intTypePromotion=3

Đề tài: Thực trạng về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

Chia sẻ: Quangvinh Quangvinh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:34

0
490
lượt xem
141
download

Đề tài: Thực trạng về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài: Thực trạng về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam nhằm vạch ra những hướng quản lý, từ đó sẽ sử dụng đất đảm bảo hiệu quả, phù hợp với yêu cầu quản lý từ đó sẽ sử dụng đất đảm bảo hiệu quả phù hợp với yêu cầu quản lý đất đai của Nhà nước. Mời các bạn tham khảo đề tài để nắm bắt nội dung chi tiết.

 

 

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Thực trạng về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

  1. Phần mở đầu Đất đai đóng vai trò quyết  định sự tồn tại và phát triển của sinh vật   và loài người trên trái đất. Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động kinh  tế  xã hội, đất đai là tư  liệu sản xuất chủ  yếu không thể  thay thế  trong   nông nghiệp, là yếu tố  quan trọng nhất cấu thành bất động sản và thị  trường bất động sản. Đất đai còn là một trong những bộ  phận lãnh thổ  của mỗi quốc gia. Chính vì vậy mà điều 1 chương I luật đất đai có ghi:  đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý, nhà nước  giao cho các tổ  kinh tế  đơn vị  vũ trang nhân dân, cơ  quan nhà nước tổ  chức chính trị xã hội, hộ gia đình và cá nhân ổn định lâu dài. Đất nông nghiệp là một thành phần cấu tạo nên quỹ đất nên phải có   những giải pháp hợp lý trong quản lý và sử dụng đất nông nghiệp. Đất nông nghiệp là đất để  canh tác và những mảnh đất nay có điều   kiện thuận lợi. Đất nông nghiệp có rất Ýt nên vấn đề cần cải tạo và quản lý đất nhà  nước là vấn đề cấp thiết. Mục đích nghiên cứu để  vạch ra những hướng   quản lý, từ  đó sẽ  sử  dụng đất đảm bảo hiệu quả, phù hợp với yêu cầu   quản lý từ  đó sẽ  sử  dụng đất đảm bảo hiệu quả  phù hợp với yêu cầu   quản lý đất đai của nhà nước. Nhiệm vụ  nghiên cứu thực trạng về  đất nông nghiệp  ở  nước ta để  cùng nhau bảo đảm và sử dụng hợp lý quỹ đất nông nghiệp. Đề  tài được nghiên cứu bằng phương pháp duy vật biện chứng và  phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp thống kê. Phạm vi nghiên cứu trên lãnh thổ Việt Nam với toàn bộ quỹ đất nông   nghiệp.
  2. Chương I Cơ sở khoa học việc sử dông  đầy đủ và hợp lý I. Khái niệm và đặc điểm. 1. khái niệm. Đất nông nghiệp là đất được sử  dụng chủ  yếu vào mục đích sản   xuất nông nghiệp như  trồng trọt. chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ  sản hoặc  nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. 2. Đặc điểm đất nông nghiệp. Đất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng nó vừa là tư  liệu   sản xuất đặc biệt vừa là tư liệu lao động Đất nông nghiệp thuộc loại đất người ta chủ yếu sử  dụng vào mục   đích nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản. Ngoài ra  còn có loại đất thuộc đất nông nghiệp nhưng thực tế không thuộc đất sản  xuất trong nông nghiệp mà nó phục vụ cho các ngành khác. Vì vậy chỉ có   loại đất sử  dụng vào mục đích nông nghiệp mới được coi là đất nông  nghiệp. Những diện tích đất đai phải qua cải tạo mới đưa vào hoạt động sản  xuất nông nghiệp được coi là đất có khả năng nông nghiệp. Nhà nước xác  định mục đích sử dụng chủ yếu của đất nông nghiệp là sử dụng vào mục   đích nông nghiệp, song do đặc điểm tình hình từng loại đất nay có sự khác  nhau dẫn đến sử  dụng cụ thể  khác nhau. Vì vậy, người ta chia đất nông  nghiệp thành 4 loại: + Đất nông nghiệp hàng năm:  Bao gồm phần diện tích đất nông nghiệp dành để  trồng cây các loại  cây ngắn ngày bao gồm: diện tích đất trồng lúa, diện tích đất trồng lúa   cộng với trồng màu, diện tích đất gieo mạ, diện tích đất nương rẫy, diện   tích đất trồng cây hàng năm khác. + Đất trồng có dùng cho chăn nuôi:
  3. Là loại đất dùng chủ  yếu cho chăn nuôi đó là diện tích đất chuyên  trồng có cho chăn nuôi, đất đồng cỏ tự nhiên đã được quy hoạch, cải tạo  và chăm sóc nhằm mục đích nuôi gia sóc. + Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản:  Là toàn bộ  diện tích mặt nước sử  dụng vào mục đích nuôi tôm có,  nuôi trồng thuỷ  sản khác như: ao, hồ, đầm. Ngoài ra các loại đất mặt   nước có thể nuôi thuỷ sản nhưng không nhằm mục đích thuỷ sản như các  hồ sông phục vụ chủ yếu cho thuỷ lợi trong nông nghiệp. + Đất trồng cây lâu năm:  Là toàn bộ diện tích đất được dùng để trồng các cây dài ngày, trồng  một lần có thể  cho thu hoạch nhiều lần và có chi phí kiến thiết cơ  bản  đáng kể: như trồng dừa, mía, chuối... Đất nông nghiệp  ở  nước ta phân bổ  không đều giữa các vùng trong  cả  nước. Vùng đồng Bằng sông Cửu Long có tỷ  trọng lớn nhất của cả  nước chiếm 67,1% diện tích toàn vùng và vùng đất trũng. Độ  phì và độ  màu mỡ của các vùng khác nhau, trong đó vùng đồng vằng Sông Hồng và  đồng   bằng sông Cửu Long có độ  màu mỡ  cao chủ  yếu là đất phù sa  chiếm tỷ  lệ  lớn so với các vùng khác. Còn vùng Đông Nam Bộ  và Tây   Nguyên phần lớn là đất bazan. Đất nông nghiệp Việt Nam chiếm tỷ lệ rất lớn tổng diện tích đất tự  nhiên của cả  nước. Với quỹ  đất như  vậy sẽ  bảo đảm cho nguồn lương   thực, thực phẩm tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Do đó đặc điểm tự  nhiên kí hậu cận nhiệt đới lên thực vật Việt Nam rất đa dạng nên sản  xuất nông nghiệp  ở nước ta cũng rất đa dạng và phong phú. ở  miền Bắc  nước ta có 4 mùa rõ rệt vì vậy sản xuất nông nghiệp mang tính mùa vụ. ở  miền   Nam   có   2   mùa  (mùa  mưa   và  mùa   khô)   nên   việc  sản   xuất   nông  nghiệp rất thuận lợi. Vậy để  sử  dụng đất nông nghiệp cần có các biện pháp nhằm nâng  cao và sử dụng đất đai hiệu quả nhất. 3. vai trò của đất nông nghiệp. Đất nông nghiệp là loại đất phù hợp cho trồng cây lương thực, cây   hoa màu và chỉ trồng trên đất nông nghiệp thì mới cho hiệu quả cao đảm  bảo cho sự  tồn tại, duy trì và phát triển của các loại cây lương thực, hoa 
  4. màu trên. Phát triển kinh tế nông nghiệp chủ yếu do quỹ đất nông nghiệp  và tính chất đó là yếu tố  cơ  sở  nền tảng và làm tiền đề  để  cho sự  phát  triển II. vai trò của việc sử dụng đất nông nghiệp trong sự phát triển kinh   tế xã hội. ­ Đất nông nghiệp là sản phẩm tự  nhiên có trước lao động và cùng  với sự  phát triển của xã hội, là điều kiện chung của lao động. Đất nông  nghiệp quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. ­ Đất nông nghiệp tham gia vào các ngành sản xuất lương thực, thực   phẩm như ngành thuỷ sản, ngành trồng trọt, chăn nuôi, ngoài ra còn tham   gia vào các ngành thuỷ lợi, giao thông... ­ Đất đai và cùng với các điều kiện tự nhiên khí hậu của đất nước là  một trong những cơ  sở  quan trọng nhất để  hình thành các vùng chuyên  canh nhằm khai thác sử dụng hiệu quả các tiểm năng tự nhiên ở mỗi vùng  đất nước. Đất nông nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng là yếu tố hàng đầu của   ngành sản xuất nông nghiệp. Nó không chỉ  là chỗ  tựa, chỗ  đứng của lao  động mà còn cung cấp thức ăn cho cây trồng mọi tác động của con người   vào cây trồng đều dùa vào đất đai. Đất nông nghiệp là tự  liệu sản xuất   chủ yếu không thể thay thế được, nó là đối tượng lao động vừa là tư liệu  lao động. Con người lợi dụng một cách có ý thức các tính chất tự  nhiên  của đất đai như lý học, hoá học, sinh vật, các tính chất khác để  tác động  lên cây trồng. III. những nhân tố ảnh hưởng tới việc quản lý và sử dụng đất đai và  biện pháp chủ yếu trong sử dụng đất nông nghiệp. 1. những nhân tố ảnh hưởng tới việc quản lý và sử dụng đất nông           nghiệp.    a.Khách quan.    *.Điạ hình:    Nước ta có địa hình phức tạp chủ yếu là đồi núi vì vậy ảnh hưởng trực   tiép đến việc sử  dụng đáat nông nghiệp. Do đòi núi nhiều dẫn tới diện   tích sử  dụng cho đất nông nghiệp Ýt.§Þa hình phức tạp  ảnh hưởng tới  
  5. việc vận chuiển sản phẩm nông nghiệp :vận chuiển khó khăn,chi phí vận  chuiển cao .Đây là nguyên nhân dẫn tới việc sử  dụng đất nông nghiệp  chưa cao.     *.Khí hậu: việtNam có điều kiện khí hậu cận nhiệt đới gió mùa cho lên trong quá  trình sản xuất nông nghiệp phải thoe mùa vụ  khong liên tục.  ảnh hưởng  tới các ngành chế bién nông sản .      b.Chủ quan.    *.Dân sè:        Đây là một vấn đề  đáng quan tâm đối với quá trínhử dụng đất nông  nghiệp .Ơ nước ta hiện nay dân số là7633900 chiếm 78%dân số  trong cả  nước với số  liệu này thì mật độ  dân số   ở  nông nghiệp là quá đông. Mặt   khác sự  phân bố  dân số  dữa các vùng không đồng đều dẫn tới việc sử  dụng đất nông nghiệp không hiệu quả  ,ví dụ  như  khu vưc đồng bằng   Sông Hồng  Đòng bằng Sông Cử  Long mật đọ  dân số  quá đông ,còn khu  vực miền núi dân số thưa thít . *. Tác động của quá trình đô thị hóa. Do nhu cầu phát triển kinh tế  ­ xã hội nên quá trình đô thị  hóa dẫn  tới đất nông nghiệp bị  thu hẹp khá lớn để  phục vụ  cho nhu cầu xây  dựng nhà ở  đô thị  của dân cư, của các đơn vị  cơ  quan Nhà nước và xây   dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật. Do vậy gây ảnh hưởng rất lớn tới   công tác quản lý đất đai bởi các lý do chủ yếu là: * Do tác động của quá trình đô thị  hóa, dân cư  biến động cơ  học  dẫn đến tăng nhu cầu về đất xây dựng, tình trạng mua bán đất trái phép,  mua bán đất nông nghiệp để  xây dựng nhà  ở  phát sinh rất phức tạp.  Hiện tượng vi phạm pháp luật đất đai của các cá nhân, tổ  chức... kèm   theo đó là tình trạng vi phạm về công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị. * Quá trình đô thị hóa đòi hỏi phải sử dụng diện tích đất ngày càng  nhiều để xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị và các công trình phục vụ đời   sống văn hóa, phát triển sản xuất trong khi đó quỹ đất đai lại có hạn.
  6. 2.Biện phá khắc phục. +Xây dựng hệ  thống giao thông vận tải đảm bảo cho việc vận  chuyển nông nghiệp tới nơi tiêu thụ, chế biến . +Cần phải có biện pháp làm giảm việc tăng dân số  ,và đưa ra các  chính sách nhằm chuiển dịch cơ  cấu dân số  giữa các vùng sao cho cân  đối giữa các vùng ,ví dụ chính sách khuyến khích người dân di cư tới các   vùng kinh tế mới. +Cần phải đưa các giống cây trồng cho năng suất cao và chịu đươc  sự  biến đổi khí hậu của từng vùng nhằm đảm bảo cung cấp sản phẩm   nông   nghiệp   một   cách   liên   tục   .Khuyên   khích   phat   triển   cây   công  nghiệp,cây ăn quả,cây lâu năm. III. Quỹ đất nông nghiệp ở nước ta. Đất nước chúng ta trải dài từ  Bắc đến Nam với việc phân thành 7   vùng kinh tế để tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế nói chung và nông  nghiệp nói riêng. Quỹ  ruộng đất là tổng thể  về  diện tích ruộng đất trên một vùng   lãnh thổ theo mét ranh giới nhất định, nằm trong phạm vi một đơn vị sản   xuất (hộ  gia đình, doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp ....) của một địa  phương như xã, huyện, tỉnh hay cả nước. Tổng quỹ  đất nông nghiệp  ở  Việt Nam là: 7.637.710 ha, đối với   mỗi đơn vị sản xuất, mỗi địa phương quỹ đất nông nghiệp là có giới hạn  về mặt diện tích. Đặc trưng của các loại quỹ đất được quy định bởi đặc  điểm của đ. Trong đó, đặc điểm có tính hữu hạn về  số  lượng đất đai và  tính vô hạn về sự sinh lời của đất đai chi phối một cách rõ rệt nhất.  Tuy nhiên, trong các quỹ  đất, quỹ  đất tự  nhiên mang tính bao trùm  và được phân thành các loại khác nhau. Mỗi loại đất hình thành mỗi quỹ  riêng (trong đó có quỹ đất nông nghiệp). Vì vậy, quỹ đất nông nghiệp và  một số  quỹ  đất chuyên dùng khác có sự  biến động nhất định. Sự  biến   động của quỹ đất nông nghiệp sẽ diễn ra theo hai hướng.
  7. Hướng thứ  nhất: Thu hẹp quỹ đất nông nghiệp do quá trình đô thị  hoá, do sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, do sự hình  hành các trung tâm công nghiệp mới, .... chỉ  tính riêng  ở  Thủ  đô Hà Nội   trong khoảng 4 năm từ  1994 đất nông nghiệp giảm 1.300 ha. Việc hình  thành nhiều khu chế  xuất, khu công nghiệp đã làm giảm quỹ  đất nông   nghiệp. Bởi vậy, việc bố  trí quy hoạch để  sử  dụng đất đạt hiệu quả  sử  dụng cao và tránh tình trạng xây dựng, quy hoạch trên đất nông nghiệp. Hướng thứ  hai: Tăng quỹ  đất nông nghiệp bởi vì nhu cầu về  lao   động và thu nhập, do nhu cầu về  các sản phẩm nông nghiệp ngày càng  tăng, dân số ngày càng Đông nên việc khai khẩn đất hoang hoá để đưa vào   sản xuất nông nghiệp tăng lên. Đây là xu hướng vận động theo chiều rộng  là vấn đề  cần được khuyến khích và thực hiện theo những chính sách,  tính toán của Nhà nước, theo những định hướng, những mục tiêu đã đề ra. Quỹ đất nông nghiệp được cấu thành từ các loại đất khác nhau, tuỳ  theo mục đích sử  dụng của chúng. Nói cách khác, quỹ  đất nông nghiệp  được  phân thành các loại khác nhau. Khi mục  đích sử  dụng  đất nông  nghiệp thay đổi làm cho số lượng loại đất này tăng lên, loại đất kia giảm   đi. Quỹ đất nông nghiệp có sự biến động trong nội bộ của nó cùng với sự  biến động các loại quỹ đất trong tổng quỹ đất tự nhiên, ở  từng loại quỹ  đất cũng có sự biến đổi. Đối với quỹ  đất nông nghiệp, sự  biến động trong nội bộ  của nó  thương   theo   xu   hướng:   Giảm   dấn   diện   tích   trồng   cây   lương   thực   để  chuyển sang trồng các loại cây khác. Xu hướng biến động này do trình độ  sản xuất ngày càng cao, nhờ  thành tựu của cách mạng khoa học ­ kỹ  thuật, cách mạng xanh năng suất cây lương thực đã tăng lên đảm bảo an   toàn lương thực, từ  một nước thiếu ăn, nước ta đã trở  thành nước xuất   khẩu gạo. Xuất khẩu gạo của đất nước ta chiếm  ưu thế  về  số  lượng   nhưng chất lượng thì còn kém và thua so với chất lượng gạo của các 
  8. nước như Thái, Mỹ. Đòi hỏi phải thay thế, chuyển đổi các loại cây trồng  nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cũng như nâng cao hiệu quả kinh tế  của cây trồng. Mặt khác, do sự  phát triển của hệ  thống kết cấu hạ tầng   nông thôn, đặc biệt là của hệ thống giao thông đã mở ra khả năng giao lưu   hàng hoá làm cho việc chuyển sang trồng các loại cây trồng khác mang  tính thiết thực hơn như cây ăn quả và cây công nghiệp.  Vấn đề giao thông phải thật sự cải thiện tốt, đảm bảo cho sự  vận   chuyển thuận lợi nhanh chóng để đưa ccc sản phẩm ra thị trường trao đổi   thì   mới   tránh   được   hình   thức   sản   xuất   tự   cung   ­   tự   cấp   tại   mỗi   địa  phương. Trong quỹ  đất trồng cây lương thực cũng như  quỹ  đất trồng các   loại cây trồng khác đã dần dần thay thế  những cây trồng có chất lượng  thấp bằng cây có chất lượng và hiệu quả kinh tế cao theo hướng khai thác   lợi thế  của vùng. Ví dụ: Ngay trong ngành trồng lúa xu thế  thay các loại  lúa có năng suất cao nhưng chất lượng thấp bằng các loại lúa cổ  truyền  có chất lượng cao ngày càng tăng. Trong quỹ đất đai của cả nước, quỹ đất nông nghiệp đứng thứ 3 về  tỷ trọng và có xu hướng tăng trong thời kỳ 1980 trở lại đây. Nguyên nhân   chủ  yếu là do tác động của cơ  chế  quản lý và sử  dụng đất đai đã tạo  động lực để  người nông dân tích cực khai hoang, tăng vụ  mở  rộng diện  tích... đưa đất đai vào hoạt động nông nghiệp. Với những chính sách của  Nhà nước đã từng bước cải tạo Đồng Tháp Mười, cải tạo đất  ở  Đồng  bằng sông Cửu Long đã làm tăng quỹ đất nông nghiệp. Quỹ  đất nông nghiệp có sự  biến động theo xu hướng tỷ  trọng đất  trồng cây hàng năm giảm dần từ 86,4% năm 1980 xuống còn 72,5% năm   1997;  tỷ  trọng  đất  trồng cây lâu năm tăng dần từ  7,9%  năm 1980 lên  18,98% năm 1997. Biến động quỹ đất nông nghiệp từ 1980­1997
  9. Đơn vị: 1.000 ha Các loại đất 1980 1985 1990 1994 1997 Đất nông nghiệp trong cả  6.913, 6.942, 6.993,2 7.367,2 7.367,72 nước 4 2 1. Đất trồng cây hàng năm 5.974, 5.615, 5.339,0 5.463,8 5.553,80 2 8 2. Đất trồng cây lâu năm 549,5 804,8 1.045,2 1.347,7 1.449,60 3. Đất trồng cỏ 272,2 328,6 342,3 221,0 132,50 4. Đất   có   mặt   nước   dùng  117,5 169,8 266,7 334,7 ...... vào   sản   xuất   nông  nghiệp. Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng cục Địa chính. Tuy nhiên, so với quỹ đất chưa sử dụng, đất nông nghiệp chiếm tỷ  trọng nhỏ  hơn còn lượng lớn đất đai chưa được khai thác. Việc đầu tư  khai thác đất nông nghiệp một cách đầy đủ và hợp lý đã và đang được đặt  ra một cách cấp thiết. 2. Phân bố đất nông nghiệp Đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội.  Vì vậy việc phân bổ  quỹ  đất đai đặc biệt là quỹ  đất nông nghiệp bị  chi   phối của hai yếu tố  đó rất mạnh. Phân bố  đất đai theo vùng bị  chi phối  bởi các điều kiện tự  nhiên gắn với đất đai mạnh hơn, còn phân bố  theo   hai loại cây trồng lại bị chi phối bởi các yếu tố về mặt xã hội mạnh hơn. 2.1. Phân bố đất nông nghiệp theo vùng kinh tế Phân bố đất nông nghiệp theo vùng kinh tế trước hết được thể hiện  theo tính tự  nhiên của đất đai. Tức là trong quỹ  đất nông nghiệp của cả  nước, đất nông nghiệp thuộc phân bố  theo các vùng như  thế  nào phụ  thuộc vào đặc tính tự  nhiên của đất đai. Trong đó, các yếu tố  địa hình,   nông hoá, thổ nhưỡng đóng vai trò quyết định.
  10. ở Việt Nam căn cứ vào các yếu tố tự nhiên của đất đai là chủ yếu,  người ta phân quỹ đất đai thành 7 vùng lãnh thổ. Đất Nhà nước phân theo  7 vùng đó như sau: * Vùng Trung du miền núi phía Bắc: Đất nông nghiệp có 1.201.437 ha chiếm 11,67% so với tổng quỹ đất  tự  nhiên của vùng. Đất nông nghiệp  ở  đây chủ  yếu trồng cây hàng năm  (lúa rẫy, sắn, đậu, đỗ....). Phần lớn đất nông nghiệp  ở  vùng này là cây  công nghiệp dài ngày (chè, cà fê, ....) và cây ăn quả. Nhờ  thành tựu phát   triển sản xuất lương thực của cả nước, nhờ các cơ  sở  hạ  tầng của vùng  đang từng bước được củng cố và xây dựng nên khả năng chuyển đổi cây  trồng và khai thác nông nghiệp của vùng còn rất lớn.  * Vùng Đồng bằng sông Hồng: Đất nông nghiệp có 664.638 ha, chiếm 56,56% so với tổng diện tích   toàn vùng. Đất trong vùng được hình thành và bồi tụ  thường xuyên bởi   phù sa của hai hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình nên địa hình tương   đối bằng phẳng, chất lượng đất tốt, rất phù hợp cho việc trồng lúa. Vì  vậy, vùng Đồng bằng sông Hồng được coi là vựa lúa ở các tỉnh phía Bắc.  Do quá trình đô thị hoá, dân số Đông nên đất nông nghiệp bị giảm mạnh. * Vùng Khu Bốn cũ: Đất nông nghiệp 676.707 ha chiếm 13,1% diện tích toàn vùng. Đất  đai  ở  đây chịu  ảnh hưởng mạnh mẽ của điều kiện khí hậu khắc nghiệt.   Bởi vậy, việc mở rộng quỹ đất nông nghiệp của vùng gắn với đầu tư xây  dựng các cơ  sở  hạ  tầng, nhất là các cơ  sở  hồ, đập đã và đang trở  thành   cần thiết. * Vung duyên hải miền Trung: Đất nông nghiệp chiếm 604.956 ha chiếm 12,05% so với quỹ đất tự  nhiên của vùng. Vùng này có sự biến động đất nông nghiệp tương đối lớn   theo hướng giảm cây hàng năm, tăng các loại cây lâm nghiệp bảo vệ môi 
  11. trường.   Từ   năm   1980   đến   1994,   đất   nông   nghiệp   giảm   45.587   ha   để  chuyển sang đất lâm nghiệp. Đất trồng cây hàng năm giảm 93.495 ha, đất  bồi tụ từ các con sông lớn đa số đất nông nghiệp là đất rẫy có độ dốc lớn,   dễ bị rửa trôi khi gặp mưa kéo dài. * Vùng Tây Nguyên: Đất nông nghiệp là 798.358 ha, chiếm 11,2% so với quỹ   đất tự  nhiên của vùng. Tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng đất của vùng Tây Nguyên   là đất đỏ bazan màu mỡ nên rất thích hợp với các loại cây công nghiệp dài  ngày có giá trị  kinh tế  cao như: cà fê, cao su, hạt điều, .... Đất chưa sử  dụng 1.580.342 ha, đất có khả  năng nông nghiệp chiếm tỷ  trọng lớn. Vì  vậy, tiềm năng về nông nghiệp ở vùng này rất lớn.  * Vùng Đông Nam Bé: Diện tích đất nông nghiệp là 1.029.375 ha, chiếm hơn 41,22% quỹ  đất của vùng. Vùng này chủ yếu là đất bazan màu mỡ thuận lợi cho phát   triển các cây công nghiệp dài ngày và các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế  cao. Vì vậy, đây là một trong những vùng kinh tế trù phú, là miền đất có   sức hấp dẫn đối với những người làm nông nghiệp. Tuy nhiên, hiện tại  trong vùng vẫn còn 35.087 ha đất chưa sử dụng, trong đó đất có khả năng   nông nghiệp chiếm tỷ trọng đáng kể. ĐâY là nguồn lực quý giá cần được   khai thác. * Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Đây   là   vùng   đất   nông   nghiệp   chiếm   thành   phần   lớn   đất   nông  nghiệp 2.620.238 ha trong tổng số  3.955.550 ha, chiếm 73,77% diện tích  đất nông nghiệp. Hệ thống đất đai của vùng này được hệ thống sông Cửu   Long bồi tu phù sa thường xuyên nên rất màu mỡ. Vì vậy, đấy được coi là  vựa lúa của cả nước, vùng có sản lượng lương thực và sản lượng lương   thực hàng hoá lớn nhất trong cả nước. Bên cạnh đó tiềm năng về  đất đai   của vùng cũng còn rất lớn. Đất chưa sử dụng chủ yếu là đất nông nghiệp 
  12. và được tập trung ở vùng Đồng Tháp Mười và khu Tứ Giác Long Xuyên.   Để  khai thác tiềm năng này cần đầu tư  một cách đồng bộ  cả  về  kinh tế  và xã hội, từ  khai hoang cải tạo đất đến xây dựng được các kết cấu hạ  tầng kinh tế  kỹ thuật. Giải quyết được các vấn đề  đó việc khai thác mở  ra rất lớn, vùng sản xuất lúa hàng hoá sẽ được mở rộng. 2.2 Phân bố đất nông nghiệp theo cây trồng. Trong tổng số 7.637.710 ha đất nông nghiệp của cả nước, đất trồng   cây hàng năm có 5.553..889 ha, đất trồng cây lâu năm chiếm 1.449.607 ha.   Còn lại là đất đồng cỏ và đất mặt nước có sử dụng vào nông nghiệp. Trong đất trồng cây hàng năm, đất trồng lúa chiếm tỷ trọng lớn hơn   cả. Tổng diện tích trồng lúa năm 1994 là 4.230.077 ha chiếm 54,42% diện  tích đất nông nghiệp. Đất trồng lúa chủ  yếu tập trung  ở  hai vựa lúa của  cả  nước là trồng lúa  ở  Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu   Long. Đất trồng lúa của Đồng bằng sông Hồng là 581.460 ha, của Đồng   bằng sông Cửu Long là 1.957.977 ha chiếm 60,03% diện tích trồng lúa cả  nước. Đây không chỉ là vùng có diện tích lớn nhất, mà còn là vùng có điều   kiện đất đai thuận lợi cho trồng (đất phù sa màu mỡ, điều kiện tưới tiêu  thuận lợi). Vì vậy, hai vùng này có sản lượng lúa cao nhất trong cả nước. Đứng thứ hai trong diện tích cây hàng năm là đất trồng màu và cây   công nghiệp hàng năm vào thời điểm 1994 diện tích màu và cây công  nghiệp hàng năm là 1.075.175 ha, chiếm 19,68% đất trồng cây hàng năm  và 14,59% đất nông nghiệp. Trong đất chuyên trồng màu, đất trồng ngô  ngày càng tăng và từng bước thay thế cho cây khoai lang và cây sắn. Trong  đất trồng cây công nghiệp hàng năm, đất trồng các loại đay, lạc, ... chiếm   tỷ trọng đáng kể và được phân bố chủ yếu ơr các bãi ven sông. Hai vùng   có diện tích cây màu và cây công nghiệp hàng năm lớn nhất nước là vùng   miền núi và trung du Bắc Bộ (diện tích 2.770.807 ha chiếm 25,83% tổng   diện tích cây màu và cây công nghiệp hàng năm cả nước và 27,19% diện  
  13. tích đất nông nghiệp của vùng) và vùng Đông Nam Bộ (diện tích 215.352   ha, chiếm 20,03 diện tích đất cùng loại của cả nước và 22,552% đất nông  nghiệp của vùng). Đất  trồng cây  công nghiệp lâu năm như  cà phê, chè,  cao su, ....   chiếm tỷ  trọng lớn và tập trung  ở  các tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, vùng  Đông Nam Bộ, vùng miền núi trung du Bắc Bộ.  ở  các vùng này đã hình   thành nên các vùng cây ăn quả nổi tiếng như bưởi, xoài, chôm chôm, (Biên  Hoà, Đồng Nai, Sông Bé, ....).  Chương II Thực trạng vê sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam I. Thực trạng về sử dụng đất nông nghiệp trong thời gian qua. 1. Đường lối đổi mới củĐườn a Đảng về ruộng đất ở miền Bắc (1957).          Đảng ta đã chủ  trương tiến hành xây dựng một nên kinh tế  nông   nghiệp theo hai hình thức sở hữ tập thể và sở hữu toàn dân.Theo hình thức  sở hữu này mô hình kinh tế nông nghiệp là tập thể hoá ruộng đất  đưcon   chã nông dân đi vào con đường làm ăn tập thể.  Với hình thức sở hữu tập thể về ruộng đất nên chúng ta đã thực hiện tốt   một số khâu thủy lợi, cải tạo và quy hoạch đồng ruộng,trên thực tế ruộng  đất lại bị lãng phí trong quản lý và sử dụng chế độ sở hữu tập thể với mô  hình hợp tác kiểu cũ đã làm cho nông dân không thiết tha với ruộng đất  lắm, không tạo ra động lực vật chất để  thúc đẩy họ  tích cực sản xuất.   Dẫn đến kém hiệu quả, sản xuất bị trì trệ do không nhận ra điểm bất hợp  lý đó nên sau 1975 mô hình này lại áp dụng vào miền Nam mà không tính  đến sự khác nhau giữa nông nghiệp và nông thôn miền Nam và miền Bắc.  Vì hình thức sở  hữu ruộng đất  ở  miền Nam trong điều kiện nền kinh tế  hàng hoá chứ  không phải nền kinh tế  tự  cung tự  cấp như   ở  miền Bắc   trước khi hợp tác hoá ruộng đất từ  chỗ  có chủ  nhân cụ  thể, trực tiếp có   kinh nghiệm sản xuất nay chuyển sang sở hữu tập thể dẫn đến phát triển  
  14. nông nghiệp chậm chạp , trì trệ  cả  khi coi nông nghiệp là hàng đầu. Từ  thực tế  Đảng ta đã nhận thấy rằng cần phải khắc phục mô hình kiểu cũ  tìm tòi các bước đi và hình thức thích hợp.Để  xây dựng mô hình kinh tế  nông nghiệp phát tryển vững mạnh.          Năm 1979, Nghị  quyết hội nghị  Trung  ương 6 đã cho phép xã viên  mượn đất làm vụ  đông, khuyến khích nông dân tận dụng đất hoang để  sản xuất, tạo thêm sản phẩm cho xã hội. Năm 1981, Ban Bí thư TW Đảng   ra chỉ  thị  số  100 cho phép áp dụng rộng rãi chế  độ  khoán sản phẩm đến  nhóm và người lao động thực chất là đến hộ  gia đình xã viên. Ruộng đất   của tập thể  song hé gia đình được giao đảm bảo nhận nhiều khâu trong   canh tác có thể đầu tư thêm công sức, vật tư, kỹ thuật để tăng sản lượng.  Năm 1986, Đại hội VI đã đề ra đường lối đổi mới trong đó có đổi mới về  quản lý, cơ chế khoán.      Với Nghị  quyết 10 Bộ  chính trị  (4­1988) về  đổi mới quản lý kinh tế  nông nghiệp. Ruộng đất thuộc sở  hữu toàn dân nhưng nông dân đã được  giao khoán ruộng đất ổn định lâu dài hạn.Cùng với Nghị quyết 10 của Bộ  chính trị thì tháng 3/1989, Hội nghị Trung ương VI đã tiến thêm một bước   quan trọng đó là việc xác định lại vị  trí của kinh tế  hộ  gia đình, vai trò   quyền lợi của người lao động. Hộ  gia đình được coi là đơn vị  kinh tế  tự  chủ. Điều đó hoàn toàn phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp của  nước ta hiện nay.     Để tiếp tục hoàn chỉnh đường lối đổi mới, Nghị quyết Hội nghị TV và  Luật đất đai 1993. Với Luật đất đai , Nhà nước đã chính thức giao quyền  sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân dối với cây ngắn ngày là 20 năm,cây   dàI ngày 50 năm.. Người nông dân không chỉ được quyền sử dụng mà còn  được quyền thừa kế, thế chấp, chuyển nhượng, cho thuê đất đai . Sự nới rộng các quyền hạn của nông dân đối với ruộng đất và việc  thể  chê hoá các quyền đó bằng luật pháp Nhà nước tạo điều kiện thuận 
  15. lợi về  kinh tế, pháp lý  để  phát huy tiềm năng to lớn của kinh tế  hộ  gia  đình. Đồng thời thúc đẩy quá trình phân công lao động trong nông nghiệp,  phát   triển   các   ngành   nghề   nông   thôn   là   động   lực   thúc   đẩy   nền   nông  nghiệp phát triển, từng bước chuyển dịch cơ  cấu kinh tế  nông nghiệp   nông thôn theo hướng CNH­HĐH. 2. Thực trạng về quản lý, sử dụng ruộng đất hiện nay. * Về quản lý biến động chủ sử dụng: Hiện nay việc quản lý biến động chủ  sử  dụng đất được thực hiện  với kết quả rất khác nhau giữa các vùng với vùng Đồng bằng sông Hồng,  Trung du miền núi phía Bắc, ven biển miền Trung. Công tác này nhìn  chung diễn ra nền nếp và Ýt phức tạp. Riêng ở Nam Bộ là phức tạp nhất.  ở  các tỉnh này ruộng đất được chuyển nhượng, cầm cố  không đủ  tiền  không chuộc lại. Đến mức Nhà nước trực tiếp là chính quyền địa phương  không thể kiểm soát được.  Trong nội bộ từng vùng cũng có sự  khác nhau về  tình hình quản lý   biến động chủ  sử  dụng đất, nhìn chung  ở  vùng ven đô thị  tình hình biến   động phức tạp hơn vùng sâu, xa. * Về quản lý biến độn mục đích sử dụng đất nông nghiệp. ­Hiện nay nội dung này còn một số bất cập: + Trong xu thế  chuyển sang cơ  chế  thị  trường có sự  quản lý của  Nhà nước, một mặt chúng ta đang khuyến khích quá trình chuyển dịch cơ  cấu kinh tế  nông nghiệp, nông thôn mà xu hướng chung là tăng tỷ  trọng  cây công nghiệp, cây ăn quả, các loại thuỷ  hải sản cao cấp ,.... cho phù  hợp với nhu cầu của thị trường. Song mặt khác, Luật đất đai còn hạn chế  việc chuyển đất trồng lúa, trồng lương thực thành đất nuôi trồng các sản  phẩm khác. + Trên quan điểm bảo toàn lương thực quốc gia, pháp luật đã giới  hạn việc chuyển đất trồng cây lương thực chủ  yếu là đất trồng lúa sang  
  16. nuôi trồng các sản phẩm khác. Song trên quan điểm đảm bảo tăng hiệu   quả kinh tế thì ta lại khuyến khích nuôi trồng các loại sản phẩm có giá trị  kinh tế cao, đang được thị trường chấp nhận chưa có cơ chế thích hợp để  giải quyết mâu thuẫn này. + Chóng ta muốn quy hoạch sử dụng đất để đảm bảo sử dụng đất  nông nghiệp đạt hiệu quả nhất nhưng lại chưa có cơ  chế  hợp lý các chủ  sử  dụng đất  thực hiện theo quy hoạch. Trong quyền tự do kinh doanh theo cơ chế thị  trường, các chủ  sử  dụng đất nông nghiệp được giao 5 quyền: chuyển  nhượng, chuyển đổi, thừa kế, thế  chấp, cho thuê thì chính quy hoạch là  một quá trình quản lý Nhà nước đối với đất nông nghiệp. Song thực tế  một số vùng chưcon chã thực hiện tốt. Điển hình là Tây Nguyên, Trung du  và miền núi.     ở Tây Nguyên:công tác xây dựng và thực hiện quuy hoạch kế hoạch sử  dụng đất nông nghiệp giữa   tỉnh và huyện,giữa   huyện và xã,giữa các  ngành và các cơ quan TƯ trên địa ban còn thiếu sự  phối hợp chặt chẽ.Dẫn tới các tổ  chức,nhân  ở  tỉnh,thành phố khác đều canh tác cao su,cà fê trên địa bàn chưcon chã thee  quy hoạch,hoach tổng thể.Mặt khác viec chặt phá rừng làm lương rẫy của  đồng bào dân téc du canh du cư và di cư tự do là môtnguyen nhân làm tăng  diện tích đất nông nghiệp không quản lý được.lafnguyeen nhân dẫn tới sử  dụng đất nông nghiệp ở Tây Nguyên không hiệu quả.       Còn vùng Trung du và miền núi thì diễn ra theo hai hướng: ­ Hướng truyền thống lạc hậu phá rừng làm rẫycủa đồng bào dân  téc du canh du cư và di dân tự  do đang là moott trong những nguyen nhân   làm tăng diẹn tích đát nông nghiệp không quản lý được. ­ Hướng mới là chuyển đất trồng cây lương thực sang trồng cây ăn   quả  có giá trị  cao cấp. Như  huyện Lục Ngạn­ Bắc Giang hầu hết  đất  
  17. trồng khoai, sắn trước kia nay đã trồng vải, đã ddat hieuj quả  cao.Nhưng   công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp trong nông   nghiệp công tác này diễn ra rất chậm ở ngay thời kỳ sau khi có Nghị định  64/CP ngày 27/09/1993. Nguyên nhân chủ yếu là kinh phí chưa đủ.Nhưng   có một biện pháp để thúc đẩy nhanh và đỡ tốn kém cho quá trình cấp giấy  chứng nhận quyền sử  dụng đất và hạn chế  được tình trạng manh mún  ruộng đết đó  là đổi ruộng đất cho nhau, thúc đẩy quá trình tập trung hoá  ruộng đất. Quá trình này vừa nằm trong luật pháp cho phép lại vừa phù   hợp với quy hoạch. Làm tốt công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử  dụng đất là tiền  đề  đưa việc quản lý đất đi vào nền nếp. Cho đến nay có thể  cho rằng   việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là nhân tố quan  trọng mà là tạo tâm lý vững chắc cho nông dân đâù tư thâm canh nâng cao  năng suất ruộng đất. Cho đến đầu năm 1998, nhiều tỉnh đã cơ bản hoàn thành thủ tục và  cấp giấy chứng nhận quyền sử  dụng đất cho hộ  nông dân, nội dung này  hiện nay có thể nói đã được thực hiện tương đối tốt.    Về việc giải quyết chanh chấp: Đây là vấn đề quan trọng trong nội dung quản lý Nhà nước về  đất   đai đã được quy định trong Luật đất đai năm 1993. Từ sau khi có Luật đất   đai năm 1993 , Nghị  quyết 10 của Bộ  chính trị  về  tình hình tranh chấp  ruộng đất xảy ra khá nhiều ở  hầu khắp các vùng, từ  đó đến nay, nhất là  khi có Luật đất đai năm 1993 các Nghị  định của Chính phủ  về  đất nông   nghiệp, đất lâm nghiệp, đất  ở, ... Đảng và Nhà nước các cấp đã nỗ  lực   giải quyết ở các nơi có sự khác nhau, nhưng đều dùa trên nguyên tắc là có   cơ sở pháp lý và bảo đảm thuận tình giữa các hộ nông dân.  Cho đến nay có thể  khẳng định công tác giải quyết tranh chấp đất  đai trong nông nghiệp, lâm nghiệp đã được thực hiện với kết quả tốt vừa 
  18. tạo điều kiện tiền đề  để  sử  dụng ruộng đất đạt hiệu quả  cao vừa tôn  trọng các thành qủa của các giai đoạn cách mạng về ruộng đất trước đây  vừa đảm bảo ổn định chính trị, xã hội trong nông thôn. 3. Các chính sách về quản lý và sử dụng ruộng đất: Chính sách đổi mới của Đảng và Chính phủ  đã tạo ra sự  chuyển  biến rõ rệt trong nền nông nghiệp phân phối và tổ chức lại đất đai , tù do   hoá việc ra quyết định sản xuất nông nghiệp mở  cửa thị  trường đầu vào  và đầu ra. Thừa nhận hộ  nông dân là đơn vị  cơ  bản của sản xuất nông   nghiệp. Dưới tác động của chính sách đổi mới Luật đất đai năm 1993 ra   đời đặc biệt là Luật đất đai năm 1998 sửa đổi tuỳ  theo mục tiêu cụ  thể  của chính sách được cụ  thể  hoá dưới các dạng văn bản pháp lý được   Chính phủ ban hành đến các địa phương. Các chính sách sử  dụng đất phải đảm bảo vừa phát triển về  kinh   tế, vừa  ổn định về  xã hội. Sử  dụng đầy đủ  và hợp lý ruộng đất tạo ra  nhiều nông sản có chất lượng cao, giá hạ, đáp  ứng đầy đủ  sản lượng   ngày càng tăng của dân cư, có sản phẩm tốt để  xuất khẩu tác động đến  các ngành kinh tế hữu quan, bảo vệ chất đất và ổn định môi trường. Từ các mục tiêu kể trên các chính sách sử dụng đất nông nghiệp và  bảo vệ đất nông nghiệp gồm các loại sau đây: + Các chính sách xác lập về quyền lợi gắn chặt với đất đai ­ Chính sách bảo vệ  người nông dân có đất sản xuất  ổn định lâu   dài. ­ Chính sách khuyến khích người trồng lúa. ­ Chính sách trợ cấp cho người đi xây dựng vùng kinh tế mới. ­ Chính sách tín dụng. ­ Chính sách ưu tiên phát triển đất nông nghiệp. ­ Chính sách bảo vệ và phát triển đất trồng lúa. + Các chính sách về nghĩa vụ của người sử dụng đất như:
  19. ­ Chính sách khuyến khích chuyển đất nông nghiệp trồng lúa sang   mục đích sử dụng khác. ­ Chính sách sử dụng đất nông nghiệp. ­ Chính sách sử dụng đất đúng mđ. ­ Chính sách thuế chuyển quyền sử dụng đất.  II. Các biện pháp sử dụng chủ yếu     1. Bố trí cơ cấu cây trồng. Việc bố  trí cơ  cấu cây trồng sao cho hợp lý là một vấn đề  quan  trọng vì cơ  cấu cây trồng phụ  thuộc vào điều kiện của tự  nhiên như  khí   hậu, địa hình, ... như vậy, vấn đề đặt ra là sử dụng hợp lý cây trồng đúng   mục đích, hiệu quả kinh tế cao phù hợp với từng điều kiện sinh thái của  từng vùng. ở nước ta, khí hậu thay đổi rõ rệt từ Bắc vào Nam cho nên cần phải  có hình thức bố trí hợp lý bên cạnh điều kiện về  khí hậu việc bố  trí còn  phụ  thuộc vào đặc điểm của đất nông nghiệp, chiến lược sản phẩm của   Nhà nước hay là mục tiêu phát triển của ngành. Thực tế là vùng Tây Nguyên có khí hậu Êm áp hai mùa rõ rệt cộng  với địa thế của cao nguyên GiaLaiKonTum, Đăklăk, Lâm Đồng đều là đất  đỏ  bazan màu mỡ  nên bố  trí trồng các cây công nghiệp như  cà phê, cao  su, ... vừa đảm bảo được diện tích lâm nghiệp, ngoài ra còn bố  trí trồng  các cây công nghiệp ngắn ngày như; mía đường, tiêu. Đối với vùng Đông  Nam Bộ  cũng vậy đất chủ  yếu là bazan, khí hậu Êm áp phù hợp với cây   công nghiệp đặc biệt là cao su. Đây là vùng có diện tích trồng cao su lớn  nhất trong nước. Đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đất đai  ở  đây màu mỡ,  khí hậu cận nhiệt đới Êm áp, thuận lợi cho việc trồng lúa nước và các cây  ăn quả  cao cấp như  nhãn, xoài, ... ngoài ra còn là vùng mặt nước nuôi   trồng thuỷ sản thuận lợi. 
  20. Vùng Duyên hải miền Trung có khí hâụ khắc nghiệt nên cần bố trí  có hệ  thống rừng phòng hộ  để  đề  phòng thiên tai và sự  cố  môi trường,   trồng các loại cây lâu năm. ở  vùng khu Bốn cũ, vùng này khí hậu cũng thay đổi theo mùa lại   chịu ảnh hưởng khắc nghiệt giữa hai vùng Nam­ Bắc nên thường hay có  thiên tai lũ lụt, do đó cần bố trí cây trồng kèm lẫn rừng phòng hộ, chú ý có  thể  xen canh gối vụ, ngoài hai vụ  lúa mùa và chiêm có thể  bố  trí được   một vụ hoa màu lương thực như rau mùa đông, khoai Đông xuân, ngô, ... Vùng Đồng bằng sông Hồng ngoài chịu ảnh hưởng của thời tiết địa  hình  ở  đây cũng phức tạp, bên cạnh diện tích đất trồng lúa còn có diện   tích đất bãi trồng màu, các cây lương thực ngô, khoai, ... ngoài ra còn vùng  rộng lớn đất chiêm trũng. Vì vậy việc bố  trí cây trồng ở  đây rất đa dạng  tuỳ thuộc vào từng địa phương cũng như vùng ven thành phố Hà Nội nhu   cầu cung cấp cho thành phố  về rau màu là rất nhiều nên cần bố trí trồng   cây rau màu. Vùng Trung du và miền núi phía Bắc với diện tích rộng lớn đất đai   đa dạng nên việc bố trí cây trồng ở đây cũng phụ thuộc vào loại chất đất  đai và điều kiện phù hợp của từng loại cây các tỉnh Thái Nguyên, Yên Bái   có diện tích đất xám bạc màu, thời tiết bốn mùa rõ rệt phù hợp để  trồng   các cây công nghiệp chè, vùng miền núi Sơn La có thời tiết phù hợp với   các loại cây ăn quả như mận, xoài, đào, ... Vùng miền núi Lạng Sơn, Bắc   Giang phù hợp với cây ăn quả: vải, mận, na, ... như vậy việc bố trí cơ cấu  cây trồng trong cả nước sao cho phù hợp với lợi thế  của từng vùng cũng  như là việc phát triển nông nghiệp cả nước là rất quan trọng là một khâu  trong việc quản lý nông nghiệp nước ta. 2. Thâm canh. Đây là biện pháp cơ bản lâu dài để phát triển nền nông nghiệp theo  chiều sâu, quy mô công nghiệp hiện đại thực hiện thâm canh là khai thác 

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản