việt Nam Dân
nông binh bằng khẩu hiệu chủ Cộng hòa.
thành lập Chính phủ dân chủ
cộng hòa trong phạm vi Đông
Dương.
Câu 66
Lập bảng tóm tắt các phong trào cách mạng 1936-1939 và 1939-1945 theo mẫu
Phong trào 1936-1939 Phong trào giải phóng dân tộc
1939-1945
Kẻ thù Đế quốc phát xít, phản động Đế quốc phát xít Pháp, Nhật
thuộc địa và tay sai. và tay sai.
Mục tiêu Đòi các quyền tự do, dân chủ, Giải phóng dân tộc.
cơm áo, hòa bình.
Lực lượng Mọi lực lượng dân chủ, kể cả Toàn dân tộc, không phân biệt
những người Pháp có xu giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn
hướng chống phát xít ở Đông giáo, đảng phái, các cá nhân
Dương được tập hợp trong yêu nước, được tập hợp trong
Mặt trận Thống nhất nhân dân Mặt trận Việt Nam độc lập
phản đế Đông Dương (sau đổi Đồng minh (Việt Minh).
thành Mặt trận Dân chủ Đông
Dương).
Phương pháp Mọi hình thức tổ chức và đấu Khởi nghĩa vũ trang giành
tranh: công khai, bán công chính quyền.
khai, hợp pháp, bán hợp pháp,
kết hợp với bí mật, bất hợp
pháp.
Câu 67
Trên cơ sở trình bày nhiệm vụ chiến lược chung được xác định tại Hội nghị thành lập Đảng (1-
1930), các Đại hội đại biểu lần thứ II (2-1951), lần thứ III (9-1960) của Đảng, hãy khẳng định
đường lối xuyên suốt quá trình Cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo là gì?
- Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1-1930) thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên,
xác định nhiệm vụ chiến lược chung của Cách mạng Việt Nam là: 1- "Làm tư sản dân quyền
cách mạng (tức cách mạng giải phóng dân tộc); 2- Làm "thổ địa cách mạng" (tức cách mạng
ruộng đất) và 3- "Đi tới xã hội cộng sản" (tức làm cách mạng xã hội chủ nghĩa).
- Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng (2-1951) thông qua Chính cương Đảng Lao động Việt
Nam, xác định những nhiệm vụ chiến lược cơ bản của Cách mạng Việt Nam là: 1- Đánh đuổi đế
quốc xâm lược, giành độc lập dân tộc; 2- Xóa bỏ những tàn tích phong kiến, thực hiện "người
cày có ruộng"; 3- Phát triển chế độ dân chủ mới, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội.
- Đại hội đại biểu lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (9-1960) xác định nhiệm vụ chiến
lược chung của cách mạng cả nước: đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc , đồng
thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam; tiến tới hòa bình, thống nhất
đất nước trên cơ sở độc lập và dân chủ; xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc
lập, dân chủ và giàu mạnh; góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình thế
giới.
- Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đó là đường lối, là sức mạnh, là sợi
chỉ đỏ xuyên suốt quá trình Cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo.
Câu 68
Bằng những sự kiện lịch sử có chọn lọc, hãy làm sáng tỏ những công lao lớn của Nguyễn Ái
Quốc đối với Cách mạng Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 1920 đến năm 1930.
a) Xác định một con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam
- Các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam diễn ra liên tục và anh dũng theo khuynh
hướng phong kiến (các cuộc khởi nghĩa vũ trang cuối thế kỉ XIX) và khuynh hướng dân chủ tư
sản (phong trào Đông du, Đông Kinh nghĩa thục, cuộc vận động Duy tân,…) nhưng đều không
thành công vì thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn. Sự nghiệp cứu nước lâm vào một "tình
hình đen tối tưởng như không có đường ra".
- Từ năm 1911 đến năm 1920, qua quá trình tìm hiểu lí luận và khảo sát thực tiễn ở nhiều châu
lục và quốc gia trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và xác định con
đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản, mở đường để giải quyết tình trạng khủng
hoảng về đường lối cứu nước ở Việt Nam.
b) Xây dựng và truyền bá lí luận cách mạng, chuẩn bị điều kiện về tư tưởng chính trị cho sự ra
đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Trong những năm 20 của thế kỉ XX, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực
tiễn Cách mạng Việt Nam, xây dựng lí luận giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản
và truyền bá vào Việt Nam.
- Nội dung lí luận đó được trình bày qua những bài viết cho các báo : Người cùng khổ (Le Paria)
của Hội Liên hiệp thuộc địa, Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp, Đời sống công nhân của Tổng
Liên đoàn Lao động Pháp, Sự thật của Đảng Cộng sản Liên Xô, tạp chí Thư tín Quốc tế của
Quốc tế Cộng sản, tuần báo Thanh niên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (Quảng Châu
- Trung Quốc), những tham luận của Người đọc tại Đại hội Quốc tế Nông dân và Đại hội V của
Quốc tế Cộng sản, đặc biệt qua các tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp và Đường Kách
mệnh.
- Lí luận cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc là ánh sáng soi đường cho lớp
thanh niên yêu nước Việt Nam đầu thế kỉ XX đang đi tìm chân lí, là ngọn cờ hướng đạo phong
trào Cách mạng Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản ra đời, là sự chuẩn bị về tư tưởng chính trị
cho sự ra đời của Đảng, đồng thời đặt cơ sở để hình thành nên Cương lĩnh chính trị của Đảng sau
này.
c) Đào tạo cán bộ, chuẩn bị về tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
- Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc), Người tìm hiểu tổ chức Tổ
chức Tâm tâm xã (Quảng Châu - Trung Quốc), chọn một số thanh niên tích cực thành lập Cộng
sản đoàn (2-1925); đến tháng 6-1926 thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (Quảng
Châu - Trung Quốc) ; ra báo Thanh niên làm cơ quan ngôn luận của Hội. Đây là một tổ chức yêu
nước có khuynh hướng cộng sản, một tổ chức quá độ để tiến lên thành lập Đảng Cộng sản, một
bước chuẩn bị có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
sau này. Hội có hệ thống tổ chức chặt chẽ, từ cơ quan lãnh đạo cao nhất là Tổng bộ đến các chi
bộ. Đến năm 1929, Hội có khoảng 1700 hội viên, có cả cơ sở Việt kiều ở Xiêm.
- Mở nhiều lớp huấn luyện chính trị, đào tạo đội ngũ cán bộ. Từ năm 1925 đến năm 1927,
Nguyễn Ái Quốc đã đào tạo được 75 người, đa số là thanh niên, học sinh, trí thức yêu nước. Họ
"học làm cách mạng, học hoạt động bí mật", rồi bí mật về nước hoạt động, tuyên truyền lí luận
giải phóng dân tộc và tổ chức nhân dân. Một số sang học Trường Đại học Phương Đông ở
Mátxcơva (Liên Xô), hoặc Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc).
d) Sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam
- Chủ động triệu tập và chủ trì Hội nghị thành lập Đảng, bắt đầu họp ngày 6-1-1930 tại Cửu
Long (Hương Cảng, Trung Quốc).
- Với uy tín tuyệt đối, Nguyễn Ái Quốc đã đưa Hội nghị đến thành công, thống nhất được các tổ
chức cộng sản thành một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (bao gồm Chính cương vắn tắt, Sách lược
vắn tắt) và Điều lệ của Đảng, được Hội nghị thành lập Đảng thông qua. Đó là cương lĩnh giải
phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo. độc lập, tự do là tư tưởng cốt lõi của Cương lĩnh này.
Câu 69
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954-1975, nhân dân Việt Nam đã căn bản hoàn
thành nhiệm vụ "đánh cho Mĩ cút" bằng thắng lợi nào? Phân tích tác động của thắng lợi đó đối
với sự phát triển của cách mạng miền Nam.
a) Với việc kí Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (21-7-1973),
nhân dân Việt Nam đã căn bản hoàn thành nhiệm vụ "đánh cho Mĩ cút". Đây là thắng lợi của sự
kết hợp đấu tranh trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao.
b) Tác động của thắng lợi đó đối với sự phát triển của cách mạng miền Nam.
- Với Hiệp định, Hoa Kì cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
của Việt Nam; chấm dứt mọi hoạt động chống phá miền Bắc Việt Nam; rút hết quân viễn chinh
và quân Đồng minh, hủy bỏ các căn cứ quân sự Mĩ; cam kết không tiếp tục dính líu quân sự hoặc
can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.
- Tương quan lực lượng ở miền Nam thay đổi có lợi cho cách mạng Việt Nam. Tạo cơ sở pháp lí
để nhân dân Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao,
quân sự… tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Câu 70
Từ những dữ liệu trong bảng dưới đây, hãy xác định của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đối với
thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945.
Thời gian Nội dung
Đầu năm 1941 Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo
cách mạng, chọn Cao Bằng để xây dựng căn cứ
địa và xây dựng thí điểm các hội cứu quốc.
Tháng 5-1941 Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ 8
Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đặt nhiệm
vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thành lập
Mặt trận Việt Minh; đề ra chủ trương khởi
nghĩa vũ trang.
Cuối năm 1941 Nguyễn Ái Quốc chỉ thị thành lập đội tự vệ vũ
trang để chuẩn bị xây dựng lực lượng vũ trang
nhân dân; tổ chức các lớp huấn luyện chính trị,
quân sự; biên soạn các tài liệu về cách đánh du
kích, kinh nghiệm du kích Nga, kinh nghiệm
du kích Tàu…
Cuối năm 1944 Theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam
Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập.
Tháng 5-1945 Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng chuyển
về Tân Trào (Tuyên Quang), xây dựng Tân
Trào làm nơi chỉ đạo cuộc tổng khởi nghĩa
giành chính quyền trong toàn quốc.
Ngày 4-6-1945 Theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, Khu Giải phóng
Việt Bắc chính thức được thành lập.
Ngày 16-8-1945 Hồ Chí Minh kêu gọi: "Giờ quyết định cho vận
mệnh dân tộc ta đặt đến. Toàn quốc đồng bào
hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho
ta… Chế tạo không thể chậm trễ".
Ngày 16 và 17-8-1945 Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào cử ra Ủy
ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí
Minh làm Chủ tịch.
Theo đề nghị của Hồ Chí Minh, Ủy ban dân Ngày 28-8-1945
tộc giải phóng Việt Nam cải tổ thành Chính
phủ lâm thời.
Ngày 2-9-1945 Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại
Quảng trường Ba Đình, khai sinh ra nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa.
- Xác định đường lối và phương pháp cách mạng giải phóng dân tộc.
- Sáng lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, phân hóa và cô lập kẻ thù đế
quốc và tay sai để tập trung mũi nhọn đấu tranh vào chúng.
- Cùng với Trung ương Đảng đẩy mạnh chuẩn bị lực lượng chính trị quần chúng, một lực lượng
cơ bản và có vai trò quyết định trong tổng khởi nghĩa.
- Cùng với Trung ương Đảng chỉ đạo lực lượng vũ trang và xây dựng căn cứ địa cách mạng.
- Cùng với Trung ương Đảng giải quyết vấn đề thời cơ và kịp thời phát động tổng khởi nghĩa.
- Là Người sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân và
vì nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
Câu 71
Nêu ý nghĩa lịch sử những thắng lợi chiến lược của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì
độc lập tự do từ năm 1930 đến năm 1975.
Từ năm 1930 đến năm 1975, trong quá trình đấu tranh vì độc lập tự do, dân tộc Việt Nam đã
giành được ba thắng lợi chiến lược : Cách mạng tháng Tám năm 1945, cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp 1945-1954 và cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước 1954-1975.
a) Ý nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945
- Đập tan ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc gần một thế ki, chấm dứt chế độ phong kiến gần
mười thế kỉ ở nước Việt Nam, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước do nhân dân
làm chủ, giải quyết thành công vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền.
- Đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của Cách mạng Việt Nam, mở đầu kỉ nguyên mới của dân
tộc: kỉ nguyên độc lập, tự do; kỉ nguyên nhân dân lao động nắm chính quyền, làm chủ đất nước,
làm chủ vận mệnh dân tộc; kỉ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội. Đảng
Cộng sản Đông Dương từ chỗ phải hoạt động bí mật, bất hợp pháp, trở thành một Đảng cầm
quyền.
- Góp phần vào chiến thắng chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai, đặt chọc thủng
khâu yếu nhất trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc thuộc
địa đấu tranh tự giải phóng, "có ảnh hưởng trực tiếp và rất to lớn đến hai dân tộc bạn là Miên và
Lào".
b) Ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)
- Chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược, đồng thời chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trong
gần một thế kỉ trên đất nước Việt Nam; miền Bắc được hoàn toàn giải phóng chuyển sang giai
đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
- Gián đòn nặng nề vào tham vọng xâm lược, âm mưu nô dịch của chủ nghĩa đế quốc sau Chiến
tranh thế giới thứ hai, góp phần làm tan rã hệ thống thuộc địa của chúng, cổ vũ mạnh mẽ phong
trào giải phóng dân tộc ở Châu Á, Châu Phi và khu vực Mĩ Latinh.
c) Ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954-1975)
- Kết thúc 21 năm chiến đấu chống Mĩ, cứu nước, đồng thời kthu 30 năm chiến tranh giải phóng,
bảo vệ Tổ quốc từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945; chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa
thực dân, đế quốc; hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thống
nhất đất nước.
- Mở ra kỉ nguyên mới của lịch sử dân tộc Việt Nam - kỉ nguyên đất nước độc lập, thống nhất và
đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Tác động đến tình hình nước Mĩ và thế giới, là nguồn cổ vũ to lớn đối với phong trào cách
mạng thế giới; nhất là phong trào giải phóng dân tộc.
- Thắng lợi đó "mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất,
một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con
người, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan
trọng quốc tế có có tính thời đại sâu sắc".
Câu 72
Khái quát sự phát triển của phong trào công nhân Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất
đến năm 1929. Nêu ý nghĩa của phong trào công nhân đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt
Nam.
a) Giai đoạn 1919-1925
- Những năm này đã nổ ra 24 cuộc đấu tranh. Năm 1920, công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn thành
lập Công hội (bí mật) do Tôn Đức Thắng sáng lập. Các cuộc đấu tranh của công nhân và thủy
thủ Pháp ở cảng Hải Phòng (1919) và Sài Gòn (1920), cũng như các cuộc đấu tranh của công
nhân và thủy thủ Trung Quốc tại Hương Cảng, Áo Môn, Thượng Hải (1921) đã góp phần cổ vũ,
động viên công nhân Việt Nam hăng hái đấu tranh.
- Năm 1922, công nhân và viên chức các cở công thương ở Bắc Kì đấu tranh đòi chủ tư bản
người Pháp phải cho họ nghĩ ngày chủ nhật có lương.
- Năm 1924, nổ ra các cuộc bãi công của công nhân các nhà máy dệt, rượu, xay xát gạo ở Nam
Định, Hà Nội, Hải Phòng…
- Đặc biệt, tháng 8-1925, thợ máy ở xưởng Ba Son (Sài Gòn) bãi công, không chịu sửa chữa
chiến hạm Misơlê của Pháp trước khi chiến hạm này chở lính sang tham gia đàn áp phong trào
cách mạng của nhân dân Trung Quốc. Công nhân nêu yêu sách đòi tăng lương 20% và phải để
cho những công nhân bị sa thải được trở lại làm việc. Nhà chức trách Pháp phải chấp nhật tăng
lương 10% cho công nhân. Cuộc bãi công Ba Son thắng lợi đánh dấu bước tiến mới của phong
trào công nhân Việt Nam.
b) Giai đoạn 1926 - 1929
- Trong hai năm 1926-197 đã nổ ra 27 cuộc đấu tranh của công nhân.
- Cuối năm 1928, sau khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (Quảng Châu - Trung Quốc)
thực hiện chủ trương "vô sản hóa", phong trào công nhân phát triển mạnh, trở thành nòng cốt của
phong trào dân tộc trong cả nước.
- Trong hai năm 1928-1929, có 40 cuộc đấu tranh của công nhân nổ ra tại các trung tâm kinh tế,
chính trị ở khắp cả nước. Ở Bắc Kì, có các cuộc đấu tranh của công nhân các nhà máy xi măng
Hải Phòng, tơ Nam Định, AVIA Hà Nội, than Mạo Khê,… ở Trung Kì có các cuộc đấu tranh của
công nhân ở các nhà máy cưa Bến Thủy, xe lửa Trường Thi, hãng xe hơi ở Đà Nẵng; ở Nam Kì
có các cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy in Foóctay, hãng buôn Sácne (Sài Gòn), in Chợ
Lớn, đồn điền Lộc Ninh, Phú Riềng…
- Những cuộc đấu tranh này không chỉ giới hạn trong phạm vi một nhà máy, một địa phương,
một ngành mà đã bắt đầu có sự liên kết thành một phong trào chung…
c) Ý nghĩa của phong trào công nhân
- Phong trào công nhân ngày càng phát triển, có ảnh hưởng rộng lớn trong toàn quốc và thực sự
trở thành một lực lượng chính trị độc lập, có sức quy tụ và dẫn đầu phong trào yêu nước nói
chung.
- Cùng với phong trào yêu nước kết thành một làn sóng cách mạng dân tộc dân chủ mạnh mẽ,
đòi hỏi sự lãnh đạo của một Đảng Cộng sản. Yaca đó có tác động vào các tổ chức tiền cộng sản,
dẫn tới cuộc đấu tranh nội bộ và sự phân hóa tích cực, hình thành nên ba tổ chức cộng sản ở Việt
Nam (1929) và cuối cùng là sự thonhat các tổ chức đó thành Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm
1930.
- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong
trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam trong những năm 20 của thế kỉ XX.
Câu 73
Từ thực tiễn lịch sử Việt Nam năm 1929, hãy làm sáng tỏ việc hợp nhất các tổ chức cộng sản
thành một Đảng Cộng sản duy nhất là vấn đề cấp thiết. Vì sao nói hội nghị Hợp nhất các tổ chức
cộng sản mang tầm vóc như một Đại hội thành lập Đảng.
a) Hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam là vấn đề cấp thiết
- Năm 1929, phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân, tiểu tư sản và các tầng lớp nhân dân
yêu nước khác phát triển, kết thành một làn sóng dân tộc dân chủ ngày càng lan rộng. Tình hình
đó đặt ra yêu cầu phải có sự lãnh đạo của một Đảng Cộng sản.
- Cuối tháng 3-1929, một số hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Bắc
Kì lập ra Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam. Chi bộ mở rộng cuộc vận động để thành lập một
Đảng Cộng sản nhằm thay thế cho Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
- Tháng 5-1929, tại Đại hội lần thứ nhất của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, đoàn đại biểu
Bắc Kì đặt vấn đề thành lập ngay Đảng Cộng sản, nhưng không được Đại hội chấp nhận.
- Tháng 6-1929, đại biểu các tổ chức cơ sở cộng sản ở Bắc Kì họp ở Hà Nội, quyết định thành
lập Đông Dương Cộng sản đảng.
- Khoảng tháng 8-1929, các cán bộ lãnh đạo tiên tiến trong Tổng bộ và Kì bộ Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên ở Nam Kì cũng đã quyết định lập An Nam Cộng sản đảng.
- Tháng 9-1929, những đảng viên tiên tiến trong Tân Việt tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng
sản liên đoàn.
- Các tổ chức cộng sản trên đã nhanh chóng phát triển cơ sở và trực tiếp lãnh đạo các cuộc đấu
tranh của quần chúng. Nhưng các tổ chức đó đều hoạt động riêng rẽ, làm cho phong trào cách
mạng có nguy cơ bị chia rẽ lớn. Vì vậy, việc hợp nhất các tổ chức cộng sản thành 1 Đảng duy
nhất là vấn đề cấp thiết của Cách mạng Việt Nam.
b) Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản mang tầm vóc như một Đại hội thành lập Đảng vì
- Thành phần tham dự gồm các đại biểu của Đông Dương Cộng sản đảng và An Nam Cộng sản
đảng do Nguyễn Ái Quốc triệu tập.
- Về tổ chức: Hội nghị đã nhất trí hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng
duy nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Về đường lối: Hội nghị đã thảo luận và thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của
Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Đây là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, có giá trị lí
luận thực tiễn và lâu dài đối với Cách mạng Việt Nam.
Câu 74
Trình bày nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) và cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954-1975) ở
Việt Nam.
a) Nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945
- Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm, đoàn kết trong Mặt trận Việt
Minh, đã nhất tề vùng lên khởi nghĩa với tinh thần "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".
- Sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh với đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn,
phương pháp cách mạng sáng tạo dựa trên cơ sở lí luận Mác-Lênin được vận dụng vào hoàn
cảnh cụ thể của Việt Nam. Đảng đặt lãnh đạo quá trình chuẩn bị trong hơn 15 năm, qua các
phong trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 nhất là cao trào kháng Nhật cứu nước, đã đúc kết
rút kinh nghiệm qua thực tiễn đấu tranh, đặc biệt trong quá trình xây dựng lực lượng chính trị,
quân sự, lực lượng vũ trang; căn cứ địa thời kì vận động giải phóng dân tộc 1939-1945.
- Trong những ngày khởi nghĩa, toàn Đảng, toàn dân nhất trí, đồng lòng, không sợ hi sinh gian
khổ, quyết tâm giành độc lập tự do. Các cấp bộ Đảng và Việt Minh linh hoạt, sáng tạo trong chỉ
đạo khởi nghĩa, chớp đúng thời cơ phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền.
- Nguyên nhân khách quan: Quân Đồng minh đánh thắng phát xít, đặc biệt là chiến thắng phát xít
Đức và quân phiệt Nhật Bản, làm cho quân Nhật và tay sai ở Đông Dương hoang mang, mất hết
tinh thần, tạo thời cơ thuận lợi cho nhân dân Việt Nam đứng lên tổng khởi nghĩa.
b) Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1954-1954)
- Có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối chính trị,
đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo.
- Toàn dân, toàn quân đoàn kết một lòng, dũng cảm trong chiến đấu, cần cù trong lao động sản
xuất.
- Có chính quyền dân chủ nhân dân trong cả nước, mặt trận dân tộc thống nhất được củng cố và
mở rộng, lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh, hậu phương rộng lớn, vững chắc về mọi
mặt.
- Có liên minh chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương, được sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ
của Trung Quốc, Liên Xô, của các nước xã hội chủ nghĩa khác, của nhân dân Pháp và loài người
tiến bộ.
c) Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954-1975)
- Có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối chính trị,
quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn và phương pháp cách mạng sáng tạo.
- Nhân dân ta giàu lòng yêu nước, đoàn kết nhất trí, lao động cần cù, chiến đấu dũng cảm vì sự
nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước.
- Có hậu phương miền Bắc không ngừng lớn mạnh, đáp ứng kịp thời các yêu cầu của cuộc chiến
đấu ở hai miền.
- Có sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, sự liên minh chiến đấu của ba dân tộc Đông Dương, sự đồng
tình, ủng hộ giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, các nước dân chủ nhân dân của nhân dân Pháp
và loài người tiến bộ.
Câu 75
Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam có phải là một cuộc cách mạng giải phóng
dân tộc điển hình hay không? Vì sao? Nhận xét về hình thức phát triển hình thái và thời cơ của
cuộc cách mạng đó.
a) Cách mạng tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình vì:
- Về nhiệm vụ: tập trung giải quyết mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt
Nam với đế quốc xâm lược và tay sai, giương cao ngọn cờ dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân
tộc lên hàng đầu.
- Về lực lượng: Cách mạng tháng Tám 1945 là một cuộc vùng dậy của toàn dân tộc, đoàn kết
chặt chẽ trong Mặt trận Việt Minh, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, tín
ngưỡng.
- Về thành quả của cách mạng: đưa tới sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một hình
thức chính quyền nhà nước rộng rãi hơn hình thức chính quyền công nông, một nhà nước của
chung toàn dân tộc.
b) Nhận xét
- Về hình thức phát triển: Cách mạng tháng Tám 1945 đi từ khởi nghĩa từng phần giành chính
quyền bộ phận ở những nơi có điều kiện, tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả
nước. Khởi nghĩa từng phần là cao trào kháng Nhật cứu nước (từ ngày 9-3-1945) làm cho trận
địa cách mạng được mở rộng, lực lượng cách mạng được tăng cường, tạo ra đầy đủ những điều
kiện chủ quan thuận lợi cho tổng khởi nghĩa.
- Về hình thái cách mạng: Khác với cách mạng Nga, bùng nổ ở các trung tâm đô thị, rồi tỏa về
các vùng nông thôn; cũng khác với cách mạng Trung Quốc, từ nông thôn vào thành thị, lấy nông
thôn bao vây thành thị, Cách mạng tháng Tám năm 1945 diễn ra với sự kết hợp hài hòa giữa khởi
nghĩa ở nông thôn và thành thị, trong đó, những cuộc khởi nghĩa ở thành thị nhằm và các cơ
quan đầu não của kẻ thù có tác dụng quyết định thắng lợi của tổng khởi nghĩa.
- Về thời cơ cách mạng: Cách mạng tháng Tám là một cuộc cách mạng có sự chuẩn bị chu đáo
và nổ ra đúng thời cơ, diễn ra trong khoảng thời gian từ khi Nhật đầu hàng Đồng minh đến trước
khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Đó là lúc kẻ thù cũ ngã gục, nhưng kẻ thù mới chưa kịp
đến; là lúc so sánh lực lượng có lợi nhất đối với cách mạng. Nhờ có sự chuẩn bị lực lượng chu
đáo, lại nổ ra đúng thời cơ, nên Cách mạng tháng Tám năm 1945 giành được thắng lợi nhanh,
gọn, ít đổ máu.
Câu 76
Trình bày những thắng lợi quan trọng của quân dân hai miền Nam, Bắc Việt Nam năm 1972.
a) Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 ở miền Nam
- Ngày 30-3-1972, quân dân miền Nam mở cuộc tiến công chiến lược, đánh vào Quảng Trị, lấy
Quảng Trị làm hướng tiến công chủ yếu rồi phát triển rộng khắp miền Nam.
- Đến cuối tháng 6-1972, đã chọc thủng 3 phòng tuyến mạnh nhất của địch là Quảng Trị, Tây
Nguyên, Đông Nam Bộ, loại khỏi vòng chiến đấu hàng vạn quân địch, giải phóng nhiều vùng
rộng lớn.
- Cuộc tiến công chiến lược đã giáng đòn nặng nề và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh"
buộc Mĩ phải tuyên bố "Mĩ hóa" trở lại chiến tranh xâm lược (thừa nhận thất bại chiến lược "Việt
Nam hóa chiến tranh").
b) Chiến đấu chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc
- Ngày16-4-1972, Tổng thống Mĩ Níchxơn chính thức tiến hành cuộc chiến tranh bằng không
quân và hải quân phá hoại miền Bắc (lần thứ hai). Nhờ được chuẩn bị từ trước và với tư thế luôn
sẵn sàng chiến đấu, quân dân miền Bắc chủ động, kịp thời chống trả địch ngay từ trận đầu.
- Từ ngày 18 đến hết ngày 29-12-1972, Mĩ mở cuộc tập kích chiến lược duon gko bằng máy bay
B52 vào Hà Nội, Hải Phòng nhằm giành thắng lợi quân sự quyết định, buộc Việt Nam phải kí
Hiệp định có lợi cho Mĩ.
- Quân dân miền Bắc đặt đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 của
Mĩ, bắn rơi 81 máy bay (trong đó có 34 máy bay B52, 5 máy bay F111), bắt sống 43 phi công
Mĩ, làm nên trận "Điện Biên Phủ trên không"… buộc Mĩ phải tuyên bố ngừng hẳn các hoạt động
chống phá miền Bắc và kí Hiệp định Pari (1973) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt
Nam.
Câu 76
Kể tên những sự kiện đánh dấu những bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược của cách mạng Việt
Nam từ năm 1930 đến năm 2000. Phân tích ý nghĩa của sự kiện "có tính quyết định cho những
bước nhảy vọt tiếp theo trong lịch sử dân tộc Việt Nam".
a) Kể tên những sự kiện đánh dấu những bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược của cách mạng Việt
Nam từ năm 1930 đến năm 2000:
- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930.
- Cách mạng tháng Tám năm 1945.
- Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
- Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.
- Đại hội đại biểu lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986.
b) Phân tích ý nghĩa của sự kiện "có tính quyết định cho những bước nhảy vọt tiếp theo trong
lịch sử dân tộc Việt Nam": Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930.
- Đảng ra đời với hệ thống tổ chức chặt chẽ và cương lĩnh chính trị đúng đắn đã chấm dứt tình
trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài mấy chục năm đầu thế kỉ XX, đưa cách mạng
Việt Nam bước lên một con đường mới, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội. Kể từ đây, cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo duy nhất
của một chính đảng, cách mạng có đội ngũ cán bộ đảng viên kiên trung, nguyện suốt đời hi sinh
cho lí tưởng của Đảng, cho độc lập dân tộc, tự do của nhân dân.
- Đây là một bước ngoặt của phong trào công nhân Việt Nam. Từ đây, giai cấp công nhân đi vào
con đường đấu tranh có tổ chức, phong trào công nhân hoàn toàn trở thành một phong trào có
tính tự giác. Hồ Chí Minh đánh giá : "Đảng ra đời chứng tỏ giai cấp vô sản ta đặt trưởng thành
và đủ sức lãnh đạo cách mạng".
- Đảng ra đời thực sự làm cho cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận khăng khít của cách
mạng thế giới. Kể từ đây, nhân dân Việt Nam tham gia vào sự nghiệp cách mạng thế giới một
cách có tổ chức để đấu tranh cho những mục tiêu cao cả của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội.
- Việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử Việt Nam. Đó
là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt tiếp theo
trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đảng vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh, đề ra đường lối chiến lược và sách lược cách mạng đúng đắn, đưa nhân dân Việt
Nam đi từ thắng lợi này sang thắng lợi khác. Đó là nhân tố hàng đầu đảm bảo mọi thắng lợi của
Cách mạng Việt Nam.
Câu 74
Quyền dân tộc cơ bản của nước Việt Nam được ghi nhận như thế nào trong Hiệp định Sơ bộ
(1946), Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương (1954) và Hiệp định Pari về Việt Nam (1973). Trình
bày hoàn cảnh kí kết của mỗi Hiệp định kí trên.
a) Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946): Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam là một quốc gia tự do,
có Chính phủ, quân đội và tài chính riêng, năm trong khối liên hiệp Pháp.
- Hoàn cảnh kí kết:
+ Cách mạng Trung Quốc ngày càng phát triển, Trung Hoa Dân quốc cần rút lực lượng quân đội
ở Đông Dương về để đối phó, nhưng Mĩ và Trung Hoa Dân quốc vừa muốn tiêu diệt lực lượng
cách mạng Trung Quốc, vừa muốn kiềm chế cách mạng Việt Nam. Các thế lực đế quốc dàn xếp
công việc nội bộ, mà kết quả là ngày 28-2-1946, Hiệp ước Hoa - Pháp được kí tại Trùng Khánh.
Theo đó, Trung Hoa Dân quốc đồng ý cho Pháp đưa quân ra miền Bắc làm nhiệm vụ giải giáp
quân đội Nhật Bản; Pháp nhượng cho Trung Hoa Dân quốc một số quyền lợi ở Trung Quốc và
Đông Dương.
+ Hdi trên đặt Việt Nam đứng trước hai khả năng: hoặc là phải chiến đấu với hai kẻ thù cùng
một lúc, hoặc là hòa với Pháp. Thực hiện sách lược "hòa để tiến" , với thiện chí hòa bình, Chính
phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chọn khả năng hòa với Pháp.
+ Pháp muốn chiếm toàn bộ nước Việt Nam, nhưng và thời điểm đó, Pháp cần thời gian để tăng
thêm lực lượng từ Pháp sang chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn. Pháp
cũng muốn hòa với Việt Nam để có thể đưa quân ra miền Bắc một cách dễ dàng.
Trong hoàn cảnh trên, đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kí với đại diện Chính
phủ Pháp bản Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946.
b) Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương (21-7-1954): Công nhận các quyền dân tộc cơ bản của ba
nước Việt - Lào - Campuchia là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
- Hoàn cảnh kí kết:
Về phía thực dân Pháp, những nỗ lực quân sự cao nhất của Pháp với sự giúp sức của Mĩ đều
không thành công. Thất bại ở Điện Biên Phủ làm cho kế hoạch Nava bị đập tan, ý chí thực dân
và hi vọng kết thúc chiến tranh "trong danh dự" của Pháp bị sụp đổ. Chính phủ Pháp cần tới bàn
đàm phán để kết thúc chiến tranh và đảm bảo cho quân Pháp rút về nước một cách an toàn.
Về phía Việt Nam, cùng với chủ trương mở cuộc Tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 -
1954, Đảng và Chính phủ cũng chủ trương kết hợp với một giải pháp ngoại giao để kết thúc cuộc
kháng chiến. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, tạo cơ sở
thực lực cho cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Giơnevơ.
Về mặt quốc tế, cuộc chiến tranh Triều Tiên kết thúc mà không phân thắng, bại bằng việc kí kết
một Hiệp định đình chiến giữa một bên là Trung Quốc và Bắc Triều Tiên và một bên là Mĩ và
Nam Triều Tiên (7-1953). Xu thế hòa hoãn giữa các nước lớn xuất hiện. Hội nghị Ngoại trưởng
4 nước Liên Xô, Mĩ, Anh và Pháp họp tại Béclin quyết định triệu tập một hội nghị quốc tế để bàn
về một giải pháp chính trị cho Triều Tiên và giải quyết hòa bình cuộc chiến tranh Đông Dương.
b) Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam (27-1-1973):
Hoa Kì và các nước Đồng minh của Hoa Kì cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và
toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam,
- Hoàn cảnh kí kết:
+ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã giáng một đòn quyết liệt vào ý chí
xâm lược của đế quốc Mĩ, làm cho Mĩ phải xuống thang chiến tranh, tuyên bố ngừng ném bom
miền Bắc Việt Nam và ngồi vào bàn đàm phán tại Pari. Tuy nhiên, Mĩ thực hiện chiến lược "Việt
Nam hóa" chiến tranh nhằm chia cắt lâu dài nước Việt Nam. Cục diện vừa đánh vừa đàm phán
kéo dài.
+ Cuộc tập kích chiến lược năm 1972 của quân và dân miền Nam làm cho quân đội Việt Nam
Cộng hòa đứng trước nguy cơ tan rã. Để cứu vãn tình thế, Mĩ vội vàng Mĩ hóa trở lại cuộc chiến
tranh, tăng cường dùng hỏa lực không quân đánh phát vùng giải phóng ở miền Nam, đồng thời
phát động cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai trên miền Bắc với quy mô và cường độ ác liệt
chưa từng thấy.
+ Với tinh thần đề cao cảnh giác và có sự chuẩn bị từ trước, quân dân miền Bắc anh dũng chiến
đấu, đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, đặc biệt là làm nên trận "Điện Biên Phủ
trên không" (12-1972), đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không của Mĩ nhằm hủy diệt Thủ
đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng.
Bị thất bại nặng nề trên cả hai miền Nam, Bắc, Mĩ phải trở lại đàm phán và kí kết Hiệp định Pari
(1973) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Câu 78
Dựa vào những dữ liệu trong bảng dưới đây và kiến thức được học, hãy nhận xét về thành tựu và
đường lối đổi mới của Việt Nam trong những năm 1986-1990
Lĩnh vực Nội dung chi tiết
Lương thực thực phẩm - Năm 1988, sản lượng lương thực đạt 19,5
triệu tấn, vượt so với năm 1987 là 2 triệu tấn,
nhập khẩu 45 vạn tấn gạo.
- Năm 1989, sản lượng lương thực đạt 21,4
triệu tấn; đáp ứng nhu cầu lương thực trong
nước, có dự trữ và xuất khẩu 1,5 triệu tấn.
- Hàng hóa trên thị trường nhất là hàng tiêu Hàng tiêu dùng
dùng dồi dào, đa dạng, lưu thông tương đối
thuận lợi.
- Nguồn hàng sản xuất trong nước tăng hơn
trước và có tiến bộ về mẫu mã, chất lượng.
Hàng xuất khẩu - Kinh tế đối ngoại phát triển mạnh, mở rộng
hơn trước về quy mô, hình thức.
- Từ năm 1986 đến 1990, hàng xuất khẩu tăng
gấp 3 lần. Từ 1989, ta lại có thêm nhiều mặt
hàng xuất khẩu có giá trị lớn như gạo, dầu thô.
- Năm 1989, hàng xuất khẩu tăng, hàng nhập
khẩu giảm đáng kể gần đến mức cân bằng giữa
xuất khẩu và nhập khẩu.
Cơ chế kinh tế, tài chính - Từng bước kiềm chế được lạm phát : năm
1986: 20%, năm 1990: 4,4%
- Những năm đầu của sự nghiệp đổi mới, đường lối của Đảng đang đi sâu và đời sống thực tiễn,
nên tình hình đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng từ năm 1989 trở đi, những thành tựu của công
cuộc đổi mới ngày càng rõ rệt, nhất là trong việc thực hiện Ba chương trình kinh tế lớn: lương
thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Đặc biệt, Việt Nam từ chỗ thiếu ăn đã tiến
đến sản xuất đủ lương thực tiêu dùng, có dự trữ và xuất khẩu, kiềm chế được lạm phát.
- Những thành tựu đó đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế -xã hội,
từng bước ổn định đời sống nhân dân và thay đổi cán cân xuất khẩu - nhập khẩu.
- Những thành tựu của 5 năm đầu trong sự nghiệp đổi mới (1986-1990) chứng tỏ đường lối đổi
mới của Đảng là đúng đắn, bước đi của công cuộc đổi mới về cơ bản là phù hợp, được đông đảo
quần chúng nhân dân ủng hộ, phát huy được quyền làm chủ về kinh tế của nhân dân, khơi dậy
được tiềm năng và sức sáng tạo của quần chúng để phát triển sản xuất và dịch vụ.
- Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi và thành công, sau 5 năm đổi mới, Việt Nam vẫn còn
đứng trước nhiều khó khăn,thử thách, đòi hỏi sự nỗ lực vươn lên tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy
cơ và tiến kịp thời đại.

