intTypePromotion=1

Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng và giải pháp cho hoạt động Xuất khẩu Lao động ra nước ngoài tại tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2006-2010

Chia sẻ: Nguyễn Ngoc Tuấn | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:43

0
70
lượt xem
11
download

Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng và giải pháp cho hoạt động Xuất khẩu Lao động ra nước ngoài tại tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2006-2010

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng hoạt động Xuất khẩu lao động của các Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2006 - 2010, bao gồm những kết quả thiết thực mà hoạt động này đạt được cũng như những điểm hạn chế, khó khăn cần giải quyết, khắc phục. Từ đó có thể nêu ra một vài đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động, cải thiện cuộc sống cho người dân lao động và góp phần vào mục tiêu phát triển chung của Bạc Liêu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng và giải pháp cho hoạt động Xuất khẩu Lao động ra nước ngoài tại tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2006-2010

  1. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Trong giai đoạn hiện nay, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập Quốc tế ngày  càng được mở  rộng, Việt Nam nói chung và tỉnh Bạc Liêu nói riêng đã có thêm  nhiều cơ  hội tiếp cận với thị  trường Quốc tế, có điều kiện phá bỏ   những rào   cản hữu hình và vô hình đối với các thị  trường quốc tế, nâng cao khả năng cạnh  tranh giữa các nước, do vậy các ngành kinh tế trong nước có nhiều điều kiện tiếp  cận với thị  trường thế  giới, tình hình Xuất khẩu Lao động (XKLĐ)   ra nước  ngoài cũng không ngoại lệ.  Ở tỉnh Bạc Liêu,  nơi có nền kinh tế nhiều tìm năng,  tình hình XKLĐ tại tỉnh Bạc Liêu trong nhiều năm qua cũng đã đạt được thành   quả đáng khích lệ, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người   dân lao động, tạo thêm nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách Nhà nước.  Bạc Liêu có  mức phát triển đạt mức trung bình khá cuả khu vực đồng bằng sông Cửu Long và  nằm trong ''tốp giữa'' của các tỉnh trong cả nước.  Tuy nhiên trong thời gian gần đây, hoạt động XKLĐ ở Bạc Liêu đang gặp   phải một số  khó khăn mà nguyên nhân chính là do chịu  ảnh hưởng của cuộc   khủng hoảng kinh tế tài chính diễn ra ở  nhiều nước trên thế  giới.  Báo cáo thực  tập chương trình học hết môn “Thực trạng và giải pháp cho hoạt động Xuất   khẩu Lao động ra nước ngoài tại tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2006 ­  2010 ”  được  thực hiện nhằm nghiên cứu tình hình thực tiễn của hoạt động XKLĐ ra nước   ngoài tại tỉnh Bạc Liêu, tìm hiểu những kết quả  mà tỉnh Bạc Liêu đã đạt được  trong thời gian qua cũng như những mặt hạn chế, những điểm khó khăn cần giải   quyết trong lĩnh vực XKLĐ ra nước ngoài và từ  đó đề xuất một số kiến nghị  và  giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này. 2. Mục tiêu nghiên cứu                                                                                                                   Trang         1
  2. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng hoạt   động Xuất khẩu lao động của các Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu giai   đoạn 2006 ­ 2010, bao gồm những kết quả thiết thực mà hoạt động này đạt được  cũng như  những điểm hạn chế, khó khăn cần giải quyết, khắc phục. Từ  đó có   thể  nêu ra một vài đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu   lao động, cải thiện cuộc sống cho người dân lao động và góp phần vào mục tiêu   phát triển chung của Bạc Liêu . 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu • Đối tượng nghiên cứu : Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng và  giải pháp của hoạt động xuất khẩu lao động ra nước ngoài. • Phạm vi nghiên cứu : Tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2006 ­ 2010. 4. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu dựa trên phân tích số  liệu của các báo cáo thực tiễn từ  các  Doanh nghiệp xuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh và báo cáo của Sở  Lao động  thương binh – xã hội tỉnh Bạc Liêu về  hoạt động xuất khẩu lao động ra nước  ngoài trong từng giai đoạn. 5. Nguồn số liệu  Số  liệu được thu thập dựa trên các báo cáo hàng năm của Sở  Lao động   Thương binh – Xã hội tỉnh Bạc Liêu về  vấn đề  xuất khẩu lao động diễn ra trên   địa bàn tỉnh , trên các bài báo, tạp chí về  lĩnh vực xuất khẩu lao động ra nước  ngoài, v.v.. 6. Kết cấu Chương 1 : Lý luận chung về  Lao động và Xuất khẩu lao động ra nước  ngoài. Chương 2 : Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động ra nước ngoài ở địa   bàn tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2006 ­ 2010. Chương 3 : Một số  giải pháp và kiến nghị  nhằm nâng cao hiệu quả  của  hoạt động xuất khẩu lao động ra nước ngoài tại tỉnh Bạc Liêu.                                                                                                                   Trang         2
  3. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ LAO ĐỘNG VÀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG RA  NƯỚC NGOÀI 1.1 Một số khái niệm: 1.1.1 Lao động: Lao động là hoạt động hữu ích của con người nhằm sáng tạo ra của cải   vật chất và tinh thần cần thiết để thoả mãn những nhu cầu của cá nhân, của một   nhóm người, của cả doanh nghiệp hoặc nói chung của toàn xã hội. Cùng với các  nguồn lực thiết yếu khác như  máy móc, nguyên liệu, đất đai,v.v ..lao động sống  là nguồn lực của sản xuất còn lao động là sức mạnh năng động của quá trình sản  xuất. Đại diện cho sức lao động là con người. Sức lao động chỉ  tồn tại thực sự  trong cá nhân người lao động và là nguồn lực lao động chủ yếu của xã hội.  Trong điều kiện lao động tự do, lao động không thể tuỳ tiện di chuyển từ  điểm dân cư này sang điểm dân cư khác. 1.1.2 Nguồn Lao động: Đối với Xã hội ngày nay nguồn lao động hay còn gọi là nguồn nhân lực, là  một nguồn lực không thể  thiếu của bất cứ  quốc gia nào. Khái niệm nguồn lao  động trong kinh tế học là dân số có khả năng lao động cả bằng thể lực và trí lực  của mình. Nói cách khác, đó là những dân cư  đang làm việc và không làm việc  nhưng vẫn có khả năng lao động. Đặc điểm của nguồn lao động là không thể tích   luỹ, tiết kiệm, không thể  sử  dụng như  là những yếu tố  nguyên liệu sản xuất.                                                                                                                     Trang         3
  4. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn Nếu như  nguồn lao động được tiết kiệm, không được sử  dụng thì đó sẽ  là một   sự tổn thất cho xã hội. 1.1.3 Hoạt động xuất khẩu lao động: Khái niệm Xuất khẩu lao động là một bộ  phận của khái niệm di chuyển  lao động, xuất phát từ khái niệm di chuyển lao động. Về khái niệm di chuyển lao động, đó là quá trình phân bổ sức lao động đến   những chỗ làm việc mới. Việc di chuyển đến những chỗ làm việc mới có thể  đi  cùng với sự thay đổi về dạng việc làm, vùng lãnh thổ và người sử dụng lao động. Các dạng di chuyển  có thể được thể hiện dưới hai nguồn gốc cơ bản, đó  là phân bổ theo vùng lãnh thổ và thay đổi loại hình công vệc. Như vậy Xuất khẩu lao động là một phân loại của di chuyển lao động, đó   là quá trình di chuyển lao động đến nơi làm việc mới ở ngoài quốc gia. Hoạt động Xuất khẩu lao động được thực hiện bởi các doanh nghiệp Xuất  khẩu lao  động  và  chịu sự  quản lý  của  Nhà  Nước  thông  qua  Bộ   Lao  động –   Thương Binh Xã hội và Sở Lao động – Thương binh và Xã hội ở các địa phương. 1.1.4 Người lao động đi làm việc ở nước ngoài: Theo “Luật người lao động Việt Nam đi làm việc  ở  nước ngoài theo hợp   đồng” (Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ  nghĩa Việt Nam  khóa XI, kỳ họp thứ X thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006.): “ người lao động  đi làm việc  ở  nước ngoài theo hợp đồng (sau đây gọi là người lao động đi làm  việc  ở  nước ngoài) là công dân Việt Nam cư  trú tại Việt Nam, có đủ  các điều  kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận  người lao động, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật này”. 1.2 Các ngành nghề Xuất khẩu lao động: Các ngành nghề  Xuất khẩu lao động  ở  Việt Nam nói chung và tỉnh Bạc  Liêu nói riêng chủ  yếu vẫn là các nghành nghề  lao động trực tiếp, hay nói cách   khác là lao động chân tay (lao động giản đơn), các ngành nghề sử dụng nhiều lao   động nhưng không yêu cầu trình độ  lao động cao, ví dụ  như  may mặc, nữ  giúp  việc nhà, khai thác khoáng sản, xây dựng, chăm sóc người cao tuổi, v.v                                                                                                                   Trang         4
  5. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn Bên cạnh đó cũng có các ngành nghề  đòi hỏi trình độ  của người lao động  tham gia Xuất khẩu lao động, đó là các ngành nghề  như công nhân kỹ thuật, cán   bộ quản lý có trình độ  Trung cấp, Cao Đẳng, Đại học hay trên Đại học, v.v. 1.3 Tác động của hoạt động Xuất khẩu lao động đến quốc gia Xuất   khẩu lao động và quốc gia tiếp nhận lao động: 1.3.1 Đối với quốc gia Xuất khẩu lao động: Ở các nước có lao động tham gia Xuất khẩu lao động mà chủ yếu là ở các   nước kém phát triển, hoạt động này là một biện pháp tích cực nhằm giải quyết   công ăn việc làm, nâng cao tay nghề  cho người lao động. Bên cạnh đó, đưa lao  động đi Xuất khẩu lao động cũng là biện pháp tốt để  mang nguồn thu ngoại tệ  về cho đất nước nhằm du nhập công nghệ, tư bản. Ngoài ra, việc đưa một phần   lao động ra nước ngoài có thể kéo theo sự suy giảm  của nền sản xuất trong nước   (do giảm thị trường tiêu thụ và cũng là lực lượng sản xuất) nhưng đó cũng là con   đường nhằm nâng cao thu nhập cho những người lao  động, không chỉ  những  người đi Xuất khẩu lao động mà còn là những lao động trong nước, từ  đó nâng  cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân, từ  đó phát triển Kinh tế  đất nước đi lên. Bảng 1.1 Ảnh hưởng của XKLĐ đến thị trường lao động của quốc  gia XKLĐ W Sản xuất giảm         kijl W1       i Wo   j                                                                                                                   Trang         5
  6. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn             m  D O  k            l    L      Di chuyển lao động (Nguồn : Slide bài giảng Kinh tế Lao động – TSKH. Phạm Đức   Chính,tr.19) Biểu đồ  trên cho thấy trước khi di chuyển lao động ra nước ngoài, mức  lương của lao động nước này là Wo tương ứng với số lượng lao động trong nước   là Ol, khối lượng sản xuất của nền Kinh tế được tính bằng diện tích hình chư  nhật OWojl. Cung lao động lớn nên mức lương nhận được của lao động trong  nước khá thấp(Wo) Sau khi có hoạt động XKLĐ ra nước ngoài, số  lượng lao động còn lại là   Ok , với nguồn cung lao  động này , mức sản xuất của nền Kinh tế  giảm   xuống đúng bằng diện tích kijl, trong khi đó mức lương người lao động nhận   được lại tăng từ Wo lên W1. Như vậy ta có thể thấy khi có hoạt động Xuất khẩu   lao động ra nước ngoài , không những thu nhập của các hộ gia đình có lao động đi  xuất khẩu tăng lên , mà mức thu nhập của những người lao động trong nước cũng   được cải thiện đáng kể. Đối với Việt Nam, Xuất khẩu lao động (XKLĐ) là một chủ  trương lớn   của Đảng, Nhà nước, điều đó phù hợp với nguyện vọng của người lao động  nhằm góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và tay nghề cho người lao  động, mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Từ  năm 2006 đến 2010 Bạc Liêu đã giải quyết việc làm cho 79.242 đạt  hơn chỉ  tiêu đề  ra ( chỉ  tiêu 75.000 lao động), đạt   105,656% so với kế  hoạch.  Trong đó đi làm việc tại nước ngoài là 1.120 người. Không những thế  từ  hiệu  quả của hoạt động này, chất lượng và trình độ tay nghề của người lao động cũng  được nâng cao đáng kể, đóng góp vào sự phát triển về  chất trong đội ngũ người                                                                                                                     Trang         6
  7. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn lao động cả nước, từ đó góp phần vào quá trình tăng trưởng và phát triển của cả  quốc gia. Mặt khác, hoạt động Xuất khẩu lao động khi phát triển sẽ tạo ra hàng loạt   việc làm trong các hoạt động phục vụ cho lĩnh vực này, ví dụ như các hoạt động   giáo dục dạy nghề, dạy ngoại ngữ,v.v. Từ đó Trung tâm giới thiệu việc làm sẽ  đóng góp cho ngân sách Nhà nước hàng chục tỷ đồng từ lợi nhuận và phí quản lý   từ những hoạt động này hàng năm. 1.3.2 Đối với quốc gia tiếp nhận Lao động Ta có thể  chia các nước nhập khẩu lao động thành hai loại : Thứ  nhất là   những nước dân số ít mà giàu tài nguyên như ở Trung Đông, ở đây thiếu lao động   trong các ngành xây dựng, dịch vụ, nhất là dịch vụ  tại tư  gia;  Thứ hai là những   nước đã phát triển, kể cả những nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan,   Singapore, Malaysia. Trong nhóm thứ hai, cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh sang   những ngành dùng nhiều tư  bản, công nghệ  và lao động trí thức,  và chuyển ra  nước ngoài ( dưới các hình thức như đầu tư  trực tiếp FDI ) những ngành có hàm  lượng lao động giản đơn cao. Tuy nhiên, tại những nước công nghiệp mới, những  ngành dùng nhiều lao động giản đơn có quy mô khá lớn nên không thể  chuyển   hết ra nước ngoài được.  Ở  đây cần lưu ý một điểm là tại các nước đã phát triển không phải là  không còn  tồn tại lao động giản đơn. Vẫn còn một bộ phận không nhỏ số người  mới ở trình độ giáo dục cưỡng bách tại các quốc gia này. Tuy nhiên vì tiền lương   nói chung đã tăng cao theo mức sống của xã hội, các xí nghiệp có khuynh hướng  thuê mướn lao động nước ngoài để  giảm chi phí. Mặt khác, lao động bản xứ  có  khuynh hướng tránh những loại công việc mà môi trường lao động không tốt, dễ  gặp tai nạn. Ví dụ  như  tại Nhật có 3 loại công việc, mà tiếng Nhật gọi là 3K,   phải nhập khẩu lao động nước ngoài vì không thuê mướn được lao động bản xứ :   nguy hiểm (kiken), môi trường làm việc không sạch sẽ (kitanai) và điều kiện lao  động khắc nghiệt (kitsui) như nóng nảy, ngột ngạt. v..v                                                                                                                   Trang         7
  8. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn Bảng 1.2 : Ảnh hưởng của XKLĐ đến các quốc gia tiếp nhận Lao  động Xuất khẩu W Tiền công dân bản địa giảm từ      OWobe xuống còn OW1be       Wo             b       W1         g     c                                                                                                                   Trang         8
  9. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn      D               O         e               f L Di chuyển lao động (Nguồn : Slide bài giảng Kinh tế Lao động – TSKH. Phạm Đức   Chính,tr.19) Trước khi tiếp nhận thêm lao động ở nước ngoài, mức lương của người  dân bản địa các nước này là Wo tương ứng với số lượng lao động là Oe. Việc  tiếp nhận thêm Lao động từ Xuất khẩu lao động ở các nước (ef), có nghĩa là  nguồn cung lao động ở các nước này tăng lên đáng kể ( từ Oe lên Of ), điều này  làm cho tiền công của dân bản địa giảm xuống từ Wo xuống W1. Song bù lại, thị  trường tiêu thụ các nước này tăng lên, các ngành sản xuất trong nước cũng tăng,  do đó mang lại nguồn thu rất lớn cho các nước này.( Theo biểu đồ, sản xuất của  nền Kinh tế các nước tiếp nhận LĐXK tăng lên đúng bằng diện tích befc). 1.4 Những yêu cầu của XKLĐ ra nước ngoài Để  tham gia vào đội ngũ lao động Xuất khẩu ra nước ngoài, người lao  động bên cạnh những đòi hỏi về sức khoẻ, nguồn tài chính còn có những yêu cầu  khác như  lí lịch cá nhân, trình độ  học vấn, trình độ  chuyên môn, trình độ  ngoại   ngữ.. Tuỳ theo thị trường tiếp nhận và yêu cầu công việc mà mức độ của các yêu   cầu có khác nhau đối với người lao động. Ví dụ như đối với thị trường Đài Loan  hay Malaysia, yêu cầu đối với người lao động nhìn chung khá thấp với số lượng  nhiều, trong khi đó thị trường Nhật Bản chỉ tuyển thực tập sinh với số lượng hạn   chế nên yêu cầu của họ khá cao. 1.5 Bộ luật Nhà Nước về Xuất khẩu lao động ra nước ngoài Văn bản Pháp luật về  Lao động là người Việt Nam đi làm việc  ở  nước   ngoài được NN và Chính phủ  qui định tại Mục V – Chương XI ­ Bộ  Luật Lao   động nước Cộng hoà Xã hội Chủ  Nghĩa Việt Nam và văn bản về  quản lí Nhà  nước trong hoạt động XKLĐ ra nước ngoài cũng được NN và Chính Phủ qui định                                                                                                                    Trang         9
  10. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn rõ tại Điều 184 – Chương XV về quản lí NN về Lao Động – Bộ Luật Lao động   nước Cộng Hoà Xã hội Chủ  nghĩa Việt Nam. Ngoài ra, Luật người Việt Nam đi  làm việc  ở  nước ngoài theo hợp đồng cũng đã được Quốc Hội khoá XI, kỳ  họp   thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 cà có hiệu lực thi hành từ 1/7/2007. Luật người lao động Việt Nam đi làm việc  ở  nước ngoài theo hợp đồng :  (Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã   được sửa đổi, bổ  sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm   2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10) :Luật này quy định về người lao động  Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của người  lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; quyền và nghĩa vụ  của doanh   nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp   đồng và các tổ chức, cá nhân có liên quan. Ngoài ra, Nhà nước và Chính phủ cũng đã ban hành rất nhiều thông tư, nghị  định về  việc đưa người lao động ra nước ngòai làm việc và các văn bản, quyết  định hướng dẫn thi hành các thông tư, nghị định đó. 1.6 Hoạt động Xuất khẩu Lao động tại tỉnh Bạc Liêu Trung Tâm giới thiệu việc làm trực thuộc Sở  Lao động – Thương binh và   Xã   hội   được   cấp   phép   theo   Luật   đưa   người   Lao   động   đi   làm   việc   ở   nước   ngoài.Trong năm 2010 Trung Tâm giới thiệu việc làm đã đưa được  223/300 đạt  74% kế hoạch  Thủ  tục đưa người Lao động Việt Nam đi làm việc  ở  nước ngoài được   thực hiện theo “Luật người lao động Việt Nam đi làm việc  ở  nước ngoài theo  hợp đồng”, trong đó Trung Tâm giới thiệu việc làm có quyền tuyển Lao động đi   làm việc  ở  nước ngoài có thời hạn được quy định theo Pháp Luật. Việc tuyển   dụng được thực hiện theo các quy trình và chịu sự quản lý của cơ quan Nhà nước   có thẩm quyền về đưa người lao động ra nước ngoài làm việc, đó là Sở Lao động   – Thương binh Xã hội tỉnh Bạc Liêu và Cục quản lý lao động với nước ngoài.                                                                                                                   Trang         10
  11. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn    Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG RA NƯỚC  NGOÀI TẠI TỈNH BẠC LIÊU 2006 ­ 2010                                                                                                                   Trang         11
  12. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn 2.1 Giới thiệu về Sở Lao Động – Thương Binh Xã Hội tỉnh Bạc Liêu Sở Lao động ­ Thương binh và Xã hội  tỉnh Bạc Liêu là cơ quan Nhà Nước   thuộc UBND tỉnh Bạc Liêu, có trụ  sở  đặt tại: Khóm 5, đường Hùng Vương,  Phường 1, Thành phố  Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Cơ  cấu tổ  chức của Sở  gồm   6  phòng, ban thực hiện chức năng tham mưu cho Ban Giám đốc Sở về các lĩnh vực  chính sách  lao động tiền công – tiền lương; dạy nghề; chính sách người có công;  Bảo trợ xã hội; Thanh tra an toàn lao động; Chăm sóc BVTE trên địa bàn tỉnh và  6  các Trung tâm,  các trường và Chi cục phòng chống tệ nạn xã hội thực hiện công   tác quản lý và giám sát hoạt động ngành. Bảng 2.1 :Sơ đồ tổ chức Sở Lao Động – Thương Binh Xã Hội  tỉnh Bạc Liêu SỞ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH  VÀ XàHỘI BAN GIÁM  ĐỐC CÁC PHÒNG BAN  CÁC TRUNG TÂM  CHUYÊN MÔN TRỰC THUỘC Phòng hành chính Phóng Kế hoạch  Trung tâm bảo trợ xã  Trung tâm giới thiệu  tài chính hội việc làm Phòng chính sách  Phòng bảo trợ xã  người có công hội Trung tâm giáo dục  Chi cục phòng chống  lao động xã hội tệ nạn xã hội Phòng  tiền công,  Phòng dạy nghề tiền lương Trường Trung cấp  Trường Cao đẳng  Phòng Thanh tra Phòng Chăm sóc,  Nghề Nghề Bảo vệ trẻ em • Phòng quản lý lao động ­ tiền lương ­ tiền công:                                                                                                                   Trang         12
  13. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn Là một trong những phòng ban chuyên môn của sở, thực hiện công tác tham   mưu cho Ban Giám đốc Sở  về  các lĩnh vực chính sách lao động, việc làm, dạy   nghề, tiền lương, tiền công, bảo hiểm xã hội,v..v 2.2 Vài nét về điều kiện tự nhiện và kinh tế ­ xã hội tỉnh Bạc Liêu 2.1.1 Điều kiện tự nhiên: Bạc Liêu có địa hình tương đối bằng phẳng, chủ  yếu nằm  ở  độ  cao trên   dưới 1,2m so với mặt nước biển, còn lại là những giồng cát và một số  khu vực  trũng ngập nước quanh năm. Địa hình có xu hướng dốc từ bờ biển vào nội đồng,  từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Trên địa bàn tỉnh có nhiều kênh rạch lớn như kênh  Quản lộ Phụng Hiệp, kênh Cạnh Đền, kênh Phó Sinh, kênh Giá Rai. Bạc Liêu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt; mùa   mưa từ  tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ  tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Lượng   mưa trung bình hàng năm từ  2.000mm – 2.300mm. Nhiệt độ  trung bình 260c, cao  nhất 31,50c, thấp nhất 22,50c. Số  giờ  nắng trong năm 2.500 giờ  ­ 2.600 giờ. Độ  ẩm trung bình mùa khô 80%, mùa mưa 85%. Vùng này ít chịu ảnh hưởng của bão   và áp thấp nhiệt đới; không chịu  ảnh hưởng trực tiếp của lũ lụt hệ  thống sông   Cửu Long, nhưng lại chịu tác động mạnh của thủy triều Biển Đông và một phần  chế độ nhật triều Biển Tây. 2.1.2 Đặc điểm Kinh Tế ­ Xã hội  • Đặc điểm Kinh tế  Trong giai đoạn 2006 ­ 2010, kinh tế Bạc Liêu đã duy trì được tốc độ tăng   trưởng khá bình quân đạt 11,5% /năm (chỉ tiêu là 12%/năm) và chuyển dịch đúng  hướng, sản xuất kinh doanh trong các ngành, lĩnh vực tiếp tục phát triển; hệ  thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không ngừng được tăng cường, nhất là giao  thông, đô thị; văn hoá, xã hội được chăm lo và có nhiều chuyển biến tích cực, đời   sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện, thu nhập bình   quân đầu người đạt 1.130 USD khu vực đô thị, 1.047 USD khu vực nông thôn; Giá   trị  sản xuất nông nghiệp từ 6.055 tỷ đồng năm 2005, tăng lên 8.800 tỷ đồng năm                                                                                                                     Trang         13
  14. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn 2010, tốc độ  tăng trưởng của khu vực này tăng bình quân 8,67%/năm (chỉ  tiêu   4,8%/năm). Thu ngân sách trên điạ bàn tăng bình quân 7,3%/năm. Quốc phòng, an   ninh được tăng cường, chính trị­ xã hội ổn định, trật tự  an toàn xã hội được đảm  bảo; phát triển kinh tế­ xã hội Bạc Liêu nhanh, bền vững, Bạc Liêu có mức phát  triển đạt mức trung bình khá cuả  khu vực đồng bằng sông Cửu Long và nằm  trong ''tốp giữa'' của các tỉnh trong cả nước.  Để  quá trình phát triển Kinh tế  ­ Xã hội bền vững trong giai đoạn 2011 –  2015 cần tập trung cải tạo môi trường thu hút đầu tư  có trọng tâm trọng điểm   nhằm phát huy những tiềm năng thế mạnh của tỉnh trong nông nghiệp, thủy sản;   Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, dạy nghề;  phát triển sự  nghiệp văn hóa, thể  thao, y tế, thông tin, bảo đảm an sinh xã hội;   tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ  vững trật tự an toàn xã hội; Cải cách hành   chính; phát triển công nghiệp­dịch vụ; Phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa   gắn với xây dựng nông thôn mới; phát triển kết cấu hạ  tầng, đô thị; Nâng cao  chất lượng dạy nghề  và phát triển du lịch; Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống  tham nhũng, lãng phí, quan liêu, các loại tội phạm và tệ nạn xã hội.  ( VK Đại hội tỉnh Đảng bộ Bạc Liêu lần thứ XIV) III. CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH Dân số phân theo đơn vị hành chính năm 2010                                                                                                     Đơn vị tính: người Dân số năm 2010 Đơn vị Tổng số Thành thị Nông thôn 1. TP Bạc Liêu 150.848 112.376 38.472 2. Huyện Phước Long 119.301 20.004 99.297 3. Huyện Hồng Dân 106.564 11.788 94.776 4. Huyện Vĩnh Lợi 99.059 14.065 84.994 5. Huyện Hòa Bình 108.214 20.833 87.381 6. Huyện Giá Rai 138.357 36.077 102.280 7. Huyện Đông Hải 145.434 15.078 130.356 TỔNG CỘNG: 867.777 230.221 637.556 (Nguồn: Niên giám thống kê năm, 2010)                                                                                                                   Trang         14
  15. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn Toàn tỉnh có 64 xã, phường, thị trấn. Dân số năm 2010 trung bình là 123.968  người. Trong đó Thành phố  Bạc Liêu có dân số  đông nhất tỉnh (Chiếm 17,38%   tổng dân số toàn tỉnh), huyện Vĩnh Lợi có dân số thấp nhất (chiếm 11,41%  tổng   dân số toàn tỉnh). Tỷ lệ dân số thành thị trung bình của toàn tỉnh chiếm 26,53%.  Tỉnh Bạc Liêu là một tỉnh nhỏ vừa mới tách tỉnh năm 1997 nên còn nghèo.  Trước đó chung một tỉnh là tỉnh Minh Hải nay là tỉnh Cà Mau nên tỉnh Bạc Liêu   cũng chưa thu hút vốn đầu tư  nước ngoài vào nhiều. Thế  mạnh của tỉnh hiện   nay là nông nghiệp, ngư  nghiệp, công nghiệp và thương mại dịch vụ. Có một  số Doanh nghiệp và các Công ty chế biến Thủy hải sản, và Xuất khẩu gạo là   chủ yếu.  Hoạt động du lịch của tỉnh cũng phát triển mạnh, lượng khách du lịch từ  các tỉnh khác đến và cũng có khách du lịch nước ngoài tham quan ngày càng  đông đảo. Bạc Liêu cũng có nhiều chổ tham quan như: Nhà Công Tử Bạc Liêu;  Chùa bà Nam Hải; Vườn chim Bạc Liêu, và Bạc Liêu lại có biển. Năm 2010 Sở  Văn hóa – Thể thao và Du lịch báo cáo có khoảng 1.256 lượt khách tham quan. Bạc Liêu có khoảng hơn 90 xí nghiệp lớn, nhỏ  chế  biến tôm động lạnh   để  xuất khẩu sang nước ngoài. Hàng năm các doanh ngiệp này mang lại cho   tỉnh Bạc Liêu hàng trăm tỷ đồng. Còn về ngành nông nghiệp Bạc Liêu có trữ lượng gạo cũng khá lớn, hàng  năm Bạc Liêu xuất khẩu gạo hàng nghìn tấn. Trong tương lai Bạc Liêu tiếp tục phát triển các ngành kinh tế chủ lực để  tạo điều kiện cho kinh tế của tỉnh tăng trưởng mạnh mẽ  trong công cuộc phát  triển kinh tế  ­ xã hội  ở  địa bàn Nam Bộ  và cả  nước theo chiến lược công  nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo như chủ trương của Nhà nước ta. •  Đặc điểm Xã Hội                                                                                                                   Trang         15
  16. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn Theo số liệu thống kê  dân số  năm 2010  tỉnh Bạc Liêu 867.777 người. Trong đó: Trong độ tuổi lao động 585.882 người ( chiếm tỷ lệ 67,51% dân   số). ­ Khu vực thành thị:  175.764 người ( chiếm tỷ lệ 20,25% dân số) ­ Khu vực nông thôn: 410.118 người ( chiếm 47,26% dân số) Về  dân tộc, trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu có nhiều dân tộc cùng cư  trú. Trong đó,  người Kinh chiếm 89,98% dân số, người Hoa chiếm 2,33%, người Khmer chiếm 7,66%,   còn lại là các dân tộc khác. (Số liệu thống kê năm 2010). 2.1.2 Tình hình thị trường lao động tại tỉnh Bạc Liêu Lao động trong độ tuổi tham gia hoạt động kinh tế có cơ cấu lao động như  sau: ­ Lao động khu vực thành thị: 138.951 người ( chiếm 23,71% số  người  trong độ tuổi lao động) ­ Lao động khu vực nông thôn: 324.219 người ( chiếm tỷ  lệ  55,35% số  người trong độ tuổi lao động) ­   Số   người   không   tham   gia   hoạt   động   kinh   tế:   122.712   người   (chiếm   20,94%  số người trong độ tuổi lao động) Xét theo độ tuổi, Bạc Liêu là tỉnh có dân số trẻ. Năm 2010, số người trong   độ tuổi dưới 15 chiếm 27,18%, từ 15 ­ 59 tuổi chiếm 67,51%, từ 60 tuổi trở lên   chiếm 5,31%. So với khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, Bạc Liêu có tỷ  lệ  người dưới và trong độ  tuổi lao động cao hơn, tỷ lệ người trên độ  tuổi lao động  thấp hơn. So với mức trung bình của cả  nước, Bạc Liêu có tỷ  lệ  người dưới và  trên độ tuổi lao động cao hơn, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động thấp hơn. Số lao động chia theo từng nhóm ­ Công nghiệp và xây dựng: 40.944 người ( chiếm 8,83% tỷ lệ lao động); ­ Nông, lâm, ngư nghiệp: 306.109 người ( chiếm 66,08% tỷ lệ lao động); ­ Dịch vụ: 116.117 người ( chiếm 25,09% tỷ lệ lao động)                                                                                                                    Trang         16
  17. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn Mặt khác, Bạc Liêu là tỉnh nông nghiệp, đa số  lao động quen làm việc tự  do, chưa có tác phong sản xuất công nghiệp, ý thức chấp hành luật pháp, kỷ luật  lao động thấp. Không có ngoại ngữ, thiếu khả  năng cạnh tranh trong thị  trường   lao động xã hội và phân công lao động khu vực. Vì thế còn rất nhiều lao động ở  đô thị còn chưa có việc làm và một lượng lớn phụ nữ không có nghề nghiệp thiếu  cơ hội tìm việc làm chuyên lo nội trợ.  Hàng năm tỉnh Bạc Liêu bố  trí việc làm cho người lao động trên 15.719  người, trong đó gần 1.000 người là sinh viên, học sinh tốt nghiệp các chương   trình đào tạo nghề, nhiều người lao động rất khó khăn trong việc tìm kiếm cho   mình một công việc thích hợp với thu nhập  ổn định. Trung bình, hằng năm thành  phố chỉ giải quyết việc làm cho trên dưới 25.000 lao động. Giải quyết việc làm  cho người lao động là một vấn đề cấp bách của chính quyền tỉnh Bạc Liêu, đặc   biệt là trong giai đoạn hiện nay khi nền Kinh tế đang gặp phải nhiều biến động.  Theo Trung tâm Gới thiệu việc làm tỉnh Bạc Liêu (thuộc Sở  Lao động thương  binh – Xã hội tỉnh Bạc Liêu), trong giai đoạn các năm 2006 đến 2010, bình quân   mỗi năm trên địa bàn tỉnh sẽ  thu hút lao động cho 35.000 chỗ làm việc, trong đó   15.000 chỗ làm việc mới.  Bên cạnh đó, trong giai đoạn hiện nay nền Kinh tế của nước ta cũng đang  chịu nhiều  ảnh hưởng tiêu cực từ  sự khủng hoảng kinh tế  thế giới, dẫn đến số  lượng   lao  động   bị   thất   nghiệp  ngày   càng  gia   tăng  .Tính   đến   thời   điểm   ngày  01/4/2010 lao động từ  15 tuổi trở lên có khả  năng lao động thất nghiệp và thiếu  việc làm là: 23.707 người; Trong đó: ­ Số người thất nghiệp ở thành thị là: 5.835 người; ­ Số người thiếu việc làm ở nông thôn là: 17.872 người. Nhìn chung Bạc Liêu có đội ngũ lao động khá đông, đa số trẻ khỏe, có thể  lực tốt nhưng chất lượng lao động thấp.   Nguyên nhân người lao động bị  thiếu việc và mất việc là do các doanh   nghiệp giải thể, phá sản, chủ  doanh nghiệp bỏ  trốn, doanh nghiệp sắp xếp lại                                                                                                                     Trang         17
  18. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn sản xuất, thu hẹp sản xuất, ngưng và tạm ngưng hoạt động…Như  vậy có thể  thấy cầu việc làm tại tỉnh Bạc Liêu ngày càng gia tăng về số lượng, nhu cầu việc   làm cho người dân lao động đang trở nên cấp thiết. Đó đang trở thành nhiệm vụ  quan trọng hàng đầu đối với chính quyền thành phố giai đoạn hiện nay. Do vậy,   Xuất khẩu Lao động, hiện nay được coi là một trong những giải pháp tốt nhất   nhằm giải quyết việc làm nâng cao thu nhập cho người dân, đó là một trong  những chủ trương lớn của Đảng và Nhà Nước ta trong những năm gần đây. 2.2 Thực trạng hoạt động XKLĐ  tại tỉnh Bạc Liêu  giai đoạn 2006 ­ 2010 2.2.1 Qui trình tuyển dụng LĐXK ở tỉnh Bạc Liêu Theo Nghị  định số  152/1999/CP­NĐ ngày 20/9/1999 quy định việc người  lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài và Thông   tư  số  28/1999/TT­BLĐTBXH ngày 15/11/1999 hướng dẫn Nghị   định 152, quy  trình, thủ tục xuất khẩu lao động được quy định như sau:  •  Đơn vị đưa lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài Đơn vị  đưa người lao động Việt Nam đi làm việc  ở  nước ngoài phải là  doanh nghiệp được cấp phép hoạt động chuyên doanh xuất khẩu lao động. Đó là   doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp nhà nước chuyển sang công ty cổ  phần   theo Nghị định số 44/1998/NĐ­CP ngày 29/6/1998 mà Nhà nước giữ cổ  phần chi   phối, cổ phần đặc biệt; doanh nghiệp thuộc các đoàn thể trung ương có các điều  kiện do pháp luật quy định. •  Đăng ký hợp đồng Doanh nghiệp được phép hoạt động chuyên doanh đưa lao động đi làm việc  ở nước ngoài có hợp đồng cung ứng lao động, hợp đồng nhận thầu, khoán xây  dựng công trình, liên doanh, liên kết chia sản phẩm ở nước ngoài tiến hành đăng  ký hợp đồng tại Cục Quản lý lao động với nước ngoài. Hồ sơ đăng ký hợp đồng gồm:                                                                                                                   Trang         18
  19. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn ­ Một bản đăng ký hợp đồng. ­ Một bản sao hợp đồng và bản sao các văn bản liên quan tới việc tiếp nhận lao  động của nước nhận lao động (có xác nhận của thủ trưởng doanh nghiệp). ­ Báo cáo thực hiện hợp đồng lần trước (nếu có). ­ Doanh nghiệp không có giấy phép hoạt động chuyên doanh cần phải có văn bản  chứng minh khả năng tài chính tại thời điểm đăng ký hợp đồng. ­ Doanh nghiệp nhận thầu khoán công trình, hợp đồng liên doanh liên kết ở nước  ngoài phải nộp bản sao hợp đồng có ý kiến xác nhận của thứ trưởng bộ, ngành,  chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Sau 3 ngày đối với doanh nghiệp có giấy phép hoạt động chuyên doanh và 7 ngày  (trừ ngày lễ và ngày nghỉ hàng tuần) đối với doanh nghiệp không chuyên doanh  kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng ký hợp đồng của doanh nghiệp, nếu không có  thông báo của Cục Quản lý lao động với nước ngoài thì doanh nghiệp được phép  tổ chức tuyển chọn và làm các thủ tục cho người lao động đi làm việc ở nước  ngoài. Riêng đối với các thị trường mới và các thị trường chưa có cơ quan đại diện của  Việt Nam, các doanh nghiệp phải báo cáo với Cục Quản lý lao động với nước  ngoài về hợp đồng đã ký kết trước khi làm thủ tục đăng ký hợp đồng ít nhất 5  ngày. •  Tuyển chọn lao động Trước khi tuyển chọn lao động, doanh nghiệp phải thông báo công khai tại  trụ  sở  và địa bàn tuyển chọn các yêu cầu về  giới tính, tuổi đời, công việc mà   người lao động sẽ đảm nhiệm, nơi làm việc và thời hạn của hợp đồng, điều kiện  làm việc và sinh hoạt, tiền lương, tiền công, các khoản và mức phí đóng góp,   quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động.                                                                                                                   Trang         19
  20. GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn Doanh nghiệp trực tiếp tuyển chọn lao động. Chậm nhất sau 5 ngày kể từ  ngày người lao động dự  tuyển, doanh nghiệp phải thông báo kết quả  công khai   cho người lao động. Sau 6 tháng kể từ ngày trúng tuyển, doanh nghiệp chưa đưa người lao động  đi được thì phải thông báo rõ lý do cho người lao động biết. Doanh nghiệp ký hợp đồng với bệnh viện do ngành y tế quy định để khám sức  khỏe cho người lao động. Doanh nghiệp chỉ được tuyển chọn những người có đủ  sức khỏe theo kết luận của bệnh viện. •  Đào tạo và giáo dục  định hướng Doanh nghiệp có trách nhiệm tổ  chức các khóa đào tạo và giáo dục định  hướng tại các trường, trung tâm dạy nghề, bao gồm: học ngoại ngữ, giáo dục  định hướng (gồm kiến thức pháp luật về  lao động, hình sự, dân sự, xuất nhập   cảnh và cư trú của Việt Nam và nước tiếp nhận lao động, nghĩa vụ chấp hành và   tuân thủ  pháp luật, phong tục tập quán, điều kiện làm việc, quan hệ  cư  xử...),   kiểm tra và cấp chứng chỉ cho người lao động. •  Công tác quản lý Doanh nghiệp ký hợp đồng với người lao động và chịu trách nhiệm quản lý   hồ   sơ   của   người   lao   động;   quản   lý   sổ   lao   động,   sổ   bảo   hiểm   xã   hội... Doanh nghiệp phải báo cáo về đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài định kỳ  3   tháng, 6 tháng, hàng năm vào trước ngày 15 của tháng cuối, gửi Cục Quản lý lao  động với nước ngoài. Như  vậy , quy trình tuyển dụng và thủ  tục đưa người lao động ra nước  ngoài làm việc ở  tỉnh Bạc Liêu được thực hiện dựa trên những Nghị  định, thông  tư  do Nhà Nước ban hành, và việc quản lý, hướng dẫn thực hiện đúng các quy                                                                                                                    Trang         20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2