intTypePromotion=4

Đề tài: Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài

Chia sẻ: Nguyen Hoang Giap | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:65

0
168
lượt xem
34
download

Đề tài: Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài: Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài trình bày khái niệm phân loại bản chất vốn đầu tư, mối quan hệ giữa đầu tư trong nước và nước ngoài, giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa hai nguồn vốn, thực trạng vốn đầu tư trong và ngoài nước theo nguồn hình thành.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài

  1. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài LỜI MỞ ĐÀU Kể từ ngày 11/01/2007 Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO. Khi ra nhập tô chức này nguyên tắc được áp dụng với các nước thành viên là không phân bi ệt đối xử gi ữa các qu ốc gia và giữa nhà đầu tư trong nước với nước ngoài, tham gia vào m ột sân ch ơi quốc tế có những thuận lợi và cũng có nhi ều thách th ức cho s ự phát tri ển của mỗi quốc gia.Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó, sự phát tri ến của khoa học và công nghệ đang dần kéo dài kho ảng cách các n ước phát triển với các nước đang phát triển. Vì thế để có thể rút ngắn khoảng cách với các nước phát triến tránh tụt hậu thì đòi hỏi Vi ệt Nam phải đi t ắt đón đầu, nhanh chóng tiến hành công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất n ước tận dụng mọi nguồn lực cả bên trong lẫn bên ngoài để phát triển. Với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay trung bình là 7,5%/năm và tốc độ tăng trưởng dân số 1,8%/năm, đê phấn đấu đến năm 2020 nâng m ức thu nhập bình quân đầu người lên gấp đôi hiện nay tức là ở m ức 2000 USD một người/một năm thì đòi hỏi phải bồ sung nguồn v ốn đ ể đầu t ư phát tri ển là 126 tỷ USD, hơn GDP hiện tại ở mức 86 tỷ. Nhìn vào con số trên ta thấy với tích lũy nội bộ tối đa cũng không đủ đáp ứng đủ nhu cầu v ốn cho đầu t ư phát triển vì thế chiến lược trong dài hạn là làm sao đế thu hút nguồn v ốn nước ngoài. Vấn đề đặt ra làm thế nào để huy động được nguồn vốn to lớn đó, nghiên cún khía cạnh của mối quan hệ nhân quả “nguồn vốn càng đ ược s ử dụng có hiệu quả thì khả năng thu hút nó càng lớn” nên nhóm em đã ch ọn đ ề tài “Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài” để làm rõ sự tác động qua lại giữa hai nguồn vốn để từ đó thấy đ ược vai trò của từng loại vốn và mối quan hệ giữa chúng cũng như những gi ải pháp quản lý và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả hơn, góp phần tạo cái nhìn t ồng quát về hai nguồn vốn này. Chúng em xin chân thành cảm ơn PGS. TS Từ Quang Phương TS. Phạm Văn Hùng đã tận tình hướng dẫn giúp chúng em hoàn thành tốt bài tập. Bài làm không tránh khỏi những thiếu sót kính mong thầy giáo và các bạn góp ý để chúng em hoàn thiện bài viết. CHƯƠNG I. NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN I. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI VÀ BẢN CHẤT CỦA NGUỒN VÓN ĐÀU Tư 1. Khái niệm: Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D 1
  2. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài 1.1 vốn đầu tư: Là nguồn lực tích luỹ được của xã hội, cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, tiết kiệm của dân, huy động từ nước ngoài được biêu hiện dưới các dạng tiền tệ các loại hoặc hàng hoá hữu hình, hàng hoá vô hình và hàng hoá đặc biệt khác. 1.2 Nguồn vốn đầu tư: Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích lũy được thế hiện dưới dạng giá trị được chuyển hóa thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội. Đây là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân phối vốn đầu tư cho phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và của xã hội. 2. Phân loại: Đứng dưới góc độ vĩ mô, nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. 2.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước: Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy nội bộ của toàn bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất xã hội. Biếu hiện cụ thề của nguồn vốn đầu tư trong nước bao gồm nguồn vốn đầu tư nhà nước và nguồn vốn của dân cư và tư nhân. 2.1.1 Nguồn von nhà nước: Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triền của nhà nước và ngu ồn v ốn đ ầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước. Nguồn vốn ngân sách nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho đầu tư. Đó là một nguồn vốn đầu tư quan tr ọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu kinh tế - xã hội, qu ốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước, chi cho các công tác lập và thực hiện các quy ho ạch tống thê phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy ho ạch xây d ựng đô th ị và nông thôn. Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D 2
  3. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội. Ngân sách nhà nước có vai trò điều tiết trong kinh tế, thúc đẩy phát triền kinh tế. Ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành c ơ c ấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền. Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong n ền kinh tế đi vào quỹ đạo mà chính phủ đã ho ạch định đ ế hình thành c ơ c ấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thu ộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và đi ều ki ện thu ận l ợi cho s ự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (có th ể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực, viễn thông, hàng không đến ho ạt động kinh doanh của các Doanh nghiệp). Bên cạnh đó, việc c ấp v ốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những bi ện pháp căn bản đ ể chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình tr ạng c ạnh tranh không hoàn hảo. Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển c ủa các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyên sang cơ cấu mới hợp lý hơn. Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy đ ộng nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà n ước đ ảm b ảo th ực hi ện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, nguồn vốn này còn góp phần gi ải quyết các vấn đ ề xã hội.Trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu, các kho ản chi phí đê th ực hi ện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù chữ, hỗ trợ đồng bào bão lụt. Ngoài ra còn góp phần ôn định thị trường, chống lạm phát, bình ôn giá cả thị trường hàng hoá. Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng những mặt hàng mang tính chất chiến lược. Cơ chế đi ều ti ết thông qua tr ợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia. Thị trường vốn sức lao động: thông qua phát hành trái phiếu và chi tiêu của chính ph ủ. Kiềm chế lạm phát: cùng với ngân hàng trung ương với chính sách ti ền t ệ thích họp ngân sách nhà nước góp phần điều ti ết thông qua chính sách thu ế và chi tiêu của chính phủ. Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng nói chung của nền kinh tế quy mô tống thu ngân sách nhà nước không ngừng gia tăng nh ờ m ở Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D 3
  4. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài rộng nhiều nguồn thu khác nhau (huy động qua thuế, phí, bán tài nguyên, bán hay cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước...). Đi cùng với sự m ở r ộng quy mô ngân sách, mức chi cho đầu tư phát triền từ ngân sách nhà nước cũng gia tăng đáng kể. Tống thu ngân sách nhà nước trong giai đo ạn 2001- 2005 tăng bình quân 15%, tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà n ước hàng năm tăng bình quân hàng năm đạt gần 23% GDP. Nguồn thu ồn định từ sản xu ất trong nước đã bước đầu dần dần tăng. Tống chi ngân sách nhà nước tăng bình quân 14,9%. Tỷ lệ chi ngân sách nhà nước bình quân bằng 28% GDP. Trong đó chi cho đầu tư phát triền đạt bình quân 30,2% tống chi ngân sách nhà nước. Tính chung cho giai đoạn 2001-2005, tồng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm khoảng 22,3% tống vốn đầu tư toàn xã hội. Trong nh ững năm tiếp theo, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước có xu hướng gia tăng về giá trị tuyệt đối nhưng giảm về tỉ trọng vốn đầu tư toàn xã hội. Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triên của Nhà nước: Cùng với quá trình đôi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển c ủa Nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kế trong chiến lược phát triền kinh tế - xã hội. Neu nh ư trước năm 1990, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước chưa được sử dụng như một công cụ quản lý điều tiết nền kinh tế thì trong giai đo ạn 1991- 2000, nguồn vốn này đã có mức tăng trưởng đáng kề và bắt đầu có v ị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của nhà nước. Giai đoạn 1991-1995, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát tri ển của nhà nước mới chiếm 5,6% tống vốn đầu tư toàn xã hội thì giai đo ạn 2001-2005 đã chiếm 14% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Trong nh ững năm ti ếp theo, tín dụng đầu tư của nhà nước sẽ có xu hướng cải thiện về mặt chất lượng và phương thức tài trợ nhưng tỷ trọng sẽ không có sự gia tăng đáng kế. Nguồn Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kề việc bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước. Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Chủ đầu tư là người vay vốn phải tính kỹ hi ệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. vốn tín dụng đầu tư phát tri ền c ủa Nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ hình thức c ấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trục tiếp. Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước còn phục vụ công tác quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô. Thông qua ngu ồn tín d ụng đầu tư, nhà nước thực hiện việc khuyến khích phát triền kinh tế ngành, vùng, lĩnh vực theo chiến lược của mình. Đứng ở khía cạnh là công cụ đi ều tiết vĩ mô, nguồn vốn này không chỉ thực hiện mục tiêu tăng tr ưởng kinh t ế mà còn thực hiện cả mục tiêu phát triền xã hội. Vi ệc phân bô và s ử d ụng nguồn vón tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát tri ển những vùng kinh t ế Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D 4
  5. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói gi ảm nghèo. Và trên h ết, nguồn vốn tín dụng đầu tư và phát triền của nàh n ước có tác dụng r ất tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước: Nguồn vốn này chủ yếu bao gồm từ khấu hao tài sản cố định và thu nhập gi ữ lại tại doanh nghiệp nhà nước. Theo bộ kế hoạch và đầu tư, thông thường nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước tự đầu tư chiếm 14-15% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, chủ yếu là đầu tư theo chiều sâu, mở rộng sản xuất, đối mới thi ết bị, hiện đại hóa day chuyền công nghệ của doanh nghiệp.Được xác định là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn n ắm giữ một khối lượng vốn khá lớn. Mặc dù vẫn còn m ột số h ạn chế nh ưng đánh giá một cách công bằng thì khu vực thì khu v ực kinh t ế Nhà n ước v ới sự tham gia của các doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng m ột vai trò ch ủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần.Với chủ trương ti ếp tục đối m ới doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ của các doanh nghiệp Nhà n ước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội. 2.1.2. Nguồn von của dân cư và tư nhân: Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm c ủa dân c ư, phần tích lũy của các doanh nghiệp dân doanh, các họp tác xã. Theo ước tính của bộ kế hoạch và đầu tư, tiết kiệm trong dân cư và các doanh nghiệp dân doanh chiếm bình quân khoảng 15% GDP, trong đó phần ti ết ki ệm của dân cư tham gia gián tiếp vào đầu tư vào khoảng 3,7% GDP, chiếm kho ảng 25% tổng tiết kiệm của dân cư; phần tiết kiệm của dân c ư tham gia đầu t ư tr ục tiếp khoảng 5% GDP và bằng 33% số tiết kiệm được. Trong giai đoạn 2001- 2005, vốn đầu tư của dân cư và tư nhân chiếm khoảng 26% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Trong giai đoạn tiếp theo, nguồn vốn này sẽ ti ếp t ục gia tăng c ả về quy mô và tỷ trọng. Thực tế thời gian qua cho thấy đầu tư của khu vực tư nhân và hộ gia đình có vai trò đặc biết quan trọng trong vi ệc phát tri ển nông nghi ệp, ti ếu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ và vận tải trên các địa phương. Trong 20 năm thực hiện chính sách đôi mới, nhà n ước liên tục hoàn thi ện các chính sách nhằm tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế hộ gia đình mạnh dạn bỏ vốn đầu tư và phát triển đan xen, hỗn hợp các hình th ức sở hữu trong nền kinh tế. Với Luật Doanh nghiệp thống nhất (2005) và Luật đầu tư chung (2005) chính thức có hiệu lực từ giữa năm 2006, các t ầng l ớp dân cư và khu vực kinh tế tư nhân sẽ tiếp tục được khuyến khích, đ ộng viên Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D 5
  6. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài đại bộ phận tích lũy cho đầu tư phát triển. Với khoảng vài trăm ngàn doanh nghiệp dân doanh (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cố phần, hợp tác xã) đã, đang và sẽ đi vào hoạt động, phần tích lũy của các doanh nghiệp này cũng sẽ đóng góp đáng kể vào tống quy mô vốn của toàn xã hội. Bên c ạnh đó, nhi ều h ộ gia đình cũng đã trở thành đơn vị kinh tế năng động trong các lĩnh v ực thương mại, dịch vụ, sản xuất nông nghiệp và tiều thủ công nghiệp. Ớ mức độ nhất định, các hộ gia đình cũng là một trong những kênh tập trung và phân phối vốn quan trọng trong nền kinh tế. Nguồn vốn trong dân cư còn phụ thuộc vào tu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình. Quy mô của nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào: Trình đ ộ phát triển của đất nước ( ở những nước có trình độ phát triển thấp thường có quy mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp); Tập quán tiêu dùng của dân cư; Chính sách động viên của nhà nước thông qua các chính sách thuế thu nhập và các khoản đóng góp của xã hội. 2.2. Nguồn vốn nước ngoài: Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm bộ phận tích lũy của cá nhân, các doanh nghiệp, các tố chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy động vào quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại. Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nuớc ngoài trên phạm vi r ộng h ơn đó là dòng lun chuyển vốn quốc tế (International Capital Flows), về thực chất, các dòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình chuyển giao Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D 6
  7. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới. Trong các dòng lun chuyển vốn quốc tế, dòng từ các nước phát triển đổ vào các nước đang phát triển thường được các nước có thu nhập thấp đặc biệt quan tâm. Dòng v ốn này diễn ra với nhiều hình thức. Mồi hình thức có đặc đi ếm, mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng, không hoàn toàn giống nhau. Theo tính chất l ưu chuyển vốn, có thể phân loại các nguồn vốn nước ngòai chính như sau: - Tài trợ phát triển vốn chính thức (ODF - Official Development Finance). Nguồn này bao gồm: Viện trợ phát triển chính thức (ODA - Offical Development Assistance) và các hình thức viện trợ khác. Trong đó, ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn ODF. Vì vậy, khi đề cập đến nguồn tài trợ phát triến chính thức chỉ đề cập đến nguồn ODA - Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) - Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế. 2.2.1. Nguồn vốn ODA: Nguồn vốn ODA là nguồn vốn phát triển do các tố chức quốc tế và các chính phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các n ước đang phát triển. So với các hình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn von ODF nào khác. Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khối lượng cho vay lớn, bao giờ trong ODA cũng có yếu t ố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hồ trợ) đạt ít nhất 25%. yếu tố không hoàn lại (thành tố hỗ trợ) của từng khoản vay được xác định dựa vào các yếu tố lãi suất, thời hạn cho vay, th ời gian ân h ạn, s ố l ần trả nợ trong năm và tỷ suất chiết khấu. Công thức tính hệ số thành t ố tài tr ợ (GE) như sau: GE = 100% [1 - 1/ ạ + dyG-\/ (1 + d)aM d d(aM - aG) Trong đó: r- Tỷ lệ lãi suất hàng năm a- So lần trả nợ trong năm cỉ- Tỷ su at chiết khẩu G- Thời gian ân hạn M- Thời hạn cho vay Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D 7
  8. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài Trong thời gian qua, việc thu hút ODA phục vị cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam đã diễn ra trong b ối c ảnh trong nu ớc và quốc tế có nhiều thuận lợi. Kể từ năm 1993 đến hết năm 2006, Vi ệt Nam đã tô chức được 14 hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài tr ợ v ới t ống m ức v ốn cam kết hơn 36 tỷ USD. Với quy mô tài trợ khác nhau, hiện nay Vi ệt Nam có trên 45 đối tác hợp tác phát triển song phương và hơn 350 tổ chức quố tế và phi chính phủ đang hoạt động. Trong số vốn ODA cam kết nói trên bao gồm cả viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 15-20% và phần chủ yếu còn lại là vay ưu đãi. số vốn ODA cam kết này được sử dụng trong nhiều năm, tùy thuộc vào các chương trình và dự án cụ thể. Căn cứ vào chính sách ưu tiên sử dụng ODA, Chính phủ Việt Nam đã định hướng nguồn vốn ODA ưu tiên cho các lĩnh v ực giao thông vận tải; phát triền hệ thống nguồn điện, m ạng lưới chuyển t ải và phân phối điện; phát triển nông nghiệp và nông thôn bao gồm c ả th ủy l ợi, thủy sản, lâm nghiệp kết hợp xóa đói giảm nghèo; cấp thoát n ước và bảo v ệ môi trường; y tế, giáo dục và đào tạo; khoa học và công ngh ệ, tăng c ường năng lực và thể chế... Để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong thời kỳ 2006- 2010, Chính phủ Việt Nam tích cực chủ truơng huy đọng mọi nguồn vốn trong đó nguồn vốn ODA vẫn tiếp tục đóng vị trí quan tr ọng. T ổng ngu ồn vốn ODA thực hiện dự kiến khoảng 11-12 tỷ USD trong 5 năm 2006-2010 chiếm khoảng 80% tống vốn ODA cam kết. Khi xem xét trên góc độ nguồn vốn đầu tư, ODA là m ột trong nh ững nguồn vốn nước ngoài. Tuy nhiên, trong quản lý và sử dụng ngu ồn v ốn này, một phần vốn ODA có thề đưa vào ngân sách đáp ứng mục tiêu chi cho đ ầu tư phát triển của nhà nước, một phần có thế đưa vào các chương trình tín dụng un đãi đầu tư của nhà nước và một phần có the v ận hành theo các d ự án độc lập. Theo ước tính phần chuyến vào ngân sách nhà n ước chi ếm khoảng 15% tổng vốn đầu tư của ngân sách nhà nước. Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho lo ại vốn này thường đi kèm các điều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe (tính hiệu quả c ủa dự án, thủ tục chuyển giao vốn và thị trường...). Vì vậy, để nhận được lo ại tài trợ hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất, cần phải xem xét dự án trong đi ều kiện tài chính tống thế. Neu không việc tiếp nhận viện trợ có th ể tr ở thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền kinh tế. Tức là ngoài những yếu t ố thu ộc về nội dung dự án tài trợ, còn cần có phương pháp thoả thuận đê vừa có thê nhận vốn, vừa bảo đảm được những mục tiêu có tính nguyên tắc. 2.2.2. Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế: Đây là nguồn vốn mà các nước nhận vốn vay từ các ngân hàng Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D
  9. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài thương mại quốc tế với một mức lãi suất nhất định. Sau một thời gian, các nước này phải hoàn trả cả vốn và lãi, các ngân hàng thương mại quốc tế sẽ thu được lợi nhuận từ lãi suất của khoản vay. Điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối với nguồn vốn ODA. Tuy nhiên, bù lại nó có ưu điểm rõ ràng là không có gắn với các ràng buộc về chính trị, xã hội. Mặc dù vậy, th ủ t ục vay đ ối v ới nguồn vốn này thường là tương đối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao là những trở ngại không nhỏ đối với các nước nghèo. Do được đánh giá là mức lãi suất tương đối cao cũng như sự thận trọng trong kinh doanh ngân hàng (tính rủi ro ở n ước đi vay, của th ị tr ường thế giới và xu hướng lãi suất quốc tế), nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại thường được sử dụng chủ yếu đê đáp ứng nhu c ầu xuất khấu và thường là ngắn hạn. Một bộ phận của nguồn vốn này có th ể đ ược dùng để đầu tư phát triển. Tỷ trọng của nó có thế gia tăng nếu tri ến vọng tăng trưởng của nền kinh tế là lâu dài, đặc biệt là tăng trưởng xuất khấu của nước đi vay là sáng sủa. Đối với Việt Nam, việc tiếp c ận đối với ngu ồn v ốn này vẫn còn khá hạn chế. 2.2.3. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển không chỉ đối với các nước nghèo mà kề cả các nước công nghiệp phát triển. Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh n ợ cho nước tiếp nhận. Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu t ư s ẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu tư ho ạt động có hiệu quả. Đầu tư trục tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề m ới, đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao về trình độ kỳ thuật, công nghệ hay c ần nhi ều vốn. Vì thế nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá, chuyên dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở các nước nhận đầu tư. Không những là nguồn vốn bổ sung quan trọng, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn đóng góp vào việc bù đắp thâm hụt tài khoản vãng lai và cải thiện cái cân thanh toán quốc tế. Ngoài ra đóng góp cho ngân sách nhà n ước c ủa khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng rất đáng kề ( hàng năm khu vực kinh tế này đã nộp ngân sách nhà nước hàng tỷ USD). 2.2.4. Thị trường von quốc tế: Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D 9
  10. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài Là nguồn vốn huy động từ thị trường chứng khoán trên thế gi ới, bằng việc bán trái phiếu, cổ phiếu của chính phủ, các công ty trong nước ra n ước ngoài. Nguồn vốn này có thể huy động vốn với số lượng lớn, trong thời gian dài để đáp ứng nhu cầu về vốn cho nến kinh tế mà không b ị ràng bu ộc b ởi các điều kiện về tín dụng quan hệ cho vay để gây sức ép v ới n ước huy đ ộng vốn trong các quan hệ khác. Bên cạnh đó còn tạo điều kiện cho nước ti ếp nhận vốn tiếp cận với thị trường vốn quốc tế . Với xu hướng toàn cầu hoá, mối liên kết ngày càng tăng c ủa các th ị trường vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên v ẻ đa d ạng vế các nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lượng vốn lưu chuyến trên phạm vi toàn cầu. Ngay tại nhiều nước đang phát triển, dòng vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán cũng gia tăng mạnh mẽ. Trong những năm gần đây dòng vốn này đã và đang có xu hướng tiếp tục gia tăng. 3. Bản chất của vốn đầu tư: Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thế huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội. Điều này được cả kinh tế học cố điển, kinh tế chính trị học Mác - Lênin và kinh tế học hiện đại chứng minh. Trong tác phẩm “Của cải của dân tộc’’ (1776), Adam Smith, một đại diện điền hình của trường phái kinh tế học cồ điến đã cho rằng: “Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn. Lao động tạo ra sản phãm đê tích luỹ cho quả trình tiết kiệm. Nhưng dù cỏ tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì von không bao giờ tăng lên ’’. Sang thế kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan hệ giữa các khu vực của nền sản xuất xã hội, về các vấn đ ề tr ực ti ếp liên quan đến tích luỹ, c. Mác đã chứng minh rằng: Trong một nền kinh tế hai khu vực, khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực II sản xuất tư li ệu tiêu dùng. Cơ cấu tống giá trị của từng khu vực đều bao gồm (c + V + m) trong đó c là phần tiêu hao vật chất, (v + m) là phần giá trị mới tạo ra. Khi đó, đi ều kiện đế đảm bảo tái sản xuất mở rộng không ngừng thì n ền sản xu ất xã h ội phải đảm bảo (v + m) của khu vực I lớn hơn tiêu hao v ật ch ất (c) c ủa khu vục II. Tức là: (v + m)I > cll Hay nói cách khác: (c + V + m)I > cll + cl Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D 10
  11. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài Điều này có nghĩa rằng, tư liệu sản xuất được tạo ra ở khu vực I không chỉ bồi hoàn tiêu hao vật chất của toàn bộ nền kinh t ế (c ủa c ả hai khu vực) mà còn phải dư thừa đê đầu tư làm tăng quy mô tư li ệu sản xu ất trong quá trình sản xuất tiếp theo. Đối với khu vực II, yêu cầu phải đảm bảo: (c+v+m)II < (v+m)I + (v+m)2 Có nghĩa là toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vục phải lớn hơn giá tr ị sản phẩm sản xuất ra của khu vực II. Chỉ khi điều kiện này được thoả mân, nền kinh tế mới có thể dành một phần để tái sản xuất m ở rộng. Từ đó quy mô vốn đầu tư cũng sẽ gia tăng. Như vậy, để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất, gia tăng quy mô đầu tư, một mặt phải tăng cường sản xuất tư liệu sản xuất ở khu v ực I, đồng thời phải sử dụng tiết kiệm tư liệu sản xuất ở cả hai khu vực. Mặt khác phải tăng cường sản xuất tư liệu tiêu dùng ở khu vực II, thực hành tiết kiệm tư liệu tiêu dùng ở cả hai khu vực. Với phân tích như trên, chúng ta thấy rằng theo quan đi ếm của C.Mác, con đường cơ bản và quan trọng về lâu dài đế tái sản xuất m ở r ộng là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm cả ở trong sản xuất và tiêu dùng. Hay nói cách khác, nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đáp ứng do sự gia tăng sản xuất và tích luỹ của nền kinh tế. Quan điếm về bản chất của nguồn vốn đầu tư lại tiếp tục được các nhà kinh tế học hiện đại chứng minh. Trong tác phẩm nối ti ếng “Lý thuyết tông quan về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của mình, Jonh Maynard Keynes đã chứng minh được rằng: Đầu tư chính bằng phần thu nhập mà không được chuyên vào tiêu dùng. Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, ti ết ki ệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng. Tức là: Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tư Tiết kiệm = Thu nhập - Tiêu dùng Như vậy: Đầu tư = Tiết kiệm Hay: (I) = (S) Theo Keynes, sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư xuất phát t ừ tính song phương của các giao dịch giữa một bên là nhà sản xu ất và bên kia là người tiêu dùng. Thu nhập chính là mức chênh lệch gi ữa doanh thu t ừ bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ và tông chi phí. Nhưng toàn b ộ s ản ph ẩm sản xuất ra phải được bán cho người tiêu dùng hoặc cho các nhà sản xuất Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D 11
  12. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài khác. Mặt khác đầu tư hiện hành chính bằng phần tăng thêm năng l ực sản xuất mới trong kỳ. Vì vậy, xét về tổng thê phần dôi ra c ủa thu nh ập so v ới tiêu dùng mà người ta gọi là tiết kiệm không thể khác vơí phần gia tăng năng lực sản xuất mà người ta gọi là đầu tư. Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong n ền kinh tế đóng. Trong đó, phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm ti ết ki ệm c ủa khu vực tư nhân và tiết kiệm của chính phủ. Điêm cần lưu ý là tiết kiệm và đ ầu tư xem xét trên góc độ toàn bộ nền kinh tế không nhất thi ết được tiến hành bởi cùng một cá nhân hay doanh nghiệp nào. Có thế có cá nhân, doanh nghiệp tại một thời diêm nào đó có tích luỹ nhưng không trực ti ếp tham gia đầu t ư. Trong khi đó, có một số cá nhân, doanh nghi ệp lại thực hiện đầu t ư khi ch ưa hoặc tích luỳ chưa đầy đủ. Khi đó thị trường vốn sẽ tham gia gi ải quyết v ấn đề bằng việc điều tiết nguồn vốn từ nguồn dư thừa hoặc tạm thời dư thừa sang cho người có nhu cầu sử dụng. Ví dụ, nhà đầu t ư có th ể phát hành c ố phiếu, trái phiếu (trên cơ sở một số điều kiện nhất định, theo quy trình nhất định) để huy động vốn thực hiện một dự án nào đó tù’ các doanh nghiệp, h ộ gia đình hay các cá nhân - người dư thừa hoặc tạm thời dư thừa vốn. Trong nền kinh tế mở, đắng thức đầu tư bằng ti ết ki ệm c ủa n ền kinh tế không phải bao giờ cũng được thiết lập. Phần tích luỹ của nền kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu đầu tư tại nước sở tại, khi đó vốn có thể được chuyển sang cho nước khác đế thực hiện đầu tư. Ngược lại, vốn tích luỹ của nền kinh tế có thế nhỏ hơn nhu cầu đầu tư, khi đó nền kinh tế phải huy đ ộng tiết kiệm từ nước ngoài. Trong trường họp này, mức chênh lệch gi ữa ti ết kiệm và đầu tư được thể hiện trên tài khoản vãng lai. CA = s -1 Trong đó: CA là tài khoản vãng lai (current account) Như vậy, trong nền kinh tế mở nếu như nhu cầu đầu tư lớn hơn tích luỹ nội bộ nền kinh tế và tài khoản vãng lai bị thâm hụt thì có thể huy động vốn đầu tư từ nước ngoài. Khi đó đầu tư nước ngoài hoặc vay n ợ có th ể tr ở thành một trong những nguồn vốn đầu tư quan trọng của n ền kinh tế. Neu tích luỹ của nền kinh tế lớn hơn nhu cầu đầu tư trong n ước trong điều ki ện thặng dư tài khoản vãng lai thì quốc gia đó có thế đầu tư vốn ra n ước ngoài hoặc cho nước ngoài vay vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của n ền kinh tế. Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D 12
  13. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài II. MỐI QUAN HỆ GIỮA HAI NGUỒN VỐN ĐẦU TU TRONG NƯỚC VA NƯỚC NGOÀI 2. Mối quan hệ giữa vốn đầu tư trong nưóc và nưóc ngoài. Sau khi tiến hành cải cách nền kinh tế năm 1986 n ền kinh t ế Việt Nam dần mở cửa đế cho nền kinh tế phát triển theo quy luật v ốn có của nó-nền kinh tế thị trường cũng là lúc các nhà đầu tư n ước ngoài thăm dò và bắt đầu bỏ vốn để đầu tư vào Việt Nam. Kể từ đó đến nay nguồn vốn từ nước ngoài đổ vào ngày càng nhiều mặc dù có giai đo ạn giảm sút. Việt Nam đã huy động một khối lượng vốn rất lớn từ bên ngoài để phát triển kinh tế- xã hối có thời kì hoạt động của nguồn vốn bên ngoài còn đóng góp nhi ều hơn so với nguồn vốn trong nước vào sự tăng trưởng và phát tri ển kinh tế. Nhưng đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế m ột qu ốc gia, ngu ồn v ốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài có mối quan hệ hữu c ơ, bố sung cho nhau trong đó nguồn von trong nước đóng vai trò quyết định và nguồn vấn đầu tư nước ngoài đóng vai trỏ quan trọng không thê thiếu 1. Nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định: /. 1 Vốn trong nước với vấn đề phát triển kinh tế Vốn trong nước luôn được coi là nội lực, bệ phóng cho phát triên n ền kinh tế Vốn trong nước với là nguồn đáp ứng nhu cầu của đầu tư cho phát triển kinh tế. Bên cạnh đầu tư nước ngoài, vốn trong nước dành cho tái đầu tư, mở rộng quy mô phát triến cũng như thành lập thêm những mảnh ghép quan trọng của nền kinh tế luôn được đặc biệt quan tâm và chiếm tỷ lệ cao. Nguồn Vốn trong nước là nguồn đóng góp lớn vào GDP toàn xã h ội, góp phần thúc đấy tăng trưởng phát triền kinh tế. Với vi ệc v ốn trong n ước được đưa vào tái đầu tư, nó góp phần tăng GDP theo hệ số nhân ti ền, v ới việc vốn trong nước dành cho phát triến kinh tế ngày càng cao, đồng nghĩa với việc đóng góp vào GDP của nguồn vốn này ngày càng lớn. Nguồn vốn đầu tư trong nước đóng vai trò định hướng cho việc thay đôi cơ cấu kinh tế, cân bằng thị trường hàng hóa, giúp cho nền kinh tế qu ốc gia tăng trưởng, phát triển toàn diện, đồng đều. Các doanh nghi ệp nhà n ước là hạt nhân trong vai trò này. Khi các doanh nghiệp nhà n ước đ ược coi là xương sống của nền kinh tế, việc thành lập, đưa vào ho ạt động cũng nh ư định hướng phát triển cho các doanh nghiệp nhà nước đóng góp rất tích c ực cho vai trò này. Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D 13
  14. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài Nguồn vốn đầu tư trong nước có vai trò đảm bảo sự phát tri ền toàn diện, không lệch lạc giữa các vùng miền của nền kinh tế, góp phần giúp nền kinh tế tăng trưởng, phát triển mộtc cách bền vũng. Vi ệc nhà n ước dành v ốn đế đầu tư phát triển cho các khu vực còn khó khăn, hay cân đối nguồn v ốn giữa các vùng thể hiện rất rõ vai trò này. Nguồn vốn trong nước góp phần kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế, đấy nhanh tiến trình cố phần hóa nhiều doanh nghiệp nhà n ước, t ạo đà cho tăng trưởng và phát triền kinh tế. Việc huy động vốn trong xã hội, mà chủ yếu là từ khu vực tư nhân và dân cư an toàn hơn nhiều so với vi ệc in ti ền hay vay từ nước ngoài bởi nó hạn chế được lạm phát hay nguy cơ n ợ n ước ngoài, cũng theo hướng này, tiến trình cố phần hóa doanh nghiệp nhà n ước được đây nhanh, tạo đà cho tăng trưởng và phát triền kinh tế Nguồn vốn trong nước xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đạt m ột trình độ nhất định tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư n ước ngoài cũng như tăng tính hiệu quả, nhanh chóng của việc sử d ụng v ốn đầu t ư nước ngoài, tạo nền tảng vững chãi cho sự tăng trưởng của nền kinh tế. Do việc xây dựng cơ sở hạ tầng yêu cầu vốn lớn và thời gian đầu tư dài, nên việc nhà nước dùng vốn trong nước, chủ yếu là ngân sách nhà n ước đ ế hoàn thiện cơ sở hạ tầng là một trong những vai trò quan trọng. Sự lớn mạnh, ốn định nguồn lực vốn trong nước giúp hạn chế những mặt tiêu cực của nguồn lực nước ngoài tới nền kinh tế, đồng thởi tạo d ựng một khung xương vững chắc cho nền kinh tế, chống lại những c ơn sóng gió từ thị trường kinh tế quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. 1.2 vốn trong nước với các vấn đề xã hội Nguồn von trong nước góp phần tích cực trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh và công bằng xã hội. Xóa đói giảm nghèo là một chiến lược của chính phủ Việt Nam nhàm giải quyết vấn đề đói nghèo và phát triển kinh tế tại Vi ệt Nam. Các chương trình 134,135 của chính phủ. Đảm bảo an sinh và công bằng xã hội đầu tư vào những khu vực khó khăn để vực dậy n ền kinh tế của khu vực đó tạo công ăn việc làm,cải thiện và nâng cao chất l ượng cu ộc Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D 14
  15. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài sống,khắc phục thiên tai,bệnh dịch và thực hiện cún trợ xã hội... Đầu thập niên 1990, Việt Nam chuyến sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ đói nghèo đã được nhận rõ, do đó bên cạnh việc được hỗ trợ từ bên ngoài, việc tích cực sử dụng và sử dụng thông minh nguồn vốn trong nước là một vấn đề mang tính quyết đ ịnh hiệu quả của công cuộc này. 2. Nguồn vốn đầu tư nưóc ngoài đóng vai trò quan trọng: Nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã thực sự góp phần chuyển dịch cơ cấu của nền kỉnh tế Việt Nam từ tập trung sang nền kinh tế thị trường, đồng thời nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp. Thúc đấy sự chuyến dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; mở ra nhiều ngành nghề, nhiều sản phẩm mới đa dạng, phong phú, đấy mạnh xuất khâu tạo nguồn dự trữ ngoại tệ cho nhà n ước; đã dẫn nhập những công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên ti ến vào vi ệc phát tri ển kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động,... Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng bền vững ở tất cả các địa phương trong c ả n ước, góp phần thúc đẩy chuyến giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam trong m ột số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viẽn thông, khí hoá dầu, tin học, ô tô... Bên cạnh đó, đầu tư nước ngoài còn có tác động lan toả đến các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế thông qua s ự liên k ết doanh nghiệp. Trong 20 năm qua, đầu tư nước ngoài cũng đã đem lại cho Vi ệt Nam những cơ hội được tiếp cận và mở rộng thị trường thông qua hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới. Nhờ đó năng lực xuất khẩu của doanh nghi ệp Việt Nam cũng được nâng lên. Đóng góp quan trọng dễ thấy nhất đó là tăng cường nguồn vốn đầu tư cho tăng trưởng. Chuyến giao công nghệ qua các dự án FDI là một trong nh ững kênh chủ yếu, có tính đột phá đe nâng cao năng l ực công ngh ệ c ủa Vi ệt Nam. Chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI luôn đi kèm với đào tạo nhân lực vận hành, quản lý và nhờ học qua làm (learning by doing), nh ờ đó đã hình thành được đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật có trình độ, tay nghề khá cao. Đẩy mạnh xuất khẩu cũng là đóng góp nổi bật, thể hiện rõ nét vai trò của FDI trong suốt 20 cải cách kinh tế vừa qua. Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D 15
  16. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài Nhìn chung, đầu tư nước ngoài đóng góp đáng kế vào s ự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Các dự án đầu tư nước ngoài đã làm thay đối dần đời sống sản xuất, kinh doanh của địa phương, có tác dụng kích thích sản xuất của các thành phần kinh tế khác phát triển. Bên cạnh đó, kết quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cũng khả quan trong năm 2003 và được Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Ke ho ạch và Đ ầu t ư) đánh giá là “... Có sự chuyến biến mạnh mẽ, đạt mức tăng trưởng cao h ơn các thành phần kinh tế khác”. Cụ thế, năm 2003, doanh thu của khu vục này đạt 16 tỉ USD, tăng hơn 30% so với năm trước, trong đó riêng doanh thu xu ất khẩu đạt 6,3 tỉ USD, chiếm 31% tống kim ngạch xuất khẩu cả n ước. Nhờ những kết quả trên nên khu vực đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng 14,3% GDP cả nước. Trên 4.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư n ước ngoài đã tạo việc làm ổn định cho khoảng 700 ngàn lao động trong n ước, chưa kể nh ững lao động gián tiếp tại các vùng nguyên li ệu trên ph ạm vi toàn qu ốc. Các d ự án đầu tư nước ngoài đã khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng, làm thay đối cơ cấu kinh tế địa phương cũng như vùng lãnh thố, tạo cơ hội đấy m ạnh sự họp tác, liên kết kinh tế trong phạm vi tỉnh, thành ph ố. Năm 2003, m ột s ố địa phương đã tăng cường xúc tiến đầu tư với hoạt động xúc tiến trực tiếp ở cả trong, ngoài nước và thu được những kết quả tích cực, như Nghệ An, Quảng Nam, Bình Dương... Tạo việc làm cũng là đóng góp quan trọng, không th ế ph ủ nh ận của khu vực Đầu tư nước ngoài. Khi đầu tư vào Việt Nam, khu vực đầu tư nước ngoài đã thành lập ra rất nhiều việc làm ở các lĩnh vực mà nó đầu tư vào, trong đó nhiều lao đ ộng đã được đào tạo ở trong và ngoài nước. Mặc dù so v ới các doanh nghi ệp v ừa và nhỏ thì số việc làm được tạo ra còn hạn chế, nhưng “chất lượng” c ủa lực lượng lao động trong khu vực đầu tư n ước ngoài tốt hơn rõ r ệt. Nhi ều cán bộ, công nhân trong khu vục này đã và đang là những “hạt nhân” đ ể phát triền lực lượng lao động trình độ, tay nghề cao c ủa Việt Nam. Thêm vào đó, số việc làm tạo ra nhờ hiệu ứng lan tỏa của khu vực đầu tư nước ngoài cũng có thể là một con số đáng kế. Mặt khác, trong suốt 20 năm qua, vồn đầu tư nước ngoài đã đóng góp đáng kế vào nguồn thu ngân sách Nhà nước cũng nh ư đưa vào ngân sách đáp ứng mục tiêu chi cho đầu tư phát triển của nhà nước. Đầu tư nước ngoài góp phần phát triển thương hiệu quốc gia Nhận thức được rõ ràng vai trò quan trọng của vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế, việc tìm cách thu hút nguồn vốn này cho phát trien kinh tế càng quan trọng. Đối với nhà đầu tư nước ngoài, khi quyết định đầu tư vào m ột qu ốc gia nào thì đó không chỉ đơn thuần là nơi đặt nhà máy sản xuất mà qu ốc gia Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D 16
  17. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài đó còn đem lại những lợi thế về sản phẩm do nhận thức về hình ảnh và tên tuổi của đất nước nơi đặt nhà máy đem lại cho nhà đầu tư. Vì thế, phát triển một thương hiệu quốc gia để thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài là một công việc rất quan trọng, đặc bi ệt là đối v ới những nước đang phát triển như Việt Nam. Chiến lược thu hút vốn đầu tư nước ngoài cần nằm trong m ột kế hoạch tông thê xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia. Phát tri ển thương hiệu quốc gia dành cho vốn đầu tư nước ngoài là các hoạt động xúc tiến nhằm tạo ra một hình ảnh hấp dẫn về một quốc gia như là m ột địa điểm đầu tư lý tưởng.. Do đó, phát triển thương hiệu vốn đầu tư nước ngoài thường được những cơ quan xúc tiến đầu tư quốc gia chịu trách nhiệm thực hiện để cung cấp thông tin cho những nhà đầu tư tiềm năng và cung cấp dịch vụ cho những đầu tư tương lai. Phát triển thương hi ệu quốc gia đ ể thu hút vốn đầu tư nước ngoài không phải là một công việc mới mẻ, nh ưng ti ến trình này chỉ trở nên mạnh mẽ hơn khi quá trình toàn cầu hóa đã tạo ra sự tăng trưởng chưa từng có các nguồn vốn đầu tư n ước ngoài t ừ nh ững n ước phát triển và đang phát triển. Phát triến thương hiệu quốc gia cho ngu ồn v ốn này có tính bền vững hơn so với các công cụ khác đê thu hút v ốn n ước ngoài như các chính sách ưu đãi về thuế, đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ c ủa chính phủ, xây dựng các khu chế xuất. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài là nguồn cung ngoại tệ đáng kể, đăm bảo cho nhu cầu ngoại tệ của đất nước, nâng cao năng l ực xu ất nhập khẩu, đầu tư ra nước ngoài và trả nợ, tạo đà tăng tr ưởng v ả phát triển. Mối quan hệ giữa hai nguồn vốn, có phải đon thuần ch ỉ là tăng thêm về lưọìig??? Như chúng ta đã biết, đầu tư phát triển là một điều sống còn trong thời đại ngày nay, chỉ có đầu tư phát triển và mở rộng sản suất thì m ới có th ể có khả năng tồn tại và phát triển trong thời đại này, và không chỉ có đ ầu t ư trong nước mà các doanh nghiệp còn vươn cánh tay của mình ra n ước ngoài.Trong phạm vi của đề tài này thì chúng ta chỉ xem xét t ới ảnh h ưởng của hai nguồn vốn trong nước và nước ngoài đối với các nước ti ếp nh ận nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài vào. Đầu tiên chúng ta có thế thay ngay được rằng, nguồn vốn n ước ngoài làm gia tăng nguồn vốn của toàn xã hội, xét về mặt số l ượng thì hai ngu ồn vồn này cộng lại với nhau thành 1 nguồn lực lớn hơn. Tuy nhiên, d ưới góc độ kinh tế thì chúng ta không chỉ đơn thuần xem xét về m ặt số l ượng mà Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D 17
  18. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài chúng ta còn phải tìm hiêu sự tương tác giữ hai nguồn vốn, khi nào chúng bô sung, hồ trợ cho nhau, và khi nào chúng kìm hẫm nhau, làm cho n ền kinh t ế bị ảnh hưởng và lâm vào tình trạng khó khăn?? Li ệu rằng v ốn đầu t ư n ước ngoài có thê thay thế cho vốn trong nước hay chỉ là sự bố sung đ ế t ạo xung lực phát triển??? Phần này chúng ta sẽ giải quyết để làm sáng tỏ những câu hỏi đó. Xét trên phép tính ban đầu, chúng ta có ba trường hợp: 1+1=2: Đây không chỉ là sự kết hợp về mặt số lượng mà còn thể hi ện sự riêng rẽ về tác động của 2 nguồn vốn. Điều này chứng tỏ vi ệc chưa có sự tương tác giữa 2 nguồn vốn, đây là truửng họp rất hi ếm gặp và thường khó xảy ra trong thực tế, thực chất điều này chỉ đúng khi xét về số lượng, còn hai nguồn vốn trong nước và nước ngoài thực tế luôn v ận đ ộng và tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau. Tuy nhiên đi ều này có th ể đúng v ới giai đoạn đầu trong quá trình vốn nước ngoài mới được chuyên vào các n ước đang và chậm phát triển, lúc này thì vốn n ước ngoài ch ưa k ịp phát huy tác hết tác dụng của mình. 1+I>2: Khi hai nguồn vốn tương tác với nhau đã thúc đấy sự hồ trợ phát triển giữa hai nguồn vốn tạo thêm các giá trị gia tăng tích cực, thể hiện qua: Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, nhu cầu vốn cho tăng trưởng và phát triển là rất lớn, tuy nhiên tiềm lực về kinh tế tài chính l ại có hạn, vì vậy việc có thêm nguồn vốn ngoài n ước là khá quan tr ọng, góp tăng tông vốn đầu tư cho toàn xã hội trong công cuộc phát tri ển kinh t ế xã h ội. Một khi hiểu, nắm rõ và vận dụng hiệu quả mối quan hệ hữu cơ giữa hai nguồn vốn này, sẽ góp phần làm gia tăng của cải của quốc gia đó. Đi ều này được thể hiện qua các khía cạnh cụ thế như: Góp phần làm tăng tính đa dạng của trong các lo ại hình doanh nghi ệp. Bên cạnh những doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân còn có thêm các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Tức là việc xuất hiện nhiều loại hình doanh nghiệp m ới và nhiều lĩnh v ực, thành phần kinh tế mới ra đời ra môi trường kinh doanh c ạnh tranh, bu ộc các doanh nghiệp trong nước phải gia tăng khả năng cạnh tranh c ủa mình đế có thể tồn tại và phát triển khi phải đối đầu với các doanh nghi ệp có v ốn đ ầu tư nước ngoài có lợi thế hơn về nhiều mặt. Việc xuất hiện nhiều lo ại hình doanh nghiệp với các hình thức sở hữu vốn khác nhau phù h ợp v ới trình đ ộ lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở Việt Nam. Phát triến kinh doanh đa dạng linh hoạt cũng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống c ủa người dân trong nước: nhiều mặt hàng,dịch vụ mới ra đời đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng. Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D 18
  19. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài Bên cạnh đó, hai nguồn vốn có tác động với nhau và tác đ ộng t ới chuy ến dịch cơ cấu kinh tế: nhanh chóng, đúng hướng và ngày càng hoàn chỉnh. Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội được đầu tư nâng cao hơn . Ngoài ra mối quan hệ giữa hai nguồn vốn còn góp phần thúc đấy phát triển năng lực khoa học công nghệ cho quốc gia, đặc biệt là qua các dự án có vốn đầu tư trục tiếp nước ngoài. Tạo cú hích cho khoa học công nghệ:thông qua việc chuyên giao công nghệ. Điều này thê hiện ở việc chuyển giao công nghệ tiên tiến, đào tạo, nâng cao chất lượng nhân lực. Các doanh nghi ệp trong nước, muốn cạnh tranh được cũng buộc phải học hỏi, nâng cao các năng lực này của mình. Nhờ đó góp phần tạo ra một n ền khoa h ọc công nghệ tiên tiến cho quốc gia cũng như nguồn nhân lực chất lượng cao. Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội được đầu tư nâng cao hơn:những nguồn vốn vay ưu đãi của nước ngoài giúp Chính phủ đầu tư tốt h ơn cho c ơ sở hạ tầng,và giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội. Khi nhận thức rõ ràng về mối quan hệ tích cực giữa hai nguồn vốn, sẽ góp phần sử dụng hiệu quả và có chất lượng, điều này góp phần nâng cao vị thế của quốc gia trên trường thế giới cũng như uy tín c ủa thương hi ệu quốc gia. I+I
  20. Mối quan hệ giữa nguồn vôn trong nước và nguồn vôn nước ngoài Trong giai đoạn đầu do nhu cầu vốn nghiêng về đầu tư cho hệ th ống cơ sở hạ tầng và phát triển nông nghiệp, tỉ lệ này thường là thấp( 1 đ ồng vốn nước ngoài cấn 1-1,5 đồng vốn trong n ước). Ớ giai đo ạn sau, khi các chương trình đấu tư nghiêng về các ngành công nghiệp chế bi ến, có hàm lượng vốn và kĩ thuật cao thì tỉ lệ này thường tăng lên ( 1/ 1,5- 2,5) Nói chung đây là những tỉ lệ bắt buộc về mặt kĩ thuật, nó đòi h ỏi phải đáp ứng đầy đủ nếu không muốn làm giảm hiệu quả đàu tu của vốn n ước ngoài. Khi phân tích kinh nhiệm của hàng loạt các nước đang phát tri ển, người ta nhận thấy rõ rang không phải cứ một quốc gia c ứ vay mượn nhi ều v ốn nước ngoài thì đều đạt mức tăng trưởng cao. Chân lí thực ti ễn ở đây d ường như ngược lại: đa số các nước vay mượn nhiều nhất đều không đạt tốc đ ộ tăng trưởng tương xứng, thậm chí còn bị suy thoái và quá t ải vì n ợ. M ột lí do hiến nhiên là các nước này không bảo đảm được tương quan hợp lí giữa vốn vay nước ngoài và vốn đối ứng trong nước. Ket quả tất yêu hoặc là hiệu quả vốn đầu tư sản xuất rất thấp, hoặc là phải chuyến một phần lớn vốn vay sang đầu tư tiêu dùng( nhập khấu hàng tiêu dùng). Với mô hình phát tri ển hướng nội, thúc đẩy sản xuất thay thế nhập khẩu, nói chung n ền kinh t ế d ễ sa vào khuynh hướng huy động và sử dụng vốn nước ngoài theo kiểu này. Ớ nước ta ngay trong thời bao cấp, đã trả giá không ita cho việc rút ra bài học này khi tiếp nhận và sử dụng viện trợ từ các nước bạn. Vấn dề đặt ra ở đây là cần phải chuẩn bị nguồn vốn đối ứng đủ khi đặt chương trình vay mượn quốc tế và thu hút rộng rãi đậu tư nước ngoài vào trong nước. Nhiệm vụ có liên quan là xác định rõ lịch biểu (ti ến đ ộ) v ốn chảy vào để có thế có các giải pháp huy động vốn trong n ước k ịp th ời. Các giải pháp này bao gồm trong cơ chế kích thích tiết kiệm và huy đông vốn tập trung qua ngân hàng. Chúng liên quan tới toàn bộ hệ thống điều ti ế vĩ mô thông qua các công cụ tiền tệ. Kinh nghiệm tạo vốn đối ứng của các nước châu Á nói chung là rất hữu ích và đa dạng dồi với những nước đi sau như chúng ta. Những gi ải pháp ấy chúng ta sẽ nghiên cứu kĩ hơn trong phần sau của đề tài. Thứ hai: Nợ nước ngoài và thâm hụt ngân sách. Ớ phần trên chúng ta vừa nghiên cứu và chỉ ra rằng vốn đầu tư nước ngoài là một nguồn đ ể trang trải và bù đắp sự thâm hụt ngân sách. Tuy nhiên ở phần này thì ta lại nêu ra một quan điếm mới rằng vốn đầu tư nước ngoài có thế gây nợ, điều đó là đương nhiên, nhưng tại sao lại gây thâm hụt ngân sách- đi ều ngày có đúng không, chúng ta hãy cùng nghiên cứu. Xét với nguồn vốn hỗ trợ chính thức (ODA) dù có điều kiện ưu đãi cao nhất, cho đến các khoản vốn vay thương mại thông thường trên thị Nhỏm 5 - Kinh tế đầu tư 49D 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2