intTypePromotion=2
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 141
            [banner_name] => KM2 - Tặng đến 100%
            [banner_picture] => 986_1568345559.jpg
            [banner_picture2] => 823_1568345559.jpg
            [banner_picture3] => 278_1568345559.jpg
            [banner_picture4] => 449_1568779935.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 7
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:45
            [banner_startdate] => 2019-09-13 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-13 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Chủ đề 2: Văn hóa các dân tộc Việt Nam

Chia sẻ: Phú Anh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:28

0
70
lượt xem
16
download

Chủ đề 2: Văn hóa các dân tộc Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu Trang bị cho người học những kiến thức cần thiết về văn hóa tộc người, văn hóa các tộc người ở Việt Nam; thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của các tộc người trong cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam. Làm cơ sở cho học tập, nghiên cứu tại trường, cũng như quá trình thực hành công tác sau này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chủ đề 2: Văn hóa các dân tộc Việt Nam

  1. 1 Chủ đề 6: VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM A.MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU Trang bị  cho người học những kiến thức cần thiết về  văn hóa tộc người,  văn hóa các tộc người  ở  Việt Nam; thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy  các giá trị văn hóa tốt đẹp của các tộc người trong cộng đồng quốc gia dân tộc  Việt Nam. Làm cơ  sở  cho học tập, nghiên cứu tại trường, cũng như  quá trình  thực hành công tác sau này. B. NỘI DUNG I. QUAN NIỆM VỀ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI. II. VĂN HÓA CÁC TỘC NGƯỜI Ở VIỆT NAM. III. THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN VĂN  HÓA CÁC TỘC NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. C. THỜI GIAN: 4 tiết D. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY ­ Thuyết trình, nêu ví dụ chứng minh, diễn giải, pháp vấn ­ Sử dụng phương tiện trình chiếu (nếu có) E. TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình Dân tộc hoc, Nxb QĐND. H 2001 Dân tộc học đại cương, Nxb Giáo dục. H 1997 Trần Quốc Vượng, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb GD, H 1998 Đặng Ngiêm Vạn, Văn hóa Việt Nam đa tộc người, Nxb GD, H 2009
  2. 2 VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM I. QUAN NIỆM VỀ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI 1. Khái niệm. * Văn hóa và văn hóa tộc người. Văn hóa là sản phẩm của con người, là hệ quả  của sự tiến hóa nhân loại.  Không có văn hóa ngoài xã hội loài người và cũng không có loài người không có  văn hóa. Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và  khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật. Tuy nhiên, để hiểu  về khái niệm văn hóa đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Do vị trí của Văn hóa trong cuộc sống, nên Văn hóa được nhiều người quan  tâm nghiên cứu và đưa ra hàng trăm định nghĩa về Văn hóa. Dưới góc độ Dân tộc  học, ý kiến được nhiều tác giả trích dẫn tham khảo là của E.B.Tylor (1832 – 1917,  người Anh) trong tác phẩm “ Văn hóa nguyên thủy – 1871”: “  Văn hóa hay văn minh, dưới góc độ  dân tộc học được xem là tổng thể   phức tạp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ  thuật, các quy tắc đạo đức, luật   lệ, phong tục và bất cứ kỹ năng hay thói quen do con người, với tư cách là động   vật xã hội, tạo ra và lĩnh hội thông qua quá trình học ”. ­ Ưu điểm: + Chỉ rõ văn hóa do con người tạo nên và phải học chứ không phải do tiến   hóa hay một lực lượng siêu nhiên nào mang đến cho con người. + Đóng vai trò bước ngoặt trong ngành nhân học hiện đại, đưa Nhân học –   dân tộc học lên một bước phát triển mới: chỉ ra rằng con người là chủ thể sáng  tạo ra văn hóa, thay vì những giải thích mang tính thần học hay sinh học. ­ Hạn chế:  + Chưa phân biệt được Văn hóa với văn minh. + Chưa nêu được cụ  thể  Văn hóa và văn minh có bao gồm toàn bộ  các tri  thức văn hóa vật chất, tinh thần, và xã hội hay không.
  3. 3 + Chưa khẳng định được Văn hóa chỉ  tồn tại  ở  xã hội loài người hay còn  tồn tại ở những loài động vật khác. Tuy còn những hạn chế, đây vẫn được xem là định nghĩa khoa học đầu tiên   về  Văn hóa. Từ  đó, đối tượng Văn hóa được nhiều tác giả  nghiên cứu dưới  nhiều góc độ của nhiều ngành khoa học khác nhau, rộng hẹp khác nhau, nên có   đến hàng trăm định nghĩa về văn hóa.  Năm 1952, A.L. Kroeber và Kluckhohn xuất bản quyển sách “Culture, a   critical review of concept and definitions” (Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê   phán các khái niệm và định nghĩa), trong đó tác giả đã trích lục khoảng 160 định   nghĩa về  văn hóa do các nhà khoa học đưa ra  ở  nhiều nước khác nhau. Điều   này cho thấy, khái niệm “Văn hóa” rất phức tạp. Đối với ngành Dân tộc học Việt Nam, đa số các nhà nghiên cứu đều đi đến  thống nhất, Văn hóa thường được hiểu theo 2 nghĩa: Theo nghĩa hẹp (Trường chinh trong tác phẩm: Chủ  nghĩa Mác và văn hóa  Việt Nam): “Văn hóa là một vấn đề  rất lớn, bao gồm cả  văn học, nghệ  thuật,   khoa học, triết học, phong tục, tôn giáo…” nghĩa là văn hóa tinh thần. Theo nghĩa đầy đủ (như cách hiểu của Hồ Chí Minh): “ Vì lẽ sinh tồn cũng   như  mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn   ngữ, chữ  viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ  thuật,   những công cụ  cho sinh hoạt hằng ngày về  ăn, mặc,  ở  và các phương tiện sử   dụng. toàn bộ  những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa  ”. Như  vậy văn  hóa sẽ bao gồm toàn bộ toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra,   bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Định nghĩa thứ hai này đáp ứng với đối tượng của ngành Dân tộc học. Thuật ngữ văn hóa mà chúng ta thường dùng không phải xuất phát từ thuật ngữ Văn hóa của Trung Hoa   cổ xưa, mà xuất phát từ thuật ngữ la­tinh cultura, nghĩa gốc là trồng trọt. Năm 45 tr.CN Cicéron một chính trị gia  nổi tiếng, trong tác phẩm Les Tusculanes mở rộng nội dung văn hóa theo hai nghĩa: 1. Vẫn dùng theo nghĩa đen là trồng trọt các loài cây (cultura agri).
  4. 4 2. Theo nghĩa bóng là trồng trọt các linh hồn (cultura animi, animi là linh hồn – âme) tức là trồng trọt tinh   thần (có thể nói như Hồ Chí Minh là trồng người). Từ đấy, xuất hiện một quan niệm ngắn gọn và đầy đủ nhất được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa nước ta   trích dẫn tuy với những diễn đạt hơi khác nhau: Văn hóa là tất cả những gì con người sáng tạo ra, là nhân hóa.   Văn hóa là tất cả những gì không phải của tự nhiên. Văn hóa là cái phân biệt con người với các sinh vật khác, là   cái phần môi trường do con người tạo ra. Văn hóa là đối lập với tự nhiên… Riêng Nguyễn Đức Từ Chi xem xét Văn hóa từ hai góc độ:  ­ Góc độ hẹp – góc nhìn báo chí : Văn hóa là kiến thức của con người và xã hội. Nhưng, ông không mặn mà   với cách hiểu này vì hiểu như thế thì người nông dân cày ruộng giỏi nhưng không biết chữ vẫn bị xem là “ không   có văn hóa” do tiêu chuẩn văn hóa ở đây là tiêu chuẩn kiến thức sách vở. Ngày nay, văn hóa dưới góc nhìn “báo chí”   đã hướng về lối sống hơn là về kiến thức. (mà theo tác giả là lối sống gấp, đằng sau những biến động nhanh của   xã hội) ­ Góc độ rộng hay “góc nhìn dân tộc học”: Với góc nhìn này, văn hóa được xem là toàn bộ cuộc sống – cả  vật chất, xã hội, tinh thần – của từng cộng đồng; và văn hóa của từng cộng đồng tộc người sẽ khác nhau nếu nó  được hình thành ở những tộc người khác nhau trong những môi trường sống khác nhau. Văn hóa sẽ  bị  chi phối  mạnh mẽ bởi sự kiểm soát của xã hội thông qua gia đình và các tổ chức xã hội, trong đó có tôn giáo. Văn hóa gắn liền với dân tộc tộc người, nên thời gian gần đây, một số nhà  nghiên   cứu   Việt   Nam   và   kể   cả   nước   ngoài   thường   vận   dụng   ý   kiến   của  Feredico Mayor, tổng giám đốc UNESCO phát biểu trong buổi lễ  phát động  Thập niên thế  giới phát triển Văn hóa được tổ  chức  ở  Paris ngày 21/01/1988:   Văn hóa phản ánh và thể  hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt cuộc   sống của con người đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện   tại, qua hàng bao thế  kỷ, nó cấu thành một hệ  thống các giá trị  truyền thống,   thẩm mỹ và lối sống, mà dựa vào đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của   mình. Nhìn chung, các định nghĩa về  văn hóa hiện nay rất đa dạng. Mỗi định  nghĩa đề  cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn  hóa. Như định nghĩa của Tylor và của Hồ  Chí Minh thì xem văn hóa là tập hợp   những thành tựu mà con người đạt được trong quá trình tồn tại và phát triển, từ  tri thức, tôn giáo, đạo đức, ngôn ngữ,… đến âm nhạc, pháp luật… Còn các định  nghĩa của Nguyễn Đức Từ Chi, tổ chức UNESCO… thì xem tất cả  những lĩnh  vực đạt được của con người trong cuộc sống là văn hóa. Trên cơ sở đó, bộ môn 
  5. 5 Nhân học – ĐHQGHN đã xác định một khái niệm văn hóa riêng nhằm thuận tiện   cho việc thu thập và phân tích dự  liệu khi nghiên cứu. Định nghĩa này được đa   số các nhà Dân tộc học thừa nhận:  Văn hóa là sản phẩm của con người được tạo ra trong qua trình lao   động (từ  lao động trí  óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi môi   trường   (môi   tự   nhiên   và   xã   hội)   xung   quanh   và   tính   cách   của   từng   tộc   người. Nhờ có văn hóa mà con người trở nên khác biệt so với các loài động   vật khác; và do được chi phối bởi môi trường xung quanh và tính cách tộc   người nên văn hóa ở mỗi tộc người sẽ có những đặc trưng riêng. ­ Văn hóa là sản phẩm của con người: ­ Được chi phối bởi môi trường tự nhiên và xã hội: ­ Phụ thuộc vào tính cách của từng tộc người: ­ Là tiêu chí để xác định tộc người: * Lớp văn hóa: Về cơ bản, khi nghiên cứu văn hóa tộc người, người ta thường xem xét dưới 3   lớp: ­ Lớp thứ  nhất, hay được đề  cập nhất, giúp phân biệt xã hội bạn đang   sống với xã hội khác. Ví dụ  như  khi nói đến văn hóa Nhật hay Trung Quốc, người ta thường đề  cập đến một cộng đồng nói  chung một ngôn ngữ, có chung truyền thống, tín ngưỡng làm cho cộng đồng đó khác và riêng biệt với cộng đồng   khác.(Việt Nam – Pháp) ­ Lớp thứ hai, thường được đề  cập đến như  là tiểu văn hóa hay là văn hóa   nhóm.  Hiện tượng này thường được thấy trong các xã hội đa sắc tộc, trong đó cư  dân đến từ  nhiều vùng khác   nhau, và họ thường gìn giữ một phần văn hóa truyền thống của họ: ngôn ngữ, truyền thống, thức ăn…Bản sắc   riêng này tách biệt họ ra khỏi phần còn lại của xã hội. Ví dụ  điển hình cho lớp văn hóa này là xã hội Mỹ  gồm   nhiều sắc tộc dân di cư. Khi mà sự khác biệt hay ranh giới văn hóa giữa các thành viên của tiểu văn hóa và các   thành viên của văn hóa đa số mờ đi và cuối cùng biến mất, thì các tiểu văn hóa sẽ  không còn tồn tại, đó là khi  các tiểu văn hóa bị văn hóa đa số đồng hóa.
  6. 6 ­ Lớp thứ 3 là tập hợp của các khuôn mẫu hành vi có được thông qua quá   trình học chỉ tồn tại trong xã hội loài người. VD: khả năng ngôn ngữ, hôn nhân, gia đình… 2. Đặc điểm của Văn hóa tộc người. Dưới góc độ Dân tộc học, văn hóa tộc người được nhìn nhận như một hệ  thống các giá trị, niềm tin và quan điểm được chia sẻ  và truyền thụ  trong suốt  quá trình tồn tại và phát triển của từng tộc người; nó  ảnh hưởng tới và góp  phần định hình nhận thức, chi phối hành vi của các thành viên trong cộng đồng  tộc người. Do đó văn hóa tộc người có các đặc điểm sau: ­  Tính truyền thụ: các giá trị  văn hóa được người này, thế  hệ  này truyền  cho người khác, thế  hệ  khác. Nó không phải do di truyền sinh học mà được  truyền lại và tiếp nhận giữa các thế hệ.  ­ Được chia sẻ giữa các thành viên trong tộc người  (trong nền văn hóa đó):  không một cá nhân đơn lẻ nào có thể xây dựng được cả một nền văn hóa. ­ Tính khuôn mẫu: các thành viên của cùng một tộc người tư  duy và sống  theo những khuôn mẫu nhất định. ­ Được cộng đồng xây dựng: Tất cả các thành viên trong tộc người tham gia  vào quá trình xây dựng văn hóa thông qua quá trình tương tác với các thành viên   khác. ­ Tính biểu tượng: văn hóa, tư tưởng và ngôn ngữ được xây dựng dựa trên   các biểu tượng và ý nghĩa đi kèm ­ Phi tự nhiên (nhân tạo): không phụ thuộc vào quy luật tự nhiên, ngược lại   do con người – với tư cách là thành viên tộc người xây dựng. VD: tiêu chuẩn về cái đẹp ở mỗi nền văn hóa là khác nhau. 3. Chức năng của Văn hóa tộc người.
  7. 7 Từ những khái niệm cơ bản về Văn hóa tộc người, các nhà nghiên cứu Dân   tộc học cho rằng chức năng cơ  bản, bao trùm cốt lõi nhất của Văn hóa tộc   người là duy trì sự tồn tại và phát triển của tộc người. Vì: ­ Văn hóa cung cấp tri thức, kỹ  năng, kinh nghiệm…cho con người trong   các hoạt động lao động sản xuất và sinh hoạt ( thể hiện trong thái độ, hành vi   cách ứng xử của con người đối với môi trường tự nhiên – xã hội). ­ Văn hóa là chất keo, sợi dây liên kết để  cố  kết các thành viên trong tộc   người. ­ Văn hóa là nền tảng để  các tộc người khẳng định sự  tồn tại của mình   trong mối quan hệ với tộc người khác. ­ Văn hóa là cơ sở để các tộc người hòa nhập và phát triển bền vững trong   một môi trường toàn cầu hóa đa tộc người, đa văn hóa. Trên cơ  sở  chức năng duy trì sự  tồn tại và phát triển của tộc người, Văn  hóa tộc người có 3 nhiệm vụ chính: ­ Bảo tồn bản sắc Văn hóa tộc người để  chống lại những  ảnh hưởng có   tính áp đặt hoặc có tính lấn át. + Các tộc người bảo lưu những giá trị  truyền thống của mình bằng nhiều  hình thức khác nhau, chủ yếu thông qua kho tàng Văn học (dân gian, viết): các pho   truyền thuyết, các bộ  sử thi, các áng truyện thơ  và kho tàng tục ngữ, ca dao, dân   ca…(với các tác phẩm đặc sắc như: Khảm hải, Nam Kim Thị Đan của người Tày;  Đẻ đất đẻ nước của người Mường; Sóng chụ xon sao của người Thái; Đam săn,  Xing nhã của người Ê­đê) và trong cả tín ngưỡng, lễ hội dân gian. + Qua hoạt động bảo tồn, làm cho Văn hóa tộc người không bị  đứt mạch  mà có sự kế  thừa phát triển liên tục qua nhiều thế  hệ  trong suốt chiều dài lịch   sử của tộc người. + Bảo tồn được các giá trị Văn hóa truyền thống là nền tảng để trên cơ sở  đó tiếp thu cái mới một cách chủ động theo hướng gạn đục khơi trong.
  8. 8 ­ Chọn lọc các yếu tố  Văn hóa ngoại tộc để  làm giàu thêm cho văn hóa tộc   người. + Giao lưu, hội nhập, tiếp thu giá trị văn hóa mới để làm giàu bản sắc văn   hóa tộc người là xu thế tất yếu. + Quá trình chọn lọc các yếu tố  văn hóa ngoại tộc để  làm giàu thêm cho  văn hóa tộc người mình diễn ra dựa trên hai tiêu chuẩn: Một là: chọn lọc những cái mới, cái có ý nghĩa phát triển chứ  không phải   cái lạ (cái lạ có khi lại cản trở sự phát triển) VD: hiện tượng nhạc Rok – cái mới có ý nghĩa phát triển – làm cho con người (giới trẻ) năng động hơn,  đáp ứng được lối sống hiện đại. Nhưng hiện tượng “ lắc” lại là cái lạ kìm hãm sự  phát triển, làm suy thoái cả  về thể chất và tinh thần, có thể còn làm băng hoại cả một thế hệ nếu như không được ngăn chặn kịp thời. Hai là: chọn lọc những cái có thể  tạo nên sự  hài hòa, hội nhập một cách tự  nhiên. Bản thân Văn hóa – bằng các hệ  giá trị  truyền thống bền vững, được hình thành trong suốt lịch sử  phát  triển của mỗi tộc người, nó tạo ra sức đề  kháng cho mỗi tộc người trong quá trình dung nạp, dung chấp, tiếp   nhận cái mới và đào thải cái lạ không thể cùng chung sống được. ­ Điều tiết đời sống Văn hóa cộng đồng vừa tương đồng  ổn định bền   vững, vừa giao lưu hội nhập và phát triển. + Một nền Văn hóa bao giờ cũng hàm chứa nhiều yếu tố, trong đó yếu tố  Văn hóa tộc người là một trong những yếu tố  quan trọng của nền Văn hóa có  nhiều thành phần tộc người như nền Văn hóa Việt Nam. + Văn hóa tộc người có vai trò quan trọng trong việc khẳng định bản sắc  Văn hóa dân tộc ( trong một nền văn hóa đa tộc người) + Bằng huyền thoại, truyền thuyết, hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo, bằng hệ  thống giá trị… định hướng lối sống, hành vi, cách  ứng xử  của con người trong   mối quan hệ  nội tại tộc người và mối quan hệ  với các tộc người xung quanh.  Qua đó điều tiết đời sống văn hóa cộng đồng vừa bảo lưu giá trị  truyền thống,  vừa hội nhập và phát triển ( thái độ, hành vi, cách  ứng xử  của con người, của  
  9. 9 bản thân mỗi tộc người quy định cách thức, cường độ, nhịp điệu, mức độ  bảo  lưu và hội nhập…) + Trên nền Văn hóa chung của một quốc gia đa tộc người, sự  tồn tại của   bản sắc Văn hóa tộc người tạo nên sự  đa dạng phong phú, vừa có yếu tố  phổ  biến, vừa có yếu tố đặc thù. + Nền Văn hóa riêng của mỗi tộc người đã trở thành những thành phần hữu cơ  của nền Văn hóa Việt Nam. Thông qua sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các tộc   người để tạo nên sự liên kết và điều tiết của Văn hóa tộc người đối với nền Văn hóa   dân tộc. * Một số điểm lưu ý khi nghiên cứu Văn hóa tộc người: ­ Phân biệt Văn hóa tộc người và Văn hóa của tộc người. + Văn hóa tộc người: dùng để  chỉ  văn hóa của riêng cộng đồng một tộc  người trong ứng xử với thiên nhiên với những giá trị hằng số. Là toàn bộ các giá  trị vật chất và tinh thần mà chủ thể sáng tạo, người mang chứa (người bảo lưu   giữ gìn), người hưởng thụ và người biểu hiện nó chính là tộc người đó. + Văn hóa của tộc người: là các yếu tố  văn hóa hiện đại của một tộc  người nào đó, trong đó có cả  yếu tố văn hóa truyền thống – văn hóa tộc người   và văn hóa của tộc người khác được tiếp nhận qua quá trình giao lưu văn hóa.   Các yếu tố  văn hóa của tộc người có thể  đến một lúc nào đó sẽ  trở  thành văn   hóa tộc người. Như vậy văn hóa tộc người là những cái ban đầu, cái gốc; còn văn hóa của tộc  người thường là văn hóa được làm giàu thêm bởi sự tiếp xúc, giao lưu với các tộc láng  giềng. ­ Chủ nghĩa vị văn hóa và tương đối văn hóa: + Vị văn hóa: sử dụng các tiêu chí của nền Văn hóa của mình để  đánh giá  nền Văn hóa khác. Mọi sự khác biệt về Văn hóa đều bị coi là thấp hơn.  Chủ  nghĩa này đi liền với thời kỳ  phát triển ban đầu của Nhân học, khi mà các nền Văn hóa Âu – Mỹ  được xem là thước đo đánh giá. Mặc dù bị đa số các nhà nghiên cứu phản đối song cho đến nay nó vẫn còn phổ 
  10. 10 biến ở một số quốc gia, cho rằng với cách giải thích theo truyền thống – văn hóa của họ là đúng, là đạo đức, họ  xem các hành vi không giống vậy là kỳ lạ hay mông muội + Tương đối văn hóa: ngược lại với Vị văn hóa, chủ  nghĩa tương đối văn  hóa cho rằng khi đánh giá các nền Văn hóa cụ  thể  (lối hành vi,  ứng xử) phải  được đặt trong bối cảnh của nền văn hóa đó, chứ không phải đánh giá bằng tiêu  chí của nền Văn hóa khác.  Theo chủ nghĩa này, không có nền Văn hóa nào cao hơn, không có tiêu chí đạo đức chung mang tính phổ  quát của loài người. Các quy tắc đạo đức của mọi nền Văn hóa phải được tôn trọng như  nhau. Tuy nhiên, nếu   theo cách đánh giá này thì chủ nghĩa phát xít Đức cũng được xếp ngang hàng với nền văn minh Hi Lạp. ­ Khi nghiên cứu Văn hóa tộc người cần tránh phương pháp luận có tính phi lịch sử   là:  + Hiện đại hóa quá khứ: là lấy tư duy của người hiện đại để lý giải những   hiện tượng văn hóa của quá khứ. Hiện đại hóa quá khứ đưa lại sai lầm về lịch sử,   thường thấy trong cách hiểu những khái niệm xuất xứ về sau này gán cho xã hội   cổ xưa. + Quá khứ  hóa hiện đại: lấy các giá trị  Văn hóa cổ  xưa để  giải thích cho  đời sống Văn hóa hiện tại. Quá khứ hóa hiện đại đưa đến chỗ miệt thị những cư dân vì những nguyên   nhân lịch sử  phải rơi vào sinh sống trong một hoàn cảnh tự  nhiên khó có điều   kiện phát triển, mà không thấy, nếu có điều kiện phát triển thuận lợi, họ  cũng  có thể ngang bằng với người của xã hội văn minh. Với một quốc gia dân tộc đa tộc người, trình độ  phát triển xã hội không đồng đều như   ở  nước ta, tư  tưởng này cần cảnh giác bởi nó dẫn đến không tôn trọng các tộc người có trình độ  chậm phát triển. Tư  tưởng   đại dân tộc sẽ dẫn đến tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Kết luận:  trên đây là toàn bộ  những vấn  đề  cơ  bản có tính khái quát,  những kiến thức nền tảng để  qua đó nghiên cứu, tìm hiểu, nhận diện về  Văn  hóa tộc người cũng như Văn hóa các dân tộc Việt Nam. Để phác họa được bức   tranh toàn cảnh của một nền Văn hóa tộc người – dân tộc đòi hỏi người học  cần phải tìm hiểu, nắm vững thêm những khái niệm công cụ  khác mà trong   phạm vi của bài giảng không có điều kiện cung cấp.
  11. 11 II. VĂN HÓA CÁC TỘC NGƯỜI VIỆT NAM. 1. Các phương pháp phân loại văn hóa trong dân tộc học. a. Phương pháp phân loại văn hóa tộc người truyền thống Ngay từ  khi dân tộc học trở  thành một ngành khoa học độc lập, phương   pháp này đã được sử  dụng để  nghiên cứu văn hóa các tộc người. Theo phương   pháp này, văn hóa tộc người được chia thành 4 bộ  phận: văn hóa sản xuất, văn  hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa xã hội. ­ Văn hóa sản xuất + Là văn hóa phản ánh cách thức tác động,  ứng xử  của tộc người với môi  trường tự nhiên, xã hội để lao động sản xuất, bảo đảm sự sinh tồn và phát triển   của tộc người. + Mỗi tộc người do chịu sự quy định của không gian sinh tồn tự  nhiên, xã   hội khác nhau mà hình thành nền văn hóa sản xuất khác nhau. ­ Văn hóa vật chất + Bao gồm toàn bộ  các giá trị  văn hóa, đặc trưng văn hóa, di sản văn hóa   của tộc người tồn tại và phát triển dưới dạng vật thể. + Văn hóa vật chất là bộ  phận quan trọng, phong phú về  hình thức, chứa   đựng nhiều nội dung mang bản sắc tộc người. ­ Văn hóa tinh thần + Bao gồm tổng thể  các giá trị  văn hóa phản ánh quá trình sáng tạo tinh  thần và tổ chức đời sống tinh thần của các tộc người. + Văn hóa tinh thần là một mảng văn hóa tiềm ẩn trong trí nhớ con người,   chỉ phát lộ thông qua hoạt động của con người trong một khoảng thời gian nhất   định, chứa đựng nhiều yếu tố mang bản sắc truyền thống của tộc người. ­ Văn hóa xã hội + Là tổng thể các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể phản ánh trình độ tổ  chức đời sống cộng đồng của tộc người.
  12. 12 + Bao gồm toàn bộ  các giá trị  văn hóa như  phong tục tập quán, thiết chế,   thể chế quản lý xã hội, hôn nhân, gia đình, tục hiếu hỷ… + Nghiên cứu văn hóa xã hội của tộc người giúp ta thấy được bản sắc văn  hóa của tộc người, nhận ra sự giao lưu văn hóa giữa các tộc người… b. Phương pháp phân loại văn hóa tộc người theo khu vực lịch sử ­ dân tộc   học. ­ Khu vực lịch sử  dân tộc học là một vùng lãnh thổ  mà trên đó các tộc   người cùng sinh sống và phát triển liên tục, tương đối  ổn định trong một thời   gian dài. Quá trình sinh sống các tộc người đã sáng tạo ra những yếu tố  văn   hóa chung của cả khu vực. ­ Trong một khu vực lịch sử ­ dân tộc học, ngoài những đặc điểm, bản sắc   văn hóa riêng của từng tộc người, thì còn có những đặc điểm và yếu tố văn hóa   chung của cả khu vực, được các tộc người cùng sử dụng. ­ Theo phương pháp phân loại này, văn hóa các tộc người  ở  Việt Nam   thường được chia thành các vùng văn hóa: Việt Bắc, Tây Bắc, Châu thổ Bắc bộ,   Trung bộ, Trường Sơn – Tây Nguyên, Nam Bộ. c. Phương pháp phân loại văn hóa theo ngôn ngữ tộc người. ­ Thông thường các tộc người có quan hệ  gần gũi về  ngôn ngữ  thì đồng   thời cũng mang những đặc điểm văn hóa tương đồng. ­ Trong dân tộc học, người ta xem xét và xếp các ngôn ngữ có cùng nguồn   gốc vào một ngữ  hệ  do đó văn hóa các tộc người được chia theo các ngữ  hệ,   các nhóm ngôn ngữ… ­ Theo cách phân loại này, các nhà nghiên cứu xếp các tộc người  ở  Việt   Nam vào bốn dòng văn hóa lớn theo bốn ngữ hệ là: Nam Á, Thái, Nam Đảo, Hán   Tạng. Trong văn hóa từng ngữ hệ lại chia thành 8 nhóm văn hóa ngôn ngữ. Ngoài ra còn một số cách phân chia khác. 2. Một số nội dung cơ bản của văn hóa các tộc người ở Việt Nam.
  13. 13 a. Văn hóa sản xuất. ­ Các tộc người ở Việt Nam chọn loại hình kinh tế trồng trọt là chính + Do sống trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thuận lợi cho kinh tế  trồng trọt, nên các tộc người chọn loại hình kinh tế trồng trọt là chính. + Các tộc người cư trú ở đồng bằng, quanh lưu vực các triền sông lớn chọn   loại hình sản xuất trồng lúa nước là phổ biến. VD: người Kinh, Chăm, Khme, Hoa… + Các tộc người cư trú ở vùng cao chọn trồng lúa nương rẫy là chính. VD: người Dao, Hà Nhì, Hmông… ­ Công cụ  sản xuất truyền thống của các tộc người về  cơ  bản dùng cày,   cuốc, dao phát… kết hợp sức kéo gia súc ­ Các tộc người có chăn nuôi gia súc nhưng theo hướng tự  cấp tự  túc là   chủ yếu. ­ Thủ công nghiệp đã xuất hiện ở một số tộc người Một số  tộc người có nghề  thủ  công khá phát triển: dệt vải, làm gốm của   người Kinh, nghề rèn của người Hmông, nghề gốm của người Chăm. ­  Một số tộc người vẫn còn sử dụng phương thức săn bắt, hái lượm (chủ   yếu cung cấp thức ăn phụ hằng ngày) ­ Hiện nay, văn hóa sản xuất của các tộc người đã có những biến đổi cơ   bản theo hướng sản xuất hàng hóa. Xu hướng đa dạng hóa ngành nghề, chuyển   đổi cơ cấu kinh tế…đang từng bước hình thành, phát triển. b. Văn hóa đảm bảo đời sống. ­ Do điều kiện tự nhiên – xã hội của cư dân vùng nhiệt đới gió mùa với văn   hóa trồng lúa nước giữ vai trò chi phối mà văn hóa đảm bảo đời sống của các   tộc người Việt Nam vừa có đặc điểm chung, vừa có nét độc đáo riên. ­ Văn hóa ẩm thực có nhiều nét độc đáo, vừa thiết thực, vừa tinh tế thú vị.
  14. 14 + Cơ  cấu bữa ăn bộc lộ  rõ dấu ấn của truyền thống văn hóa nông nghiệp   lúa nước – cơ cấu bữa ăn thiên về thực vật. + Đặc điểm cơ bản của văn hóa ẩm thực là tính tổng hợp (lối ăn tổng hợp   thể hiện trong cách chế biến, cách ăn…) + Tính cộng đồng được đề cao trong văn hóa ẩm thực. ­ Văn hóa  ở  của các tộc người Việt Nam khá phong phú, phù hợp với môi   trường tự nhiên, xã hội. Nhà ở được coi là yếu tố quan trọng nhất đảm bảo cho   cuộc sống ổn định. + Đặc trưng của ngôi nhà Việt Nam gắn liền với môi trường sông nước,   khí hậu nhiệt đới gió mùa. + Việc chọn hướng nhà, hướng đất có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện văn   hóa ứng xử với môi trường tự nhiên. + Nguyên vật liệu làm nhà chủ yếu được lấy sẵn trong tự nhiên. ­ Trang phục, trang sức có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống của các   tộc người, vừa thể  hiện thái độ   ứng xử  với môi trường tự  nhiên, vừa mang ý   nghĩa xã hội sâu sắc. + Chất liệu may mặc chủ yếu có nguồn gốc thực vật và là sản phẩm của  nghề trồng trọt. + Cùng với chức năng  ứng phó với môi trường tự  nhiên, trang phục trang  sức còn hướng tới mục đích làm đẹp cho con người. ­ Về  phương tiện di chuyển đa dạng phong phú, gắn liền với địa hình cư   trú của từng tộc người. ­ Hiện nay, trong xu thế mở rộng giao lưu giữa các tộc người trong quốc   gia và giao lưu quốc tế, văn hóa ăn, mặc,  ở, đi lại của các tộc người  ở  Việt   Nam đã có những biến đổi lớn. c. Văn hóa tinh thần. ­ Do sự khác nhau về điều kiện tự  nhiên, lịch sử  xã hội nhất định nên các   tộc người cũng có đời sống văn hóa tinh thần đa dạng, phong phú, độc đáo.
  15. 15 ­ Tín ngưỡng, tôn giáo + Các tộc người  ở Việt Nam có quan niệm truyền thống về  thế  giới thần   linh với những điểm chung cơ bản là sự tôn sùng, gắn bó với thiên nhiên. Thể hiện qua tín ngưỡng sùng bái tự nhiên theo quan niệm đa thần, vạn vật  hữu linh, có thờ có thiêng, có kiêng có lành… + Hiện nay, đa số đồng bào các tộc người ở Việt Nam tin theo  nhiều hình  thức tín ngưỡng tôn giáo khác nhau. + Tín ngưỡng tôn giáo của các tộc người ở Việt Nam có tính dung hợp, đan  xen, hòa đồng cao. + Tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam có tính trội của yếu tố nữ. + Hiện nay, tín ngưỡng tôn giáo của Việt Nam có những biến thái mới. ­ Văn hóa dân gian. + Các tộc người có kho tàng văn hóa dân gian phong phú, phản  ảnh đời  sống sinh hoạt, đời sống sản xuất của tộc người mình. + Đặc điểm chung của các truyền thuyết tộc người là đều khẳng định các  tộc người ở Việt Nam hiện nay cùng chung nguồn gốc, gần gũi, đồng cam cộng  khổ trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. ­ Tính cách tộc người + Các tộc người ở Việt Nam đều có những tính cách chung: thông ninh, cần  cù, sáng tạo, giỏi chịu đựng, anh hùng, vị  tha, đề  cao tính cộng đồng, nặng tình  hơn lý. + Do sự khác nhau về địa vực cư trú, không gian sinh tồn, hoàn cảnh lịch sử  xã hội nên các tộc người cũng có những tính cách khác nhau nhất định về  lối   sống, phong tục, tập quán. ­ Hiện nay, đời sống văn hóa tinh thần của các tộc người ngày càng được   nâng cao. Văn hóa dân gian của các tộc người được bảo lưu, dìn giữ. ­ Sinh hoạt tín ngưỡng của các tộc người được bảo đảm, các hoạt động   mê tín dị đoan từng bước được khắc phục.
  16. 16 ­ Tuy nhiên, hiện tượng mai một các giá trị văn hóa truyền thống vẫn diễn   ra; một số hủ tục trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của các tộc người vẫn chưa   được khắc phục triệt để. d. Văn hóa xã hội. Các tộc người ở Việt Nam đều có phong tục, tập quán, nguyên tắc ứng xử,   các thiết chế, hương  ước, luật tục vừa có điểm tương đồng, vừa có nét khác   biệt. ­ Phong tục hôn nhân truyền thống của các tộc người  ở  Việt Nam luôn   mang tính cộng đồng cao, xuất phát từ lợi ích cộng đồng, lợi ích tập thể. + Việc hôn nhân tuy là của hai người nhưng lại kéo theo việc xác lập quan   hệ giữa hai gia tộc, đáp ứng quyền lợi của làng xã, lợi ích của cộng đồng. + Khi các quyền lợi của tập thể cộng đồng đã được tính đến và đáp ứng,   lúc ấy người ta mới tính đến nhu cầu riêng tư. ­ Phong tục tang ma cũng thể  hiện rõ tính cộng đồng, phản ánh triết lý   nhân sinh quan, thế giới quan của các tộc người Việt Nam. ­ Lễ tết, lễ hội mang đậm dấu ấn của cư dân nông nghiệp. + Được phân bố  theo thời gian trong năm xen vào các khoảng trống trong  lịch thời vụ. + Yếu tố  trồng trọt của cư dân nông nghiệp được phản ánh sâu sắc trong  lễ hội: từ thời gian, cách thức tiến hành, các nghi lễ… ­ Văn hóa quân sự  của các tộc người  ở  Việt Nam có thể  được coi là một   thành tố của văn hóa tổ chức xã hội. + Các tộc người  ở Việt Nam đã sáng tạo ra một nền văn hóa quân sự  đặc  sắc, độc đáo, hiệu quả. + Đó là một nền văn hóa quân sự  với tính dân tộc, tính nhân dân, tính nhâ  văn sâu sắc. 2. Đặc trưng văn hóa các tộc người ở Việt Nam.
  17. 17 ­ Văn hóa các tộc người  ở  Việt Nam có quá trình phát triển lâu đời trên   nền tảng văn hóa bản địa. + Nền văn hóa các dân tộc ở Việt Nam có lịch sử phát triển từ xa xưa. Bằng tài liệu khảo cổ học, các nhà nghiên cứu đã chứng minh nền văn hóa   các dân tộc Việt Nam có lịch sử phát triển từ xa xưa. Nền văn sơ kỳ đồ đá cũ ở Núi Đọ, Thanh Hóa; văn hóa trung kỳ và hậu kỳ  đồ đá cũ: Sơn Vi, Phú Thọ. Thời kỳ đồ đá giữa có di chỉ văn hóa Hòa Bình. Thời kỳ đồ đá mới có di chỉ văn hóa Bắc Sơn. Thời đại đồ đồng Việt Nam phát triển qua 3 giai đoạn: Phùng Nguyên (Sơ  Kỳ), Đồng Đậu ( trung kỳ), Gò Mun (hậu kỳ) thể hiện sự nối tiếp từ đồ đá sang  đồ đồng. Thời đại đồ sắt có nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng. + Đã xuất hiện di sản văn hóa thành văn, bao gồm một kho tàng văn hóa dân  gian phong phú, đặc sắc. Các bộ sách Lĩnh nam chích quái, Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư… cùng nhiều tác phẩm lớn khác của các danh nhân trên các lĩnh vực đã để lại cho  cộng đồng các dân tộc Việt Nam một kho tàng văn hóa độc đáo, thể  hiện sức   sống nội sinh của văn hóa dân tộc Việt Nam. ­ Văn hóa các tộc người  ở  Việt Nam là văn hóa của các cư  dân nông   nghiệp khu vực nhiệt đới gió mùa  Đông Nam Á. + Lớp văn hóa bản địa với nền Nam Á và Đông Nam Á cổ đại đã để lại cho  văn hóa Việt Nam những đặc điểm quan trọng. Về  đời sống vật chất có văn hóa trồng lúa nước với công cụ  và kỹ  thuật  canh tác phù hợp. Văn hóa ăn, mặc, ở mang đậm dấu ấn của văn hóa Đông Nam Á. + Văn hóa gắn liền với nền nông nghiệp trồng lúa nước là đặc trưng của   các tộc người khu vực Đông Nam Á.
  18. 18 Văn hóa lúa nước yêu cầu tính cộng đồng cao, tinh thần đoàn kết, tương  thân tương ái để hợp sức chống thiên tai, làm thủy lợi… Văn hóa lúa nước đòi hỏi các tộc người trong văn hóa nhận thức phải chú  trọng các mối quan hệ ( trông trời, trông đất…) tạo nên lối sống bình quân, hài   hòa (nhất là hài hòa âm dương, nhưng cũng thiên về  âm tính),  ưa  ổn định trội  hơn ưa phát triển. Trong giao tiếp và quan hệ  xã hội coi trọng tình cảm hơn lý trí, tinh thần   hơn vật chất,  ưa kín đáo hơn sự  rành mạch thô bạo, trong đối ngoại thì mềm   dẻo, hiếu hòa, trọng văn hơn võ. Do chú trọng các mối quan hệ dẫn đến lối ứng xử năng động, linh hoạt, có  khả năng thích ứng, thích nghi cao. Văn hóa các tộc người có tính dung hợp, dung tích cao. ­ Văn hóa các tộc người ở Việt Nam có sự giao lưu với văn hóa Hán và văn   hóa Ấn Độ. + Sự giao lưu với văn hóa Hán và văn hóa  Ấn Độ  đã để  lại nhiều dấu  ấn   đậm nét trong văn hóa Việt Nam. Trên bình diện văn hóa Vật chất, các tộc người chúng ta đã tiếp nhận từ  văn hóa Hán kỹ  thuật luyện sắt, cùng một số  loại đồ  sắt, vũ khí, kỹ  thuật làm   giấy, một số vị thuốc, trang phục… Trên bình diện văn hóa tinh thần chúng ta tiếp nhận từ  văn hóa Hán ngôn  ngữ, văn tự, các tôn giáo, tri thức khoa học… Văn hóa  Ấn Độ  cũng để  lại nhiều dấu  ấn, có thể  kể  đến việc du nhập   Phật giáo và Balamon giáo… + Đây là sự giao lưu hai chiều, có ảnh hưởng từ văn hóa Hán và văn hóa Ấn  Độ và ngược lại văn hóa Việt Nam cũng có ảnh hưởng đến văn hóa Hán. + Quá trình giao lưu cũng là quá trình đấu tranh giữ vững bản sắc văn hóa  của từng tộc người cũng như của cả dân tộc.
  19. 19 ­ Văn hóa các tộc người  ở Việt Nam có sự giao lưu, tiếp biến với văn hóa   phương Tây. + Sự  giao lưu, tiếp biến với văn hóa phương Tây đã để  lại nhiều dấu  ấn   trong văn hóa các tộc người ở Việt Nam. Văn hóa vật chất:  ảnh hưởng đáng kể nhất là trong phát triển đô thị, công  nghiệp và giao thông Văn hóa tinh thần: ngoài Ki – tô giáo là những hiện tượng khác trong các  lĩnh vực văn tự, ngôn ngữ, báo chí, văn học, nghệ  thuật, giáo dục, khoa học, tư  tưởng… + Với tinh thần độc lập, tự  chủ  và lòng tự  hào về  bản sắc văn hóa của  mình, các tộc người  ở  Việt Nam đã tiếp thu, chắt lọc những tinh hoa của văn  hóa phương Tây để phục vụ cho công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước. ­ Thống nhất trong đa dạng là đặc điểm nổi bật của văn hóa các tộc người   ở Việt Nam. + Do cùng chung điều kiện tự  nhiên và xã hội, chung vận mệnh dân tộc,  chung sống lâu đời… đã góp phần tạo nên sự  thống nhất của văn hóa các tộc   người ở Việt Nam. + Sự thống nhất của văn hóa các tộc người ở nước ta do đều có chung một  cơ  tầng văn hóa Đông Nam Á, chung nguồn gốc lịch sử  của nhiều tộc người   (Việt – Mường, Tày – Thái, Môn – Khme), chung trình độ  phát triển kinh tế xã   hội, chung vận mệnh dân tộc, có sự giao lưu tiếp biến văn hóa của nhau. + Các bản sắc văn hóa không tách rời nhau, biệt lập với nhau mà luôn gắn  bó chặt chẽ với nhau tạo thành một cộng đồng văn hóa thống nhất. + Từ trước tới nay, các tộc người ở Việt Nam đều tự xác định cho mình các  yếu tố văn hóa chung thống nhất, đó là:
  20. 20 Các tộc người do sinh sống trong một quốc gia dân tộc, có điều kiện tự  nhiên – xã hội tương đồng, chung vận mệnh dân tộc nên đều có chung một hệ  tư tưởng chính trị định hướng phát triển trong quá trình sáng tạo văn hóa. Văn hóa các tộc người  ở Việt Nam đều thuộc một cộng đồng văn hóa của  cư dân nông nghiệp với trình độ kỹ thuật thủ công là chủ yếu. Các tộc người ở Việt Nam đều có những giá trị tinh thần chung, đó là: tinh   thần đoàn kết, cố kết cộng đồng, lối sống thương người như thể thương thân,  phẩm chất cần cù, chịu khó, gan dạ  dũng cảm, nhân nghĩa khoan dung, yêu  chuộng hòa bình, ý thức tự hào dân tộc. + Tính đa dạng, phong phú là đặc điểm điển hình và phổ biến, nổi bật của  văn hóa các tộc người ở Việt Nam. Do sự  khác biệt về  địa bàn cư  trú, khí hậu, phân bố  tộc người, sự  khác  nhau về lịch sử tộc người, quan hệ tộc người…đã tạo ra sự phong phú đa dạng   của văn hóa các tộc người ở Việt Nam. Mỗi tộc người đều có ngôn ngữ và sắc thái văn hóa riêng góp phần tạo nên  nền văn hóa Việt Nam đa dạng phong phú. Văn hóa lao động sản xuất, kiến trúc, ăn, mặc…phong tục tập quán mỗi  tộc người đều có những nét riêng độc đáo. Các tộc người đều có kho tàng văn   hóa dân gian phong phú và có giá trị nghệ thuật lớn. III. THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA  CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM HIỆN NAY. 1. Nhận diện các yếu tố  cần tác động trong quá trình bảo tồn, phát triển  văn hóa các dân tộc Việt Nam. a. Những yếu tố văn hóa không gây trở ngại cho sự phát triển. Nhìn vào đời sống văn hóa các dân tộc, ta thấy nhiều yếu tố văn hóa truyền   thống hiện nay vẫn có thể tồn tại mà không gây trở ngại cho sự phát triển. ­ Văn hóa vật chất: nhà sàn, y phục, đồ trang sức…

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản