intTypePromotion=1

Đề tài: Cải cách cơ chế kinh tế và thay đổi mô hình kinh tế

Chia sẻ: Nguyenthi Tramy | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:58

0
63
lượt xem
15
download

Đề tài: Cải cách cơ chế kinh tế và thay đổi mô hình kinh tế

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Với kết cấu nội dung gồm 3 chương, đề tài "Cải cách cơ chế kinh tế và thay đổi mô hình kinh tế" giới thiệu đến các bạn những nội dung tổng quan về cơ chế kinh tế và mô hình kinh tế, cải cách cơ chế kinh tế và thay đổi mô hình kinh tế của Việt Nam trong quá trình đổi mới, đánh giá về quá trình đổi mới ở Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo để có thêm tài liệu phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Cải cách cơ chế kinh tế và thay đổi mô hình kinh tế

  1. CẢI CÁCH CƠ CHẾ KINH TẾ  VÀ THAY ĐỔI MÔ HÌNH KINH TẾ 1
  2. MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT STT Chữ viết Chữ viết đầy đủ Ý nghĩa tắt 1 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài 2 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội 3 NIEs The Newly Industrialized Các nền kinh tế công nghiệp hóa mới Economies 4 NICs Newly Industrialized Country Các nước công nghiệp mới ở Đông Á 5 USD United States dollar Đô la Mỹ - đơn vị tiền tệ của nước Mỹ 6 XHCN Xã hội chủ nghĩa Xã hội chủ nghĩa 7 WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới 2
  3. DANH MỤC BẢNG STT Số hiệu Nội dung Trang 1 Bảng 2.1 Bảng 2.1: Tăng trưởng GDP và đóng góp vào tăng trưởng 41 GDP theo ngành, 2001-2005 2 Bảng 2.2 Bảng 2.2: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế, 2001-20055 (%) 42 3 Bảng 2.3 Cơ cấu và tốc độ tăng trưởng theo thành phần kinh tế, 2001- 43 2005 (%) 4 Bảng 2.4 Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội, 2001-2005 (%) 44 3
  4. LỜI MỞ ĐẦU Trong thời buổi hội nhập, mỗi quốc gia đều cố gắng thể hiện vị thế của  mình trên trường quốc tế. Từ các nước phát triển bậc nhất đến các nước đang  phát triển đều phải cải cách từng ngày cho phù hợp với các thông lệ quốc tế và   sự vận động của toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy công cuộc đổi mới là điều tất yếu  cần phải được thực hiện nhanh chóng và kịp thời đối với tất cả  các quốc gia,   trong đó có Việt Nam. Đổi mới về  nhiều mặt như: kinh tế, chính trị, văn hóa,  tôn giáo,… nhưng quan trọng hơn cả  là sự  đổi mới về  kinh tế, bởi kinh tế  là  nền tảng trụ cột để phát triển một đất nước. Trong lĩnh vực quan trọng này, các  quốc gia cần cải cách về  chế  độ  quản lý của nhà nước các luật lệ  chung để  thích ứng với nhu cầu hội nhâp vào nền kinh tế thế giới. Do vậy điều kiện tiền  đề cho việc ổn định nền kinh tế vĩ mô, đảm bảo mức tăng trưởng kinh tế trong   dài hạn, giảm kích thước khu vực công,... là đổi mới tư duy và thể chế  quản lý  nhà nước, thành phần kinh tế, cách thức quản lý các bộ  phận kinh tế, quan hệ  kinh tế quốc tế, các hoạt động và giao dịch trong nền kinh tế,… Toàn bộ những   thay đổi đó tạo ra một mô hình kinh tế mới cho một quốc gia trong quá trình đổi   mới nền kinh tế.  Bởi vậy mà nhóm nghiên cứu chọn đề  tài “Cải cách cơ  chế  kinh tế  và  thay đổi mô hình kinh tế” để nêu rõ một số những khái niệm về cải cách cơ chế  và thay đổi mô hình kinh tế, đồng thời phân tích và đánh giá quá trình cải cách cơ  chế  kinh tế  và thay đổi mô hình kinh tế   ở  Việt nam, từ đó đúc kết những kinh   nghiệm và bài học quý giá cho Việt Nam làm hành trang vững chắc bước đi trên  con đường đổi mới tương lai. 4
  5. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ KINH TẾ VÀ MÔ HÌNH  KINH TẾ 1.1. Lý luận chung về cải cách cơ chế kinh tế 1.1.1. Khái niệm cơ chế kinh tế     Cơ chế  kinh tế được hình thành từ  lâu và khái niệm về cơ chế  đã được  nêu lên một cách sơ lược trong các tác phẩm của các nhà kinh tế học cổ điển thế  kỷ XVIII­XIX như A.Smith, S.Mill, A. Wagner… Quan niệm về cơ ch ế có thể xét   trên hai phương diện từ điển học và phương diện khoa học để tìm ra điểm chung.         Trên   phương   diện   từ   điển   học,   từ   "cơ   chế"   là   chuyển   ngữ   của   từ mécanisme của phương Tây. Theo từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa  "mécanisme" là "cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố  phụ  thuộc vào  nhau". Từ  điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ  học biên soạn và xuất bản năm   2000 thì “cơ  chế  là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện”. Từ  "cơ  chế" được dùng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý từ khoảng cuối những năm 1970,  khi chúng ta bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh tế, với   nghĩa như là những qui định về quản lý. Tương tự như vậy, các tác giả của cuốn   Đại từ  điển Tiếng Việt cho rằng cơ  chế  là cách thức sắp xếp tổ  chức để  làm  đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện. Về phương diện khoa học, nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến khái   niệm "cơ  chế”. Trong cuốn “Sổ  tay về  phát triển, thương mại và WTO” (Nxb   Chính trị quốc gia năm 2004), các nhà khoa học cho rằng “cơ chế là một phương  thức, một hệ thống các yếu tố làm cơ sở, đường hướng cho sự vận động của một   sự vật hay hiện tượng”. Một quan điểm cụ thể hơn về cơ chế được đề  cập trong  cuốn “Các nước đang phát triển với cơ  chế  giải quyết tranh chấp” của Tổ chức   thương mại thế  giới – WTO (Nxb Lao động xã hội năm 2006). Theo các tác giả  5
  6. của cuốn sách này thì nói đến cơ  chế  bao giờ  cũng gồm hai mặt:  bên ngoài (thể  hiện ở cách thức tổ chức nên nó) và bên trong (sự tổ chức và hoạt động ngay trong  nội tại của sự vật, hiện tượng). Nói cách khác, cơ chế  là hệ  thống các mối quan   hệ hữu cơ, liên quan đến cách thức tổ  chức, hoạt động, cách thức tồn tại và phát   triển của sự vật, hiện tượng. Cơ chế là một quá trình, một hệ  thống, là tổng thể  các yếu tố tạo nên sự hoạt động của sự vật, hiện tượng. Như  vậy, về  phương diện từ điển học và phương diện khoa học, dù cách  tiếp cận của các nhà khoa học không hoàn toàn giống nhau, nhưng có thể  nhận  thấy các quan điểm này đều chỉ ra hai yếu tố cơ bản tạo thành cơ chế. Đó là: yếu  tố tổ  chức (cơ cấu) và yếu tố hoạt động (vận hành). Yếu tố tổ chức đề  cập đến  các thành viên (chủ  thể) tham gia, cách thức hình thành tổ  chức (cơ cấu) và cách   thức tổ chức hệ thống nội tại. Yếu tố hoạt động thể  hiện mối quan hệ  tác động  qua lại giữa các thành viên (sự phân công và hợp tác giữa các thành viên) trong quá   trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ của tổ chức; nguyên tắc vận hành của cơ  chế và nội dung hoạt động của nó. Từ những ý kiến trên rút ra điểm chung nhất về khái niệm cơ chế. Cơ chế  là khái niệm chỉ  sự  diễn biến của quá trình vận hành nội tại của một hệ  thống,  trong đó có sự tương tác giữa các bộ phận, các yếu tố cấu thành nên một hệ thống   trong quá trình vận động của mỗi bộ phận, mỗi yếu tố đó, nhờ đó hệ thống có thể  vận động, phát triển theo mục đích đã định. Vậy cơ  chế  kinh tế  là gì? Cơ  chế  kinh tế  là toàn bộ  hệ  thống những tác  động có ý thức và có tổ chức của con người đến kinh tế vĩ mô và vi mô, phản ánh   đúng các quy luật kinh tế  khách quan, bảo đảm cho nền kinh tế  vận hành theo  định hướng mục tiêu đã xác định. Cơ chế  kinh tế mang tính khách quan và có vai  trò quan trọng trong việc nhận thức, phản ánh và vận dụng quy luật khách quan. 6
  7. 1.1.2. Phân loại cơ chế kinh tế Các cơ chế kinh tế gồm cơ chế kinh tế thị trường, cơ chế kinh tế kế ho ạch   hóa tập trung và cơ chế kinh tế hỗn hợp. Cơ chế quản lý kinh tế có thể được xem  xét ở nhiều góc độ  khác nhau: trong hệ  thống kinh tế vĩ mô tồn tại khái niệm cơ  chế  thị  trường và cơ  chế  kế  hoạch tập trung, cơ  chế  điều tiết vĩ mô; tầm vi mô  tồn tại cơ chế tự điều tiết…  Đa số các quốc gia trên thế  giới ngày nay đều thực   hiện cơ  chế  kinh tế  thị  trường. Tuy nhiên cơ  chế  kinh tế  thị  trường cũng được   phân thành hai nhánh nhỏ hơn là cơ chế kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cơ  chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung gồm các cơ quan, tổ chức với hệ  thống các quy tắc, quy chế được sử dụng để điều chỉnh sự vận động của  nền kinh tế mà trong đó nhà nước quản lí nền kinh tế bằng mệnh lệnh  hành chính dựa trên hệ thống áp đặt chỉ tiêu mệnh lệnh từ trên xuống  dưới. Cơ chế kinh tế thị trường là một tổng thể bao gồm các bộ quy tắc, luật lệ  đối với các thực thể, tổ chức kinh tế, được tạo lập nhằm điều chỉnh hoạt  động giao dịch, trao đổi trên thị trường. Các hoạt động kinh tế ở đây tuân  theo quy luật cung cầu, chịu sự quản lý của nhà nước nhưng ở mức độ  vừa phải. Cơ chế kinh tế thị trường bao gồm cơ chế kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa  và cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. (Trình bày trong bảng  1.1) 7
  8. Bảng 1.1: Cơ  chế  kinh tế thị trường tư bản chủ  nghĩa và cơ  chế  kinh tế  thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ chế kinh tế thị trường Cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN TBCN Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển tạo ra sự cạnh trạnh gắt gao giữa các nhà sản xuất. Người tiêu dùng được thỏa mãn nhu cầu cũng như được đáp ứng đầy đủ các chủng loại dịch vụ. Giống nhau Phân công lao động ngày càng xã hội hóa cao. Mở rộng quan hệ nhiều loại thị trường từ thị trường địa phương, thị trường khu vực và dân tộc, thị trường quốc tế. Tạo xu thế liên doanh, liên kết đẩy mạnh giao lưu kinh tế, các nước đang phát triển có cơ hội được tiếp xúc chuyển giao công nghệ sản xuất, chuyển giao công nghệ quản lí từ các nước phát triển để thúc đẩy công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế nước nhà. Kinh tế thị trường góp phần thúc đẩy giao lưu giữa các nước dưới sự thể hiện qua các sản phẩm, dịch vụ mang bản sắc của từng dân tộc, từng địa phương, từng quốc gia. Trong hệ thống quy phạm Trong hệ thống quy phạm pháp luật trong đó nhà Khác nhau pháp luật vai trò kinh tế nước quản lí nền kinh tế để định hướng, dẫn dắt các của nhà nước bị giảm sút thành phần kinh tế, tạo điều kiện và môi trường chịu sức ép mạnh mẽ từ thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị các thành phần kinh tế trường, xử lí và kiểm soát các vi phạm trong hoạt khác. động kinh tế, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế và xã hội. Cơ chế kinh tế hỗn hợp là cơ chế kinh tế trong đó khu vực nhà nước và khu vực tư nhân tương tác với nhau trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản của nền kinh tế. Chính phủ kiểm soát một phần đáng kể của sản lượng thông qua việc đánh thuế, thanh toán chuyển giao cung cấp các hàng hóa và dịch vụ như lực lượng vũ trang, cảnh sát. Chính phủ cũng điều tiết mức độ theo đuổi lợi ích cá nhân. 8
  9. Trong cơ chế hỗn hợp, Chính phủ cũng có thể đóng vai trò là nhà sản xuất  các hàng hóa tư nhân thông qua các doanh nghiệp có vốn chi phối của nhà nước. 1.1.3. Tính tất yếu của cải cách cơ chế kinh tế  “Cải cách” là là một biện pháp được thực hiện để giải quyết những đòi hỏi  của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, ch ương trình cụ thể và yêu cầu phải hoàn tất   trong một thời gian nhất định. Nhiều người dễ bị nhầm lẫn giữa khái niệm về cải  cách và khái niệm về  cách mạng. Cải cách và cách mạng là hai phạm trù khác   nhau. Cách mạng là sự lật đổ cái cũ lạc hậu và thay thế bằng cái mới tiến bộ h ơn.  Nếu cách mạng là sự  thay thế một hệ thống này bằng một hệ thống khác thì cải   cách là sự  cải tiến, cải thiện hợp lý hóa một hệ  thống, do đó ít tốn kém và hạn   chế  đổ  vỡ  hơn rất nhiều. Trước đây, các cuộc cách mạng có ý nghĩa vì nó giải  quyết một loạt các vấn đề  tích tụ  của xã hội và tạo ra  ảnh hưởng đối với tiến  trình phát triển của nhân loại, nhưng giờ đây, càng ngày nó càng mất dần vai trò  của mình, trở  thành một hiện tượng tiêu cực. Con người cần phải luôn cải cách,  cải thiện các hệ thống đang tồn tại để phục vụ cho những trạng thái mới của đời  sống phát triển.  Từ đó, “cải cách cơ chế kinh tế” là cải thiện cách quản lý nền kinh tế bằng  cách cải tiến các quy định, luật định, đạo luật gắn với nền kinh tế để tạo ra động  lực đột phá, phù hợp hơn với sự vận động không ngừng của nền kinh tế.  Một khi những khuôn khổ cơ chế cũ đã trở nên chật chội, những cuộc cách   mạng, cải cách trước đây tạo ra đã không còn đủ lực để thúc đẩy phát triển thì cải  cách cơ  chế  kinh tế  là công việc tất yếu. Tuy nhiên, việc đổi mới cơ  chế  lại   không thể  tiến hành trong ngày một ngày hai, trong khi những khuyết tật do cơ  chế  cũ lại hết sức cấp bách, cần phải giải quyết ngay, vì vậy đất nước đòi hỏi   9
  10. phải có những đột phá trong đổi mới để  tạo động lực cho đất nước tiếp tục phát   triển.   Các nhân tố thúc đẩy cải cách cơ chế kinh tế Có rất nhiều nhân tố tác động tới việc hình thành và phát triển cơ chế kinh   tế, nhưng trong đó các nhân tố dưới đây được coi là quan trọng nhất. - Phương thức sản xuất là một trong những yếu tố rất quan trọng làm thay  đổi phần lớn các cơ chế chính thức, trong đó có cơ chế kinh tế. Việc chuyển từ  phương thức sản xuất này sang phương thức sản xuất khác sẽ làm thay đổi căn  bản cơ chế nói chung của một quốc gia, do sự khác biệt cơ bản về tính chất và  trình độ của lực lượng sản xuất, sự thay đổi các quan hệ về sở hữu, phân phối,  trao đổi và tiêu dùng, sự khác biệt về cơ cấu bộ máy nhà nước, sự thay đổi trong  địa vị của những người ban hành và cả những người thực thi cơ chế... - Chế độ sở hữu và cơ cấu quyền tài sản là những yếu tố rất quan trọng tác  động tới cơ chế mà trước hết là cơ chế kinh tế. - Hệ tư tưởng là nền tảng tinh thần làm thay đổi nhận thức của con người về  thế giới quan, nhân sinh quan. Hệ tư tưởng có tác động lớn tới việc giải thích thế  giới xung quanh và các hoạt động kinh tế. Chính vì vậy, hệ tư tưởng có tác động  rất lớn tới hệ thống cơ chế nói chung, cơ chế quản lý kinh tế nói riêng. - Mô hình kinh tế cũng có tác động mạnh tới cơ chế. Sự khác biệt giữa các  mô hình kinh tế, chẳng hạn như giữa mô hình kinh tế thị trường với mô hình kinh  tế kế hoạch hoá tập trung cũng tạo ra sự khác biệt lớn trong cơ chế kinh tế. Ngoài  ra, sự khác nhau giữa các mô hình kinh tế thị trường (kinh tế thị trường tự do, kinh  tế thị trường xã hội, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa...) cũng tạo ra  sự khác biệt lớn trong cơ chế kinh tế. 10
  11. - Cơ cấu quyền lực chính trị, sự tập trung quyền lực hay phân quyền sẽ tạo  ra sự khác nhau cơ bản dẫn tới khác nhau đáng kể trong cả tổ chức nhà nước lẫn  cơ chế kinh tế. - Trình độ của chủ thể quản lý vĩ mô thể hiện trình độ nhận thức các quy  luật khách quan, nhận thức về kinh tế ­ xã hội, con người, nhận thức về đối  tượng điều chỉnh... Điều này có tác động lớn đến chất lượng của cơ chế kinh tế,  vì các cơ chế do con người tạo lập ra. 1.2. Lý luận chung về mô hình kinh tế 1.2.1. Khái niệm mô hình kinh tế  Mô hình kinh tế là cách thức mô tả thực thể kinh tế đã được đơn giản hóa  bằng cách loại bỏ  các chi tiết không quan trọng, giữ  lại đặc điểm quan trọng  nhất để giải quyết vấn đề nghiên cứu nhằm hiểu và dự đoán được mối quan hệ  của các biến số trên cơ sở dựa vào hành vi của các biến số đó, nó cung cấp cách   thức giải quyết vấn đề. Khác với mô hình kinh tế  lượng, mô hình toán học,… Trong khi các mô  hình kinh tế toán học thể hiện mối quan hệ giữa các biến số kinh tế thì mô hình  kinh tế  trong trường hợp này mang một khái niệm khác, nó không phải là một  hàm được lập nên bởi các biến mà nó là một thuật ngữ đùng để  đặc trưng cho  nền kinh tế  của một Nhà nước trong một khoảng thời gian. Mô hình kinh tế  được đặc trưng bởi nhiều yếu tố: các thành phần kinh tế, chủ thể kinh tế, các  hình thức hoạt động hay giao dịch, các cơ chế của mô hình kinh tế,… Sự tồn tại   lâu dài hay ngắn ngủi của một mô hình kinh tế  được quyết định dựa trên hiệu  quả của mô hình đó đối với nền kinh tế đương thời. 11
  12. 1.2.2. Phân loại mô hình kinh tế Dựa vào cách thức giải quyết các vấn đề  cơ  bản của kinh tế  học, các  quốc gia trên thế giới đã và đang áp dụng ba mô hình kinh tế chủ yếu, đó là mô  hình kinh tế thị trường, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung và mô hình kinh  tế hỗn hợp. Mô hình kinh tế thị trường (market economy)  Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế phổ biến của thế giới đương đại. Nền  kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành dưới tác động của quy luật thị  trường  như  quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh. Nhà nước hầu như  không can thiệp hoặc can thiệp rất ít vào nền kinh tế. Mô hình này là thành tựu   chung của văn minh nhân loại chứ không phải là sản phẩm mang tính đặc thù của  chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, việc áp dụng và thực hiện mô hình kinh tế thị trường   trên thế giới rất phong phú, đa dạng. Các mô hình kinh tế thị trường đang vận hành ở các nước tư bản phát triển   trên thế giới thành 3 nhóm tiêu biểu: - Mô hình thể chế kinh tế thị trường tự do do (tiêu biểu là nền kinh tế  thị trường của Mỹ, Anh, Ốx­trây­li­a,…). Đây là mô hình kinh tế được các nhà kinh tế theo trường phái tự do của Mỹ  đề xuất, bản chất của nó là giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước và để  cho nền   kinh tế tự vận hành thông qua công cụ của nó. - Mô hình thể chế kinh tế thị trường xã hội (tiêu biểu là Đức, Thụy  Điển và các nước Bắc Âu khác). Kinh tế  thị  trường xã hội là một khái niệm về  một hình thái kinh tế  thị  trường mới ra đời đầu tiên  ở  Tây Đức (Cộng hòa Liên bang Đức) mà tác giả  là  những người theo trường phái kinh tế thị trường như Freibrug, Frederich, F.A.von   12
  13. Hayek, Wolf Ogen. Về bản chất, kinh tế thị trường xã hội gần giống với kinh tế  thị trường nhưng mục tiêu của nó là “gắn kết trên cơ sở thị trường các nguyên tắc   tự do và bình đẳng xã hội.” Mô hình kinh tế thị trường xã hội là một dạng biến thể của mô hình kinh tế  thị  trường tự  do. Nhưng nó có nội dung thực chất là sự  gắn kết trên cơ  sở  thị  trường một cách hợp lý giữa các mặt kinh tế – xã hội và chính trị, từ bỏ chủ nghĩa  tự do, đồng thời chống độc quyền, bảo vệ nguyên lý của kinh tế thị trường. Hiểu   một cách đơn giản thì kinh tế thị trường xã hội là một nền kinh tế thị trường kết   hợp tự do với công bằng xã hội. Coi các thị trường chỉ là điều kiện cần chứ không  phải là điều kiện đủ  và coi luật pháp, nhà nước, đạo đức… không hề  kém quan   trọng hơn so với các chính sách kinh tế, tài chính. - Thể chế kinh tế của mô hình nhà nước phát triển (tiêu biểu là nền  kinh tế Pháp, Nhật Bản). Chức năng chủ yếu của nhà nước trong mô hình này là thúc đẩy tăng trưởng  và phát triển kinh tế dài hạn. Do đó, nhà nước phải chủ động thực hiện chính sách   chuyển dịch cơ  cấu kinh tế  theo hướng tiến bộ  trên cơ  sở  những thành tựu của  công nghiệp hóa và tái công nghiệp hóa dựa vào tri thức, nhằm thích  ứng với sự  biến động nhanh chóng của nhu cầu thị trường để luôn tạo ra được lợi thế so sánh   mới nhằm nâng cao sức cạnh tranh, không thụ  động chấp nhận sự  phân công lao  động quốc tế dựa trên những lợi thế so sánh có sẵn. Cơ sở lý thuyết về chức năng  phát triển của nhà nước là những phân tích “lợi thế  so sánh động” của một nền  kinh tế dựa vào tri thức. Bên cạnh những điểm khác biệt của mỗi mô hình như  đã nêu trên, giữa 3   mô hình này cũng có những điểm tương đồng rất cơ bản: 13
  14. Thứ nhất, cả ba mô hình thể chế  kinh tế thị trường nêu trên đều được xây  dựng và vận hành dựa trên 4 nguyên tắc cốt lõi là: sở hữu tư nhân, lợi ích cá nhân,  cạnh tranh thị trường và tự do dân chủ theo kiểu phương Tây. Thứ hai, những thể chế, chính sách trước đây bị coi là phi kinh tế như chính  sách giáo dục – đào tạo, khoa học, công nghệ  thì ngày nay trở  thành những chính  sách phát triển hàng đầu, do giáo dục – đào tạo và khoa học, công nghệ  trong  những thập niên gần đây đã trở thành những động lực trọng yếu của tăng trưởng   và phát triển kinh tế. Chính nhờ tập trung những khoản đầu tư lớn cho phát triển   giáo dục – đào tạo và khoa học, công nghệ  mà Mỹ  trở  thành nước đang dẫn đầu  trong các ngành mới, hiện đại và thu được nhiều khoản lợi nhuận kếch sù từ  các   ngành công nghiệp bán dẫn, máy tính, In­tơ­nét, công nghệ sinh học,… Đó chính là  cơ  sở  trọng yếu để  nền kinh tế  Mỹ  duy trì được đà tăng trưởng mạnh mẽ  trong   suốt thập niên vừa qua. Trên thực tế, cả 3 mô hình này đều sử dụng rộng rãi sự điều tiết và quản lý  vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, vai trò điều tiết và quản lý vĩ  mô của nhà nước luôn được thay đổi linh hoạt, theo những hình thức và phương  pháp phù hợp với diễn biến và yêu cầu khách quan của tình hình thực tế. Chính phủ   ở  các nước này đều sử  dụng những biện pháp can thiệp có chủ  đích nhằm trợ giúp một số ngành công nghiệp có vai trò quan trọng trong sự phát   triển dài hạn của nền kinh tế, hoặc kiểm soát, hạn chế  sự  phát triển của những  doanh nghiệp, những ngành gây ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế. Thị  trường mà nhà nước không can thiệp vào gọi là thị  trường tự  do hoàn  toàn. Một nền kinh tế  thị  trường tự do là một nền kinh tế  nơi mà tất cả  các thị  trường bên trong nó không được kiểm soát bởi các bên khác với những người tham   gia trên thị  trường.  Ở  dạng thuần khiết nhất của nó chính phủ  đóng một vai trò   14
  15. trung lập trong việc quản lý và điều ban hành pháp luật về  hoạt động kinh tế  không giới hạn và cũng không tích cực thúc đẩy nó (ví dụ như điều tiết các ngành  công nghiệp cũng như trợ cấp cung cấp cho các doanh nghiệp cho phép một mình  bảo vệ họ khỏi áp lực thị trường nội / ngoại). Một nền kinh tế như vậy dưới hình  thức cực đoan nhất của nó không tồn tại trong nền kinh tế  phát triển, tuy nhiên  những nỗ lực tự do hóa nền kinh tế  hoặc nỗ  lực làm cho nó "tự  do hơn" để  hạn  chế vai trò của chính phủ theo cách như vậy. Nhà nước tham gia vào các quá trình  kinh tế thị trường vừa với tư cách là bộ máy quản lý xã hội, vừa là một yếu tố nội  tại của cơ chế vận hành kinh tế. Với các tư cách đó, nhà nước thực hiện ba chức   năng: Quản lý, định hướng và hỗ trợ phát triển; Phân phối lại thu nhập quốc dân;  Bảo vệ môi trường. Để thực hiện ba chức năng đó, nhà nước phải giải quyết các   nhiệm vụ: cung cấp khung khổ pháp lý rõ ràng, nghiêm minh, có hiệu lực và phù  hợp với đòi hỏi của cơ chế thị trường; kiến tạo và bảo đảm môi trường vĩ mô ổn  định, có tính khuyến khích kinh doanh; cung cấp kết cấu hạ  tầng (gồm hạ  tầng   "cứng" ­ giao thông vận tải, cung cấp điện nước,… và hạ  tầng "mềm" ­ dịch vụ  thông tin, bưu chính ­ viễn thông; tài chính,…) cũng như  các dịch vụ  và hàng hoá  công cộng (chăm sóc sức khoẻ, giáo dục ­ đào tạo, bảo vệ môi trường,…); hỗ trợ  nhóm người nghèo các điều kiện tối thiểu để tham gia thị trường bình đẳng. Lý thuyết này cho rằng trong một thị trường lý tưởng tự do, quyền sở hữu   được trao đổi một cách tự nguyện trao đổi ở  một mức giá được thỏa thuận chỉ  bằng sự đồng ý lẫn nhau của người bán và người mua. Theo định nghĩa, người   mua và người bán không ép buộc lẫn nhau, theo nghĩa là họ  có được quyền sở  hữu của nhau mà không sử  dụng vũ lực, đe dọa của lực lượng vật chất, hoặc   gian lận, cũng không phải là họ bị cưỡng chế do bên thứ ba (như của chính phủ  thông qua các khoản thanh toán chuyển giao) và họ  tham gia vào thương mại   15
  16. đơn giản chỉ vì họ đều đồng ý và tin rằng những gì họ đang nhận được là giá trị  nhiều hơn hoặc càng nhiều càng tốt những gì họ  bỏ  đi. Giá là kết quả  của các  quyết định mua bán hàng loạt như được mô tả bởi các lý thuyết về cung và cầu. Cơ chế căn bản vận hành của nền kinh tế thị trường là cạnh tranh tự do.  Không có cạnh tranh tự do, không thể nói đến kinh tế  thị trường. Về bản chất,   cơ chế cạnh tranh thị trường là cơ chế tự điều chỉnh. Do vậy, nó còn được gọi  là “bàn tay vô hình”. Cơ chế  này giúp nền kinh tế  tạo lập sự cân bằng mỗi khi  bị trục trặc. Cạnh tranh là cơ chế chủ yếu phân bổ các nguồn lực trong nền kinh  tế  thị  trường. Thông qua cạnh tranh, các nguồn lực được rút ra khỏi những  ngành, lĩnh vực và địa điểm đang hoạt động kém hiệu quả, di chuyển đến những  nơi có lợi thế  phát triển và thu được hiệu quả  kinh doanh, lợi nhuận cao hơn.   Thực tế  xác nhận rằng cho đến nay, sau khi nền kinh tế  đã vượt qua trình độ  kinh tế  nông dân tự  cấp ­ tự  túc, cạnh tranh là cơ  chế  phân bổ  các nguồn lực  hiệu quả nhất. Ưu điểm: Người sản xuất và người tiêu dùng được tự do lựa chọn nên  tính năng động và tính chủ động sáng tạo cao hơn, thường xuyên đổi mới  công nghệ và kích thích nâng cao năng xuất, chất lượng hiệu quả trong  sản xuất kinh doanh; Khai thác và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả và  thúc đẩy nền kinh tế phát triển.  Hạn chế: Coi lợi nhuận là trên hết nên gây ra tình trạng ô nhiễm môi  trường, hệ thống sinh thái bị phá vỡ; Mâu thuẫn ngày càng cao giữa các  mối quan hệ trong nền kinh tế với mối quan hệ truyền thống, tệ nạn xã  hội nảy sinh, phân hóa giàu ngèo và bất công xã hội tăng, các nhu cầu  công cộng xã hội khó được thực hiện, chịu nhiều rủi ro. 16
  17. Kinh tế kế hoạch hóa tập trung (command economy hay centrally­ planned economy)  Kinh tế  kế  hoạch hóa tập trung là nền kinh tế  mà chính phủ  kiểm soát tất  cả các nguồn lực của nền kinh tế và phân bổ các nguồn lực này thông qua một hệ  thống kinh tế  tập trung. Hay nói cách khác, chính phủ  đưa ra mọi quyết định về  sản xuất và phân phối. Cơ quan kế hoạch của chính phủ  quyết định sẽ  sản xuất   ra cái gì, sản xuất như thế nào, và phân phối cho ai. Sau đó, các hướng dẫn cụ thể  sẽ được phổ biến tới các hộ gia đình và các doanh nghiệp. Vai trò của kinh tế kế hoạch hóa tập trung:  - Có đóng góp quan trọng vào việc cải tạo quan hệ sản xuất, tập trung tư liệu  sản xuất vào trong tay nhà nước, do đó có điều kiện tập trung sức sản xuất để  nâng cao nâng suất lao động  - Việc tập trung các tư liệu sản xuất và sản xuất có kế hoạch tạo điều kiện tập  trung sức lao động và vốn đầu tư vào những ngành trọng điểm, những công trình  quan trọng nhằm đưa đến sự thay đổi cơ bản nền kinh tế quốc dân ­ Tập trung  hóa, kế hoạch hóa cao độ dưới sự lãnh đạo của Nhà nước, như vậy có tác dụng  dễ dàng tập trung được nguồn lực quốc gia cho các mục tiêu trọng điểm, những  ưu tiên của đất nước. ví dụ điển hình như quá trình Công nghiệp hóa những năm  1930 ở Xô Viết đã thành công bất kể các căng thẳng của nền kinh tế, cũng như  các dự án chạy đua vũ trang và các dự án lớn khác của Liên Xô sau này.  - Kinh tế có kế hoạch và tách xa thị trường nên nền kinh tế tránh được lạm phát,  tránh được các khủng hoảng và các rủi ro của thị trường như trong các nền kinh tế  tư bản chủ nghĩa, giá cả có khi được duy trì cố định trong vài chục năm. ­ Giá cả  cố định trong một thời gian khá dài cộng với thu nhập tăng đều theo kế hoạch  17
  18. điều này là có lợi cho tầng lớp dân cư lớp dưới kém năng động thích được sống  bao cấp, sức mua của người dân tăng cao. Ưu điểm: Tất cả các vấn đề đều do nhà nước thống nhất, tập trung  quản lý nên các vấn đề kinh tế lớn được giải quyết một cách dễ dàng  hơn như xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng và củng cố an ninh quốc  phòng, xây dựng các công trình phúc lợi công cộng; quan hệ giữa con  người với nhau bình đẳng, bác ái; hạn chế phân hóa giàu nghèo và đảm  bảo sự công bằng xã hội.  Hạn chế: Bộ máy quản lý cồng kềnh, quan liêu, bao cấp; kế hoạch sát  với thực tế; người sản xuất và người tiêu dùng không có quyền tự do lựa  chon nên tính năng động và chủ động không cao, chậm đổi mới công  nghệ; Phân phối mang tính chất bình quân nên không kích thích người lao  động, khai thác và sử dụng nguồn lực khan hiếm kém hiệu quả Kinh tế hỗn hợp (mixed economy) là nền kinh tế mà trong đó chính  phủ vận hành nền kinh tế theo tín hiệu thị trường, chủ trương phải  kết hợp hai mặt "bàn tay vô hình" của Xmit (A. Smith) và lý thuyết  “bàn tay hữu hình”. Cơ chế thị trường xác định ba vấn đề trung tâm  của tổ chức kinh tế: cái gì? như thế nào? cho ai? Nhưng "bàn tay vô  hình" cũng có những khuyết tật và đưa đến những sai lầm; cho nên  cần "bàn tay hữu hình" của chính phủ thông qua những chính sách  và biện pháp thuế khoá, chi tiêu (đầu tư, tín dụng,...), lãi suất, thanh  toán chuyển khoản và kiểm soát nền kinh tế. Bằng những biện  pháp ấy, nhà nước thực hiện các chức năng: định ra khuôn khổ pháp  luật, điều tiết thị trường, bảo đảm sự công bằng, ổn định nền kinh  tế vĩ mô,... Nhưng "bàn tay hữu hình" cũng có những khuyết tật của  18
  19. nó, do chính phủ có những nhận định sai lầm và đưa ra những quyết  định can thiệp trái với sự vận động khách quan của thị trường. Cho  nên phải kết hợp cả hai mặt và hình thành nên nền "kinh tế hỗn  hợp". Kinh tế hỗn hợp cho rằng do kết quả hoạt động của nhà  nước tư sản, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa hiện đại không còn là  nền kinh tế tư nhân nữa, mà là sự kết hợp hai khu vực kinh tế tư  nhân và kinh tế nhà nước bổ sung cho nhau thành một nền "kinh tế  hỗn hợp". Khu vực Nhà nước đã mất tính chất tư bản chủ nghĩa xã  hội. Sự kiểm soát nền kinh tế do nhà nước và các cơ quan tư nhân  thực hiện là nhằm mục đích "nâng cao phúc lợi xã hội của nhân  dân". Theo thuyết này, nhà nước tư sản có khả năng xoá bỏ một  phần những mâu thuẫn nảy sinh trong nền kinh tế, giảm dần và đi  đến không có khủng hoảng và bảo đảm một sự phát triển nhịp độ  cao và ổn định. Thuyết này đưa ra những biện pháp kinh tế ­ xã hội  của nhà nước tư sản, của kinh tế tư bản nhà nước trong chủ nghĩa  tư bản. Ở đây, hai khu vực tư bản tư doanh và kinh tế nhà nước  hợp thành một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thống nhất, trong đó  vai trò quyết định là thuộc các tổ chức kinh tế tài chính trong tổ  chức độc quyền mạnh. Mô hình này phát huy hiệu quả của các nhân  tố chủ quan như các quy luật của thị trường lại vừa coi trọng các  nhân tố chủ quan như vai trò của chính phủ. Tuy nhiên còn tùy vào  từng trường hợp của mỗi quốc gia mà mà vận dụng vai trò của  chính phủ và thị trường cho phù hợp. Do những tính ưu việt đó mà  hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng mô hình kinh tế hỗn  hợp. Tùy theo mức độ chính phủ can thiệp vào nền kinh tế mà một  19
  20. nền kinh tế có thể lệch về hướng thị trường hay kế hoạch tập  trung. 1.2.3. Vì sao phải thay đổi mô hình kinh tế Thay đổi mô hình kinh tế là quá trình một quốc gia chuyển đổi từ mô hình   kinh tế  này sang mô hình kinh tế  khác tiến bộ  hơn, phù hợp với yêu cầu phát   triển của nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế đã đặt ra. Môi trường kinh tế vĩ mô bao gồm các yếu tố kinh tế (quy mô và tốc độ  tăng trưởng, phát triển kinh tế); yếu tố chính trị và chính phủ (thể chế chính trị,  vai trò và tác động của Nhà nước đối với nền kinh tế); các yếu tố xã hội (dân số  và thu nhập, thái độ  đối với công việc); yếu tố  tự  nhiên (khoáng sản, khí hậu,   thời tiết,…); yếu tố  kỹ  thuật – công nghệ  ngày càng có nhiều sự  thay đổi và   điều đó đòi hỏi một mô hình kinh tế mới với sự tham gia của các lực lượng sản   xuất mới, công cụ sản xuất mới, cách thức vận hành trao đổi mới, cơ chế quản   lý mới. Bởi khi đó, mô hình kinh tế cũ tỏ ra kém hiệu quả khi “bàn tay vô hình”   hay “bàn tay hữu hình” không thể giải quyết được những vấn đề  của nó và có  một mô hình mới xuất hiện có thể  giúp giải quyết những khó khăn đang tồn   đọng thì quốc gia đó sẽ tiến hành thay đổi mô hình kinh tế. Sự thay đổi mô hình   kinh tế  là sự  kết hợp hài hòa giữa tác động của “bàn tay vô hình” và “bàn tay  hữu hình” với một sự  ưu tiên mới cho thị  trường hay cho Nhà nước, tùy thuộc   vào mỗi nền kinh tế khác nhau. Nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu kinh tế là xác định biến động của nền   kinh tế  và đưa ra những biện pháp, những học thuyết có thể  giải quyết được   các vấn đề kinh tế đang tồn đọng hay các vấn đề có thể xảy ra trong tương lai. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản