
Công thức món ăn chữa thông nhũ bổ huyết
Chân giò lợn giàu dinh dưỡng, có protein, chất béo, gelatin, carbohydrat;
ngoài ra còn có Ca, P, Fe… Theo Đông y, chân giò vị mặn, tính bình;
vào vị. Có tác dụng bổ huyết, thông nhũ, sinh cơ liền sẹo. Dùng cho các
trường hợp huyết hư suy nhược, sản phụ ít sữa, mụn nhọt lở ngứa. Hằng
ngày có thể dùng 1 hoặc 2 cái bằng cách nấu, hầm… Sau đây là một số
món ăn – bài thuốc có chân giò lợn:
Sản phụ sau đẻ bị tắc sữa, ít sữa: móng giò 2 cái, mộc thông 20g. Mộc
thông nấu lấy nước (bỏ bã) nấu với chân giò, nấu thành canh, thêm gia
vị, ăn ngày 1 lần.
Hoặc: móng giò 1 cái, gạo tẻ 100g. Nấu thành cháo, thêm muối gia vị.
Hoặc: lạc hạt 90g, chân giò 1 cái. Lạc hạt đập nghiền vụn, chân giò làm
sạch chặt khúc, thêm gia vị hầm nhừ.
Hoặc: chân giò 1 cái, vừng đen 250g. Vừng đen rang chín, tán mịn để
sẵn. Mỗi lần ăn 10 – 15g, ăn kèm với canh chân giò hầm, ngày 3 lần.
Thiếu máu, giảm bạch cầu và tiểu cầu: móng giò 2 cái, lạc nhân 50g, đại
táo 10 quả, thêm gia vị hầm nhừ ăn ngày 1 lần.
Trường hợp thận hư liệt dương, sản phụ ít sữa tắc sữa: chân giò 1 cái,
tôm 100 – 150g. Chân giò làm sạch chặt miếng; tôm bóc vỏ, cho rượu
đun nhỏ lửa cho chín; thêm gia vị (có thể thêm khoai tây, cà rốt…); hầm
chín nhừ, ăn trong ngày. Dùng cho sản phụ ít sữa, nam giới liệt dương.

Ngoài ra móng giò còn dùng chữa một số bệnh:
Chảy máu cam, đại tiểu tiện xuất huyết: móng giò 2 cái, tây thảo 30g,
hoè hoa 30g, đại táo 10 trái. Hòe hoa, tây thảo gói trong vải xô, cùng
hầm chín nhừ, bỏ bã thuốc, thêm gia vị.
Chữa huyết hư đau nhức chân tay, phù nề lở ngứa: móng giò 2 cái, hành
sống 50g. Móng giò rửa sạch chặt lát, cho hành, muối, nước đun nhỏ lửa
cho chín nhừ, thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.
Tỳ vị hư, ăn kém, gầy sút, lao phổi, ho khan, họng khô, khát nước:
hoàng tinh 12g, đảng sâm 12g, đại táo 5 quả, gừng tươi 15g, nóng giò
750g. Chân giò được làm sạch, nướng qua trên bếp than, chặt lát; hoàng
tinh, đảng sâm được gói trong vải xô. Tất cả cho vào nồi, đổ nước hầm
cho chín nhừ. Bỏ bã thuốc, ăn trong ngày.
Vừng tên khác là mè, chi ma, hắc chi ma, hồ ma, dầu ma, kén ma nga
(Thái)... Tên khoa học: Sesamum indicum DC. Hạt được dùng làm
thuốc. Có 2 loại hạt có màu đen và màu trắng ngà, y học phương đông
ưa loại vừng đen (tên thuốc hắc chi ma) hơn. Ngoài ra vừng được dùng
để ép dầu. Dầu vừng có giá trị dinh dưỡng cao.

Theo Đông y, vừng vị ngọt tính bình đi vào can, phế, tỳ, thận. Tác dụng
tư bổ can thận, bổ huyết minh mục, khu phong nhuận tràng, thông nhũ,
sinh tân dưỡng phát. Dùng cho các trường hợp suy nhược cơ thể, râu tóc
bạc sớm, da xanh thiếu máu, đau đầu hoa mắt chóng mặt, ù tai, điếc tai,
tăng huyết áp, ít sữa, táo bón, huyết niệu, trĩ, kiết lỵ.
Liều dùng cách dùng: nấu, hầm, rang xay hay phối hợp các vị thuốc
khác.
Kiêng kỵ: Không dùng cho người đang bị tiêu chảy.
Một số thực đơn thuốc từ vừng

