intTypePromotion=1

Điều trị rò bàng quang - âm đạo bằng phẫu thuật nội soi qua ổ bụng tại Bệnh viện Chợ Rẫy

Chia sẻ: Tran Hanh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
35
lượt xem
0
download

Điều trị rò bàng quang - âm đạo bằng phẫu thuật nội soi qua ổ bụng tại Bệnh viện Chợ Rẫy

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Rò bàng quang âm đạo là tai biến thường gặp trong can thiệp sản phụ khoa, bệnh ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Nghiên cứu nhằm đánh giá tính hiệu quả và tính an toàn của phương pháp điều trị rò bàng quang âm đạo bằng phẫu thuật nội soi qua ổ bụng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Điều trị rò bàng quang - âm đạo bằng phẫu thuật nội soi qua ổ bụng tại Bệnh viện Chợ Rẫy

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013 <br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> ĐIỀU TRỊ RÒ BÀNG QUANG ‐ ÂM ĐẠO BẰNG PHẪU THUẬT  <br /> NỘI SOI QUA Ổ BỤNG TẠI BỆNH VIÊN CHỢ RẪY. <br /> Trần Trọng Trí*, Trần Ngọc Sinh*, Dương Quang Vũ*, Châu Quí Thuận*, Hoàng Khắc Chuẩn*,  <br /> Nguyễn Thị Thái Hà*, Nguyễn Vĩnh Bình**, Nguyễn Đức Huy*, Thái Kinh Luân** <br /> <br /> TÓM TẮT <br /> Mở đầu và mục tiêu: Rò bàng quang – âm đạo là tai biến thường gặp trong can thiệp sản phụ khoa, bệnh <br /> ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Chúng tôi đánh giá tính hiệu quả và tính an toàn của <br /> phương pháp điều trị rò bàng quang âm đạo bằng phẫu thuật nội soi qua ổ bụng. <br /> Đối  tượng  ‐  phương  pháp  nghiên  cứu: Chúng tôi tiến hành điều trị rò bàng quang âm đạo bằng phẫu <br /> thuật nôi soi qua ổ bụng cho 39 trường hợp tại bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 10/2005 đến tháng 12/2011. Tuổi <br /> trung bình là 45± 11 tuổi, thời gian mang bệnh trung bình là 31 ± 74 tháng, kích thước lỗ rò trung bình là 1,5 ± <br /> 0,6 cm. <br /> Kết quả: Thời gian phẫu thuật trung bình là 204 ± 105 phút, 4 trường hợp phải truyền máu lúc mổ, lượng <br /> máu mất trung bình là 182 ± 142 ml, thời gian hậu phẫu trung bình là 11 ±4 ngày. Tỷ lệ thành công là 87,2%. <br /> Kết  luận: Phẫu thuật nội soi ổ bụng vá rò bàng quang âm đạo là phương pháp điều trị ít xâm hại, hiệu <br /> quả,an toàn.Phương pháp này mang những ưu điểm của phẫu thuật nội soi vào điều trị dạng bệnh lý này.Phẫu <br /> thuật sớm giúp xua đi nỗi đau về tâm lý và sớm chữa lành bệnh. <br /> Từ khóa: rò bàng quang âm đạo, điều trị rò bàng quang – âm đạo bằng phẫu thuật nội soi ổ bụng <br /> <br /> ABSTRACT <br /> LAPAROSCOPIC TRANSABDOMINAL TRANSVESICAL VESICOVAGINAL FISTULA REPAIR AT <br /> CHO RAY HOSPITAL <br /> Tran Trong Tri, Tran Ngoc Sinh, Duong Quang Vu, Chau Qui Thuan, Hoang Khac Chuan,  <br /> Nguyen Thi Thai Ha, Nguyen Vinh Binh, Nguyen Duc Huy, Thai Kinh Luan  <br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 365 ‐ 371 <br /> Background and purpose: A vesicovaginal fistula is a common complication of obstetric and gynecologic <br /> surgery.  It  impact  on  the  physical  and  psychological  quality  of  life.  We  studied  the  efficiency  and  safety  of <br /> laparoscopic transabdominal transvesical vesicovaginal fistula repair. <br /> Patients  and  methods: We performed 39 cases of laparoscopic transabdominal transvesical vesicovaginal <br /> fistula repair at Cho Ray hospital between October 2005 and December 2011. The mean age is 45 ± 11, the time <br /> of surgery is 31 ± 74 months, and the mean size of vesicovaginal fistula is 1.5 ± 0.6 cm. <br /> Results: The mean operative time is 204 ± 105 minutes, 4 cases had to have a blood transfusion, the mean <br /> blood loss is 182 ± 142 ml, there is no postoperative complication, and the mean postoperative hospital stay is 11 <br /> ±4 days. The successful rate is 87.2%. <br /> Conclusions:  Laparoscopic  transabdominal  transvesical  vesicovaginal  fistula  repair  is  minimum  invasive <br /> surgery,  safe  and  efficient.  Laparoscopic  transabdominal  transvesical  vesicovaginal  fistula  repair  has  the <br /> laparoscopic  advantages.  Repair  of  vesicovaginal  fistulae  should  be  as  expeditious  as  possible  to  minimize  the <br /> * Khoa Ngoại Tiết Niệu Bệnh viện Chợ Rẫy <br /> Tác giả liên lạc: BS CK2 Trần Trọng Trí   <br /> <br /> Chuyên Đề Thận ‐ Niệu <br /> <br />  <br /> ** Bộ môn Tiết Niệu, Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh. <br /> ĐT: 0918086162 <br />  <br /> Email: trantrongtricr70@gmail.com <br /> <br /> 365<br /> <br /> Nghiên cứu Y học <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013<br /> <br /> patientʹs suffering. <br /> Key words: vesicovaginal fistula, laparoscopic transabdominal transvesical vesicovaginal fistula repair <br /> <br /> MỞ ĐẦU <br /> Rò bàng quang‐âm đạo (rò BQ‐ÂĐ) thường <br /> do  tai  biến  phẫu  thuật  (sau  đây  được  gọi  là  rò <br /> BQ‐ÂĐ do phẫu thuật), ngoài ra còn có nguyên <br /> nhân  khác  như  do  sanh  khó,  vết  thương  do  tai <br /> nạn, các bất thường bẩm sinh, vật lạ, bệnh lý ác <br /> tính, xạ trị(4,12)… . Trong đó nguyên nhân thường <br /> gặp nhất là do tai biến trong can thiệp sản phụ <br /> khoa(2).  Đây  là  một  trong  những  biến  chứng <br /> đáng lo ngại nhất của phẫu thuật sản phụ khoa. <br /> Rò BQ‐ÂĐ gây ra những ảnh hưởng lớn về <br /> tinh thần và sức khoẻ của người bệnh nói chung, <br /> gây  ra  những  ảnh  hưởng  tâm  lý  khó  chịu  làm <br /> giảm chất lượng cuộc sống(1,12). Bệnh nhân (BN) <br /> thường mang tâm lý nặng nề, mặc cảm do nước <br /> tiểu  rỉ  liên  tục  ra  quần  và  mùi  hôi  khó  chịu. <br /> Chính  vì  mặc  cảm  này  mà  nhiều  BN  đến  với <br /> thầy thuốc hàng chục năm sau khi khởi bệnh. <br /> Bệnh  thường  phải  can  thiệp  phẫu  thuật  vì <br /> điều trị bảo tồn hiếm khi mang lại kết quả thành <br /> công  như  mong  đợi.  Nhưng  thành  công  phẫu <br /> thuật không phải lúc nào cũng mỹ mãn. Ngoài <br /> ra,  theo  cổ  điển,  phẫu  thuật  viên  không  can <br /> thiệp khâu rò ngay, BN thường phải chờ đợi đến <br /> nhiều  tháng  khi  vết  thương  đã  “ổn  định”  mới <br /> tiến  hành  mổ  khâu  rò  (38).  Việc  điều  trị  phẫu <br /> thuật rò BQ‐ÂĐ là một trong những thách thức <br /> qua  nhiều  thập  niên.  Có  nhiều  phương  pháp <br /> được đặt ra gồm mổ mở kinh điển, phẫu thuật <br /> nội soi và ngày nay là phẫu thuật nội soi dưới sự <br /> hỗ trợ của robot(7,8). Có nhiều cách tiếp cận: qua <br /> ngã bụng, ngã âm đạo, xuyên bàng quang, hoặc <br /> kết hợp, chọn lựa phương pháp phẫu thuật nào <br /> tùy thuộc vào tay nghề và kinh nghiệm của từng <br /> phẫu thuật viên. <br /> Trong điều kiện nước ta hiện nay, số trường <br /> hợp tai biến này dường như có giảm đáng kể do <br /> những  tiến  bộ  đạt  được  trong  chuyên  ngành. <br /> Nhưng  cũng  do  phát  triển  chuyên  ngành  về <br /> phẫu  thuật  nội  soi  mà  có  thêm  dạng  lâm  sàng <br /> mới là rò BQ‐ÂĐ do phẫu thuật nội soi. <br /> <br /> 366<br /> <br /> Giá trị của phẫu thuật khâu rò rất to lớn vì <br /> kết  quả  thành  công  không  những  giúp  BN <br /> chữa lành bệnh mà còn xua đi mặc cảm tâm lý <br /> nặng nề. <br /> Cũng  trong  điều  kiện  phát  triển  của  phẫu <br /> thuật nội soi, với ưu thế ít xâm hại, không phải <br /> mở  lại  vết  mổ  cũ,  và  cũng  nhờ  ưu  điểm  này <br /> chúng tôi không phải phá vết mổ chưa ổn định <br /> mà  vẫn  có  thể  can  thiệp  khâu  lỗ  rò  bằng  phẫu <br /> thuật nội soi. <br /> <br /> ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU <br /> Từ  tháng  10  năm  2005  đến  tháng  12  năm <br /> 2011, tại bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi tiến hành <br /> phẫu  thuật  nội  soi  ổ  bụng  vá  rò  BQ‐ÂĐ  ở  các <br /> trường  hợp  rò  thể  cao,  rò  không  phức  tạp. <br /> Chúng tôi có 39 BN với các đặc điểm trước mổ <br /> được liệt kê chi tiết ở Bảng 1. <br /> Bảng 1. Đặc điểm BN trước mổ. <br /> Tuổi trung bình<br /> 45 ± 11<br /> Thời gian mang bệnh trung bình<br /> 31 ± 74 tháng<br /> Mùi khai<br /> 39<br /> Ra nước tiểu âm đạo<br /> 39<br /> Triệu chứng nhiễm trùng<br /> 9<br /> Thăm âm đạo phát hiện bất thường<br /> 31/36<br /> Soi bàng quang phát hiện lỗ rò<br /> 39/39<br /> Test xanh methylen dương tính<br /> 36/36<br /> Soi âm đạo phát hiện lỗ rò<br /> 9<br /> Siêu âm phát hiện lỗ rò<br /> 1/39<br /> Giãn niệu quản và đài bể thận trên siêu âm<br /> 1/39<br /> Dãn niệu quản trên UIV<br /> 2/39<br /> Thuốc cản quang vào âm đạo trên hình ảnh<br /> 1/1<br /> chụp bàng quang có cản quang<br /> Soi bàng quang phát hiện lỗ rò<br /> 39/39<br /> Kích thước lỗ rò trung bình<br /> 1,5 ± 0,6 cm<br /> <br /> Tất  cả  các  BN  nghiên  cứu  đều  được  khai <br /> thác bệnh sử, tiền sử và khám lâm sàng đầy đủ <br /> trước  mổ.  Chúng  tôi  thực  hiện  các  test  xanh <br /> methylene  và  soi  bàng  quang  để  xác  định  rò, <br /> chẩn  đoán  phân  biệt,  đánh  giá  vi  trí  và  kích <br /> thước lỗ rò. BN được giải thích rõ về bệnh lý và <br /> phương  pháp  phẫu  thuật  kể  cả  khả  năng  thất <br /> bại sau mổ. Tất cả các trường hợp đều được gây <br /> mê nội khí quản, được theo rõi với máy gây mê <br /> <br /> Chuyên Đề Thận ‐ Niệu  <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013 <br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> có  monitor  theo  dõi.  BN  nằm  tư  thế  sản  phụ <br /> khoa hoặc nằm đầu thấp 30o. Máy gây mê ở phía <br /> đầu  BN.  Phẫu  thuật  viên  đứng  bên  trái  BN, <br /> người  phụ  đứng  đối  diện,  dụng  cụ  viên  đứng <br /> cùng bên phẫu thuật viên chính. Màn hình điều <br /> khiển (monitor) đặt ở phía, dưới 2 chân BN. <br /> <br /> quang 2 lớp riêng biệt bằng chỉ Vicryl 2.0, khâu <br /> mũi rời hoặc mũi liên tục. <br /> <br /> Đưa thông niệu quản ngược dòng lên đến bể <br /> thận, thường chọn thông nòng niệu quản số 6‐7 <br /> Fr, đặt lên cao 20 – 25cm, sau đặt kiểm tra xem <br /> nước  tiểu  có  ra  tốt  hay  không,  khi  cần  thiết <br /> chúng  tôi  di  chuyển  nòng  niệu  quản  sao  cho <br /> thông  nòng  hoạt  động  tốt.  Thông  niệu  quản <br /> được đặt trong suốt quá trình phẫu thuật và tiếp <br /> tục  lưu  thêm  24  –  48  giờ  sau  mổ  hoặc  lâu  hơn <br /> tùy trường hợp. <br /> <br /> Chúng  tôi  ghi  nhận  các  thông  số  như  thời <br /> gian  mổ,  lượng  máu  mất,  các  tai  biến  và  biến <br /> chứng có thể xãy ra, tỷ lệ thành công được đánh <br /> giá  3  tháng  sau  mổ.  Xử  trí  số  liệu  bằng  phần <br /> mềm Epi Info 3.5.1. <br /> <br /> Soi  bàng  quang  đưa  dây  hướng  dẫn  qua  lỗ <br /> rò xuống âm đạo, qua đó  từ  âm  đạo  đặt  thông <br /> Foley 10Fr hoặc to hơn tùy kích thước lỗ rò vào <br /> bàng quang, bơm bóng cố định Foley kéo xuống <br /> âm đạo. Một số trường hợp đầu chúng tôi tự chế <br /> một cuộn gạc tròn đặt trong bao cao su đưa vào <br /> âm đạo chèn vào lỗ rò để tránh xẹp bàng quang. <br /> Thường  chúng  tôi  cần  3  hoặc  4  trocar  tùy <br /> trường hợp. Vào trocar 10mm đầu tiên ở rốn, 1 <br /> trocar  10  mm  ở  hố  chậu  phải  –  1  trocar  5  mm <br /> bên  đối  diện,  vị  trí  đặt  trung  điểm  của  đường <br /> giữa mào chậu và rốn. Nếu cần thiết đặt thêm 1 <br /> trocar 5m trên xương mu. <br /> Thám  sát  ổ  bụng,  nếu  có  mạc  nối  bám  vết <br /> mổ  chúng  tôi  cắt  mạc  nối  dính.  Đưa  ruột  lên <br /> phía  trên  ổ  bụng,  tạo  khoang  trống  vùng  tiểu <br /> khung.  Treo  bàng  quang  lên  thành  bụng.  Bóc <br /> tách  mặt  sau  bàng  quang  và  âm  đạo.  Mở  phúc <br /> mạc túi cùng bàng quang âm đạo. <br /> Cắt mở bàng quang đi thẳng vào đường rò, <br /> sau  khi  vào  bàng  quang  nhìn  rõ  2  miệng  niệu <br /> quản  vì  đã  có  2  nòng  niệu  quản  được  đặt  vào <br /> bàng quang trước đó. Khi bóc tách vào đường rò <br /> ta  dễ  dàng  nhận  thấy  đường  rò  nhờ  có  thông <br /> Foley đã được đặt trước đó. Tiến hành tách mặt <br /> sau bàng quang và âm đạo thành hai lớp riêng <br /> biệt. Cắt lọc mô xơ chai hoặc hoại tử nếu có. <br /> Sau  khi  bóc  tách  2  lớp  âm  đạo  và  bàng <br /> quang rõ ràng, tiến hành khâu âm đạo và bàng <br /> <br /> Chuyên Đề Thận ‐ Niệu <br /> <br /> Đặt  thông  niệu  đạo  –  bàng  quang  bằng <br /> thông Foley 20 – 24 Fr, bơm rửa kiểm tra. Kiểm <br /> tra  lại  ổ  bụng,  dẫn  lưu  cùng  đồ  Douglas,  khâu <br /> lại lỗ trocar. <br /> <br /> KẾT QUẢ <br /> Thời  gian  mổ  trung  bình  là  204  ±  105  phút, <br /> Tất  cả  các  trường  hợp  đều  được  thực  hiện  qua <br /> nội soi ổ bụng, một trường hợp phải chuyển mổ <br /> mở  do  dính.  Có  3  trường  hợp  mất  máu  phải <br /> truyền  trong  lúc  mổ,  chiếm  tỷ  lệ  12,1%,  các  tai <br /> biến khác như thủng trực tràng, tổn thương niệu <br /> quản  và  các  cơ  quan  lân  cận  không  ghi  nhận <br /> trong  các  trường  hợp  nghiên  cứu.  Tỷ  lệ  thành <br /> công là 34/39 trường hợp chiếm tỷ lệ 87,2%. <br /> Bảng 2. Kết quả phẫu thuật vá rò bàng quang âm đạo <br /> qua nội soi ổ bụng. <br /> Thời gian phẫu thuật trung bình<br /> Lượng máu mất trung bình<br /> Số ngày hậu phẫu trung bình<br /> Số ngày rút nòng NQ trung bình<br /> Số ngày rút dẫn lưu cùng đồ Douglas<br /> trung bình<br /> Số ngày rút thông NĐ trung bình<br /> Số trường hợp biến chứng<br /> Tỷ lệ thành công<br /> <br /> 204 ± 105 phút<br /> 182 ± 142 ml<br /> 11 ± 4 ngày<br /> 7 ± 5 ngày<br /> 5 ± 2 ngày<br /> 15 ± 6 ngày<br /> 0<br /> 87,2%<br /> <br /> BÀN LUẬN <br /> Về nguyên nhân sinh bệnh <br /> Nguyên nhân sinh bệnh của rò BQ‐ÂĐ khác <br /> nhau ở từng vùng trên thế giới. Ở các nước phát <br /> triển, hơn 75% trường hợp rò BQ‐ÂĐ là do tổn <br /> thương  bàng  quang  trong  phẫu  thuật  sản  phụ <br /> khoa, phẫu thuật niệu khoa và phẫu thuật vùng <br /> chậu. Tổn thương do phẫu thuật đối với đường <br /> niệu dưới thường gặp nhất là sau cắt tử cung, ở <br /> các nước phát triển nguyên nhân gây rò BQ‐ÂĐ <br /> còn do các bệnh lý ác tính, xạ trị vùng chậu, sang <br /> chấn  sản  khoa.  Tỷ  lệ  tổn  thương  bàng  quang <br /> <br /> 367<br /> <br /> Nghiên cứu Y học <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013<br /> <br /> trong quá trình cắt tử cung ngã bụng là 0,5 đến <br /> 1%. Trong đó tỷ lệ rò xuất hiện sau cắt tử cung là <br /> 0,1  –  0,2%.  Rò  bàng  quang  âm  đạo  sau  cắt  tử <br /> cung  thường  do  vô  tình  cắt  bàng  quang  gần <br /> mỏm  cụt  âm  đạo.  Nếu  không  nhận  biết  trong <br /> mổ, nang nước tiểu vùng chậu sẽ hình thành và <br /> sẽ được dẫn lưu một cách tự nhiên qua mỏm cụt <br /> và đường rò sẽ hình thành. <br /> Ở các nước đang phát triển, rò bàng quang– <br /> âm  đạo  thường  do  cuộc  chuyển  dạ  kéo  dài  do <br /> bất  xứng  giữa  đầu  thai  nhi  và  khung  chậu. <br /> Thành  âm  đạo,  bàng  quang,  cổ  bàng  quang  và <br /> đoạn niệu đạo gần cổ bàng quang bị chèn ép bởi <br /> thai nhi kéo dài gây thiếu máu nuôi và hoại tử. <br /> Những nguyên nhân khác gây rò BQ‐ÂĐ là <br /> do  dụng  cụ  niệu  khoa  hoặc  sản  phụ  khoa,  các <br /> phẫu thuật sau phúc mạc, mạch máu hoặc phẫu <br /> thuật  vùng  chậu,  các  bệnh  nhiễm  trùng  hoặc <br /> viêm, vật lạ, do bẩm sinh, sang chấn trong sinh <br /> hoạt tình dục(12)… <br /> Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  nguyên <br /> nhân  sinh  bệnh  chủ  yếu  là  sau  cắt  tử  cung, <br /> chiếm 29/39 TH (74,4%), đứng thứ nhì là do mổ <br /> lấy thai chiếm 8/39 TH (20,5%), các nguyên nhân <br /> khác  như  dị  vật  bàng  quang…  chiếm  số  lượng <br /> nhỏ.  Bệnh  viện  chúng  tôi  là  bệnh  viện  tuyến <br /> trên,  nguồn  bệnh  chủ  yếu  từ  2  bệnh  viện  sản <br /> khoa  lớn  của  khu  vực  miền  Nam  (bệnh  viện <br /> Hùng  Vương,  bệnh  viện  Từ  Dũ  và  một  bệnh <br /> viện phía nam) nên nguyên nhân do phẫu thuật <br /> chiếm tỷ lệ tương đối lớn. Trường hợp dị vật là <br /> một BN nữ chưa có gia đình, 24 tuổi được bệnh <br /> viện  tỉnh  phẫu  thuật  với  chẩn  đoán  ban  đầu  là <br /> sỏi bàng quang, chẩn đoán sau mổ là dị vật âm <br /> đạo – bàng quang do BN thủ dâm, dị vật là một <br /> ống  nhựa  được  để  lâu  trong  âm  đạo  gần  một <br /> năm. <br /> Có một dạng lâm sàng mới  được  chúng  tôi <br /> ghi nhận là sau phẫu thuật nội soi ổ bụng đễ cắt <br /> tử  cung  gây  biến  chứng  rò  BQ  _  ÂĐ  4/39TH <br /> (10,3%). Biến chứng này thường xảy ra ở những <br /> trung tâm mớ bắt đầu triển khai phẫu thuật nội <br /> soi.Một  số  trường  hợp  chúng  tôi  ghi  nhận  có <br /> những  nơ  chỉ  khâu  trong  lòng  bàng  quang  khi <br /> <br /> 368<br /> <br /> soi bàng quang chúng tôi phát hiện. Có lẽ, ở lần <br /> mổ  trước  trong  khi  khâu  cầm  máu  phẫu  phuật <br /> viên đã khâu nhằm vào bàng quang mà không <br /> biết. Chưa có trường hợp nào được ghi nhận sỏi <br /> bám nơ chỉ khâu. <br /> <br /> Thời điểm phẫu thuật <br /> Thời điềm để phẫu thuật vá rò BQ‐ÂĐ hiện <br /> nay đang còn bàn cãi. Việc vá rò phải được tiến <br /> hành  sớm  để  xua  đi  những  gánh  nặng  về  mặc <br /> tâm  lý  mà  BN  đang  gánh  chịu,  đồng  thời  thời <br /> điểm phẫu thuật phải được xem xét sao cho các <br /> yếu  tố  phẫu  thuật  tốt,  thuận  lợi  cho  quá  trình <br /> lành  sẹo  góp  phần  cho  phẫu  thuật  thành  công. <br /> Đa  số  quan  điểm  đồng  tình  nên  phẫu  thuật  trì <br /> hoãn 3‐ 6 tháng sau cuộc sinh khó để việc phân <br /> định  giữa  mô  lành  và  mô  hoại  tử  rõ  rệt,  hiện <br /> tượng phù nề và quá trình viêm ổn định. Đối với <br /> các lỗ rò do xạ trị thời gian trì hoãn nên kéo dài 6 <br /> – 12 tháng. <br /> Tuy nhiên, trong những thập niên gần đây, <br /> mặc dù những giả thuyết trì hoãn được đưa ra, <br /> các  đường  rò  đơn  giản  có  thể  được  phẫu  thuật <br /> tạo  hình  sớm  ngay  khi  được  chẩn  đoán(3),  điều <br /> này có ý nghĩa rất lớn vì nó giải tỏa sớm tâm lý <br /> nặng  nề  của  BN.  Tuy  nhiên  trong  một  vài <br /> trường  hợp,  thời  điểm  phẫu  thuật  tốt  nhất  tùy <br /> vào  từng  BN  cụ  thể  (Blaivas  và  cộng  sự,  1995). <br /> Raz và cộng sự (1993) khuyến cáo rằng những lỗ <br /> rò không phức tạp sau cắt tử cung ngã bụng có <br /> thể phẫu thuật ngay nếu có khả năng phẫu thuật <br /> qua  ngã  âm  đạo.  Tuy  nhiên  trong  một  vài <br /> trường hợp sau cắt tử cung ngã âm đạo cần phải <br /> chờ  đợi  2  –  3  tháng  mới  phẫu  thuật.Ngược  lại, <br /> nếu  phải  tạo  hình  qua  ngã  bụng  sau  một  cuộc <br /> phẫu  thuật  vùng  bụng  đặc  biệt  khó  khăn,  nên <br /> chờ  đợi  một  thời  gian  để  hiện  tượng  viêm  ổn <br /> định. Nên khám âm đạo định kỳ mỗi 1 – 2 tuần <br /> để  kiểm  tra  mô  âm  đạo  và  có  kế  hoạch  phẫu <br /> thuật vào thời điểm thích hợp (Carr và Webster, <br /> 1996). <br /> Tiếp  cận  qua  ngã  âm  đạo  có  thể  được  tiến <br /> hành  2  –  3  tuần  sau  thương  tổn  ban  đầu  nếu <br /> điều trị bảo tồn thất bại và BN có thể trạng tốt. <br /> Mô  âm  đạo  thường  không  bị  biến  đổi  do  lần <br /> <br /> Chuyên Đề Thận ‐ Niệu  <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013 <br /> phẫu thuật trước, đặc biệt là những phẫu thuật <br /> qua ngã bụng. <br /> Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  có  13/39 <br /> trường  hợp  (33,3%)  được  phẫu  thuật  sớm  (
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2