
Afghan Hound - Vẻ Đẹp Kiêu Sa
AFGHAN HOUND
NGUỒN GỐC : Afghanistan.
ĐĂNG KÝ BỞI : Vương quốc Anh (Great Britain.)
PHÂN LOẠI CỦA F.C.I. :
Nhóm 10 Chó săn đuổi.
Phân nhóm 1 Chó săn đuổi lông dài và có bờm cổ
Giống chó săn không làm việc.
HÌNH DÁNG CHUNG : Tạo một ấn tượng mạnh về sức mạnh, sự dẻo dai và vẻ
đường bệ, kết hợp với tốc độ và sức mạnh. Đầu ngẩng cao, kiêu hãnh.
TÍNH CÁCH : Biểu lộ vẻ trầm ngâm như những nhà hiền triết Phương Đông là
một đặc trưng của loài chó này. Giống chó này nhìn như lướt qua mọi thứ. Đường
bệ và tách biệt, đồng thời có một vẻ sắc sảo, mạnh mẽ.
ĐẦU :
KHU VỰC SỌ :
Sọ : Dài, nhưng không quá hẹp, có xương chẩm lồi. Nhìn đầu cân đối với chóp sọ
với dài như kiểu thắt nơ.
Điểm tiếp giáp giữa mặt và sống mũi : Lượn cong nhẹ.

KHU VỰC MẶT :
Mũi : Thường có màu đen, màu nâu đỏ thẫm được chấp nhận với những con chó
có màu sáng nhạt.
Sống mũi : Dài, với hàm dẹp sát vào sống mũi.
Hàm/Răng : Hàm khoẻ, với bộ răng hoàn chỉnh, đầy đủ, phát triển tốt và đan chéo
nhau như lưỡi kéo (scissor bite), cụ thể: răng hàm trên phủ lên răng hàm dưới, và
răng mọc vuông góc với hàm. Mức độ cắn mạnh vừa phải.
Mắt : Màu mắt tối được ưa chuộng hơn, nhưng màu mắt vàng cũng vẫn được chấp
nhận. Mắt gần như có hình tam giác, mi mắt trên hơi xếch lên trên.
Tai : Buông thõng và hướng ra phía sau, tai sát vào đầu và được bao phủ bằng lớp
lông rất dài và mượt.
CỔ : Cổ dài, mạnh mẽ, đầu ngẩng cao kiêu hãnh.
THÂN MÌNH :
Lưng : Thẳng, dài vừa phải và rất chắc chắn, mạnh mẽ.
Hông : Thẳng, rộng và hơi ngắn.
Mông : Hơi thấp so với đuôi, Xương chậu nhô ra và mở rộng.
Ngực : Xương sường cong vừa phải và rất sâu.
ĐUÔI : không quá ngắn. Đuôi buông thõng và cong nhẹ ở đầu. Đuôi vểnh lên khi
hoạt động. Lông đuôi thưa thớt
TỨ CHI
CHÂN TRƯỚC : Chân trước thẳng, xương phát triển to, xương chân thẳng với
xương vai nếu nhìn từ phía trước.
Vai : Vai dài và dốc, chéo về phía sau, rất lực lưỡng và mạnh mẽ nhưng vẫn nhẹ
nhàng, không nặng nề.

Chân trước : Chân trước dài và dốc
Khuỷu chân : Thẳng đứng sau vai. Sát với lồng ngực, thẳng, không chĩa vào trong
cũng không chĩa ra ngoài.
Cổ chân : Dài và đàn hồi, tạo ra bước đi như đang nhún nhẩy.
CHÂN SAU : Mạnh mẽ. Đoạn từ xương chậu đến kheo rất dài nếu so sánh với
khoảng cách từ kheo chân đến bàn chân.
Khuỷu chân sau : Rất cong và uyển chuyển
Huyền đề : Thường bị loại bỏ nếu có.
BÀN CHÂN : Bàn chân trước mạnh mẽ và rất to, cả về chiều dài và độ rộng, có
lông dài và dày bao phủ. Ngón chân cong. Đệm chân xếp bằng phẳng trên mặt đất.
Bàn chân sau dài nhưng không rộng như bàn chân trước, cũng có lông dài và dày
bao phủ.
CHUYỂN ĐỘNG : Nhẹ nhàng, nhún nhảy với kiểu dáng rất điệu.
DA VÀ LÔNG
LÔNG : Dài và rất phủ xuống hết lồng ngực, chân trước, chân sau và sườn, hông.
Chó trưởng thành có lông ngắn hơn ở phía sau vai và dọc trên lưngI. Lông dài từ
trán ra phía sau, với kiểu thắt nơ rất dễ nhận thấy. Phía trước mặt lông ngắn. tai và
chân được lông phủ đều, dài. Cổ chân có thể trọc. Lông cần phải để phát triển tự
nhiên.

MÀU SẮC : Tất cả các màu đều được chấp nhận.
KÍCH THƯỚC : Chiều cao tiêu chuẩn : chó đực 68-74 cm (27-29 ins); chó cái 63-
69 cm (25-27 ins).
LỖI : Bất cứ điểm khác biệt nào so với các điểm nêu trên đều được coi là lỗi và
mức độ nặng nhẹ của lỗi phụ thuộc vào từng vị trí, đặc điểm cụ thể, cũng như sức
khoẻ và dáng vẻ của con chó.
Tất cả những con chó có dấu hiệu không bình thường về thể chất và tính tình đều
bị loại bỏ.
Akita Inu - quốc khuyển của Nhật bản
Tên gọi Akita Inu, Akita Nhật.
Nguồn gốc
Có nguồn gốc từ đảo Honshu vùng Akita, Nhật bản, nơi mọi thứ còn
được giữ lại gần như nguyên vẹn qua hàng thế kỷ. Ngày nay Akita được

coi là giống chó chính thức - "quốc khuyển" của Nhật. Giống chó được sử
dụng vào nhiều mục đích, đầu tiên như là bảo vệ cho Nhật hoàng, sau đó
như chó chiến đấu, chó săn gấu và lợn lòi, dùng trong quân đội, cảnh
sát. Akita có bản năng của loài săn bắt và có thể phát huy ngay cả khi
tuyết phủ dày. Chúng có mõm mềm nên có thể dễ dàng săn những loài chim
nước. Ở Nhật, tựong chó Akita thường được gửi tới cho những người bệnh
để chúc cho họ chóng bình phục, hoặc bố mẹ trẻ mới sinh con để tượng
trưng cho sức khỏe. Con Akita đầu tiên được mang tới Mỹ bởi Helen
Keller. Người Mỹ cũng mang Akita trở về sau Đại chiến thế giới lần thứ
2.
Mô tả Đây là loài chó lớn nhất của Nhật bản trong nhóm Spitz. Chúng có
thân hình chắc nịch, cân đối, gân guốc, mạnh mẽ và trông rất ấn tượng.
Đầu to, trán phẳng và bộ hàm ngắn nhưng cực khoẻ. Mặt có hình tam giác
theo kiểu chó sói. Giữa trán có một rãnh chia đôi mặt thành hai nửa
bằng nhau. Mắt nhỏ, hình tam giác có màu nâu sẫm. Mũi thông thường có
màu đen (có thể có màu nâu trên các cá thể có màu lông trắng, nhưng màu
đen được đánh giá cao hơn). Môi đen và lưỡi có màu hồng. Răng sắc khoẻ,
theo hình răng cưa. Đuôi luôn vểnh cao và cuộn tròn ở trên lưng. Chân
của chúng có màng, giống kiểu chân mèo, vì thế nên bơi rất giỏi. Bộ
lông có 2 lớp bao gồm lớp lông cứng, không thấm nước ở phía ngoài và
lớp lông dày mềm bên trong. Có các màu trắng tuyền, đỏ, màu hạt vừng và
vằn vện. Màu đen không được chấp nhận.

