Đổi mới công tác giáo viên chủ nhiệm trường trung học cơ sở

Chia sẻ: Tony Tony | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
3
lượt xem
0
download

Đổi mới công tác giáo viên chủ nhiệm trường trung học cơ sở

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài báo đề xuất 5 biện pháp để đổi mới công tác chủ nhiệm của giáo viên ở trường trung học cơ sở: (1) nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục về vị trí, vai trò quan trọng của công tác giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học cơ sở; (2) lựa chọn và phân công giáo viên chủ nhiệm phù hợp với đặc điểm của từng lớp học trong nhà trường; (3) chú trọng bồi dưỡng năng lực giáo dục cho đội ngũ giáo viên chủ nhiệm trường trung học cơ sở

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đổi mới công tác giáo viên chủ nhiệm trường trung học cơ sở

L. H. Uyên / Đổi mới công tác giáo viên chủ nhiệm trường trung học cơ sở<br /> <br /> ĐỔI MỚI CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM<br /> TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ<br /> Lƣu Hồng Uyên<br /> Phòng Giáo dục và Đào tạo quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh<br /> Ngày nhận bài 18/10/2017, ngày nhận đăng 23/12/2017<br /> Tóm tắt: Trên cơ sở làm rõ đặc trưng lao động sư phạm của giáo viên chủ<br /> nhiệm và thực trạng công tác chủ nhiệm ở trường trung học cơ sở, bài báo đề xuất 5<br /> biện pháp để đổi mới công tác chủ nhiệm của giáo viên ở trường trung học cơ sở: (1)<br /> nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục về vị trí, vai trò quan trọng của công<br /> tác giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học cơ sở; (2) lựa chọn và phân công giáo viên<br /> chủ nhiệm phù hợp với đặc điểm của từng lớp học trong nhà trường; (3) chú trọng bồi<br /> dưỡng năng lực giáo dục cho đội ngũ giáo viên chủ nhiệm trường trung học cơ sở; (4)<br /> xây dựng và triển khai thực hiện quy chế phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với các<br /> lực lượng giáo dục khác; (5) đổi mới công tác thi đua, khen thưởng; thực hiện tốt các<br /> chế độ, chính sách đối với giáo viên chủ nhiệm.<br /> <br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Giáo viên chủ nhiệm (GVCN) là nhà<br /> giáo được giao trách nhiệm quản lý, giáo<br /> dục một lớp học sinh (HS) ngoài giờ lên<br /> lớp của GV bộ môn trong trường trung<br /> học cơ sở (THCS). Vì thế GVCN được<br /> xem là “linh hồn của lớp học, là người cố<br /> vấn đáng tin cậy dẫn dắt, định hướng,<br /> giúp HS vươn lên tự hoàn thiện và phát<br /> triển nhân cách” [2]. Trong bối cảnh đổi<br /> mới giáo dục phổ thông (GDPT) hiện nay,<br /> khi vai trò của người GV có sự thay đổi<br /> căn bản, từ chỗ là “người truyền thụ tri<br /> thức có sẳn” sang đóng vai trò của người<br /> trọng tài, cố vấn cho hoạt động nhận thức<br /> của HS thì vai trò của người GVCN<br /> trường THCS cũng có những thay đổi căn<br /> bản. GVCN trở thành người chịu trách<br /> nhiệm chính trong “phát triển trí tuệ, thể<br /> chất, h nh thành ph m chất, năng lực công<br /> dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu,<br /> định hướng nghề nghiệp cho HS” [1; tr.<br /> 123]. Khi triển khai thực hiện chương<br /> trình và sách giáo khoa mới, GVCN còn<br /> là người tổ chức các hoạt động trải<br /> Email: luuhonguyen@yahoo.com<br /> <br /> 74<br /> <br /> nghiệm sáng tạo cho HS. Những thay đổi<br /> trong vai trò dẫn đến những thay đổi trong<br /> lao động sư phạm (LĐSP) của người<br /> GVCN và đặt họ trước những thách thức<br /> lớn. Vì thế, nâng cao năng lực và ph m<br /> chất của người GVCN trường THCS có ý<br /> nghĩa quan trọng.<br /> 1. Đặc trƣng lao động sƣ phạm của<br /> ngƣời giáo viên chủ nhiệm trƣờng<br /> trung học cơ sở<br /> 1.1. Tổ chức sự phát triển của học<br /> sinh lứa tuổi từ 12-15 tuổi<br /> Lứa tuổi HS THCS là một giai đoạn<br /> phát triển phức tạp và quan trọng của mỗi<br /> cá nhân. Đây là giai đoạn có một vị trí đặc<br /> biệt - giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ<br /> sang tuổi trưởng thành. Sự chuyển tiếp tạo<br /> nên nội dung cơ bản và sự khác biệt đặc<br /> thù về mọi mặt ở lứa tuổi HS THCS. Sự<br /> biến đổi của cơ thể, của tự ý thức, của<br /> kiểu quan hệ với người lớn và bạn cùng<br /> tuổi, của hoạt động học tập, hoạt động xã<br /> hội đã làm xuất hiện những yếu tố mới<br /> của sự trưởng thành; đồng thời xuất hiện<br /> <br /> Trường Đại học Vinh<br /> <br /> cả tình trạng “khủng hoảng” của tuổi<br /> “dậy thì”. Hơn ai hết, GVCN cần phải<br /> nắm bắt những đặc điểm tâm, sinh lý của<br /> HS để tổ chức đúng đắn sự phát triển của<br /> các em.<br /> 1.2. Thường xuyên tháo gỡ những<br /> tình huống “xung đột” trong các nhóm<br /> học sinh<br /> Ở trường THCS, những tình huống<br /> “xung đột” trong các nhóm HS có khi chỉ<br /> bắt nguồn từ những lý do rất đơn giản của<br /> tuổi học trò (không muốn bạn trai ở các<br /> lớp khác chơi thân với bạn gái của lớp<br /> mình; sở thích của người khác không<br /> giống với sở thích của mình; bạn chơi trội<br /> hơn m nh; được thua vì một lời thách<br /> đố…). Nếu GVCN không kịp thời tháo gỡ<br /> những tình huống này thì dễ dẫn đến sự<br /> u đả lẫn nhau, dùng Facebook để nói xấu<br /> nhau trong các nhóm HS.<br /> 1.3. Định hướng dư luận tập thể học<br /> sinh trung học cơ sở<br /> Dư luận tập thể có vai trò to lớn trong<br /> đánh giá và điều chỉnh hành vi của con<br /> người; nó được ví như “bộ luật không<br /> lời”. Nhiều khi, người ta còn sợ “búa rìu<br /> của dư luận” hơn cả pháp luật. Vì thế,<br /> cách đây hơn một thế kỉ, A.S.Macarencô<br /> đã đề xuất và thực hành nguyên tắc “giáo<br /> dục trong tập thể và bằng tập thể”.<br /> Nguyên tắc này xem tập thể vừa là môi<br /> trường giáo dục, vừa là phương tiện giáo<br /> dục.<br /> Đối với tập thể HS THCS, khi phát<br /> triển đến một giai đoạn nhất định sẽ hình<br /> thành dư luận tập thể. Trong tập thể HS<br /> THCS, dư luận có thể lành mạnh cũng có<br /> thể không lành mạnh. Do đó, GVCN phải<br /> là người định hướng dư luận để trong tập<br /> thể HS THCS luôn luôn tồn tại dư luận<br /> lành mạnh. Đó là dư luận cổ vũ cho<br /> những tấm gương học tập, rèn luyện tốt;<br /> cổ vũ cho những giá trị đạo đức, th m mỹ<br /> <br /> Tạp chí khoa học, Tập 46, Số 3B (2017), tr. 74-81<br /> <br /> phù hợp với những giá trị cơ bản của xã<br /> hội; phê phán thái độ vô trách nhiệm đối<br /> với học tập, đối với những người xung<br /> quanh của một bộ phận HS…<br /> 1.4. Kết nối các lực lượng giáo dục<br /> nhà trường, gia đình và xã hội<br /> Tham gia vào quá trình giáo dục HS<br /> nói chung, giáo dục HS THCS nói riêng<br /> có ba lực lượng: nhà trường, gia đ nh và<br /> xã hội. Nếu như các lực lượng này không<br /> có sự phối hợp chặt chẽ với nhau rất dễ<br /> dẫn đến hiện tượng “trống đánh xuôi, kèn<br /> thổi ngược” trong giáo dục. Đó là hiện<br /> tượng, ở trường trẻ được dạy một đường,<br /> về nhà trẻ được dạy một nẻo, ra xã hội trẻ<br /> lại được các “anh chị” dạy theo một cách<br /> khác nữa. Với những tác động trái chiều<br /> như vậy, khiến cho đứa trẻ hoang mang,<br /> chúng không biết phải nghe lời ai và hành<br /> động như thế nào mới đúng…Từ đó,<br /> GVCN phải là người kết nối các lực<br /> lượng giáo dục nhà trường, gia đ nh và xã<br /> hội để tất cả tác động từ các lực lượng này<br /> đến HS THCS cùng chiều và mang tính<br /> chất giáo dục cao.<br /> 1.5. Tư vấn tâm lý cho học sinh<br /> trung học cơ sở<br /> Do đặc điểm lứa tuổi “trẻ con chưa<br /> qua, người lớn chưa tới” nên trong đời<br /> sống tâm lý của HS THCS có nhiều diễn<br /> biến phức tạp, thậm chí xung đột nhau.<br /> Những diễn biến, xung đột này nếu không<br /> được tư vấn, “giải tỏa” kịp thời có khi<br /> dẫn đến sự “bế tắc”, “ức chế” trong tâm<br /> lý của HS THCS. Vì thế, GVCN phải biết<br /> “đọc tâm lý” của HS cả lớp cũng như của<br /> từng HS cụ thể để tư vấn cho các em, giúp<br /> các em vượt qua những khó khăn trên<br /> bước đường phát triển của mình.<br /> 2. Thực trạng công tác giáo viên<br /> chủ nhiệm ở trƣờng trung học cơ sở<br /> Công tác chủ nhiệm phụ thuộc rất lớn<br /> vào năng lực của GVCN. Nhưng hiện<br /> 75<br /> <br /> L. H. Uyên / Đổi mới công tác giáo viên chủ nhiệm trường trung học cơ sở<br /> <br /> nay, số GV có kinh nghiệm làm công tác<br /> chủ nhiệm ở các trường THCS còn ít,<br /> trong khi t nh h nh đạo đức của HS có<br /> một số biểu hiện xuống cấp, đáng lo ngại.<br /> Trong công tác chủ nhiệm, không ít GV<br /> vẫn còn thụ động, chạy theo các vụ việc<br /> mà chưa thể hiện sự chủ động của mình.<br /> Ban giám hiệu nhà trường không thể làm<br /> thay phần việc của GVCN, và cũng không<br /> thể lúc nào cũng nắm bắt kịp thời tình<br /> hình cụ thể của từng lớp, của từng đối<br /> tượng HS. Thực trạng đó đã dẫn đến một<br /> số tồn tại, khuyết điểm phổ biến trong<br /> công tác GVCN như: không kịp thời ngăn<br /> chặn các biểu hiện vi phạm kỷ luật của<br /> HS khi vụ việc còn trong “trứng nước”,<br /> cách thức xử lý HS vi phạm còn thiếu tính<br /> sư phạm làm ảnh hưởng đến đạo đức nhà<br /> giáo, xúc phạm nhân ph m HS và gây<br /> phản ứng đối với phụ huynh. Việc vận<br /> dụng yếu tố tâm lý trong giáo dục HS của<br /> GVCN còn hạn chế, không hài hòa giữa<br /> tình và lý, thậm chí mang nặng tính áp<br /> lực, răn đe buộc HS phải miễn cưỡng<br /> chấp hành. Có GVCN còn nóng vội và<br /> thiếu kinh nghiệm khi xử lý các vụ việc,<br /> thiên về xử phạt mà thiếu sự bao dung cần<br /> thiết. Đặc biệt, trong giáo dục HS cá biệt,<br /> không ít GVCN chưa hiểu rõ nguyên<br /> nhân sâu xa dẫn đến “sự cá biệt” của các<br /> em, chưa cùng các em chia sẻ, tháo gỡ<br /> những khó khăn, bế tắc, vướng mắc một<br /> cách chân tình, thực sự, chưa tin tưởng,<br /> mạnh dạn bố trí, giao việc để tạo điều<br /> kiện thuận lợi, qua đó đánh giá, động<br /> viên, khích lệ các em phấn đấu trở thành<br /> HS tốt.<br /> Một số GVCN còn chưa chú ý nắm<br /> bắt tình hình HS. Nhiều thông tin về HS<br /> không chính xác, còn áp đặt thông tin, sao<br /> chép sử dụng lại thông tin cũ của năm học<br /> trước, không còn phù hợp. Khả năng giao<br /> tiếp, phối hợp của GVCN với các thành<br /> viên khác trong nhà trường, với đoàn đội, phụ huynh, chính quyền địa phương<br /> 76<br /> <br /> còn hạn chế, dẫn đến phương pháp, biện<br /> pháp giáo dục HS không đồng bộ, gây<br /> mất niềm tin ở HS. Một số GV thiếu khả<br /> năng dự báo nên chưa xây dựng được kế<br /> hoạch chủ nhiệm phù hợp tình hình thực<br /> tế của lớp, vì thế công tác chủ nhiệm vừa<br /> không chủ động, vừa kém hiệu quả. Nội<br /> dung, hình thức tổ chức các buổi sinh hoạt<br /> lớp thiếu đầu tư, nghèo nàn, nặng về hành<br /> chính, không thu hút lôi cuốn HS, hiệu<br /> quả giáo dục thấp. Trong các buổi sinh<br /> hoạt tập thể lớp, ngoại khóa, GVCN còn<br /> chưa chủ động tổ chức cho HS thảo luận,<br /> tranh luận về một chủ đề thiết thực nào đó<br /> hoặc trải nghiệm thực tế để giáo dục<br /> ph m chất đạo đức và kỹ năng sống cho<br /> các em...<br /> Nguyên nhân của những hạn chế nói<br /> trên là do các lực lượng giáo dục chưa<br /> nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò quan<br /> trọng của công tác GVCN ở trường<br /> THCS; việc phân công GVCN chưa phù<br /> hợp với đặc điểm của từng lớp HS trong<br /> nhà trường; năng lực giáo dục của nhiều<br /> GVCN trường THCS còn bất cập; chưa<br /> xây dựng được quy chế phối hợp giữa<br /> GVCN với các lực lượng giáo dục khác;<br /> chưa có các chế độ, chính sách tạo động<br /> lực đối với GVCN... Từ thực trạng hạn<br /> chế của công tác GVCN, đòi hỏi phải đổi<br /> mới công tác này.<br /> 3. Các biện pháp đổi mới công tác<br /> giáo viên chủ nhiệm ở trƣờng trung học<br /> cơ sở<br /> 3.1. Nâng cao nhận thức cho các lực<br /> lượng giáo dục về vị trí, vai trò quan<br /> trọng của công tác giáo viên chủ nhiệm<br /> ở trường trung học cơ sở<br /> GVCN là người thay mặt nhà trường<br /> quản lý, giáo dục HS; tổ chức, hướng dẫn<br /> các hoạt động của lớp do mình phụ trách;<br /> phối hợp với GV bộ môn của lớp và các<br /> lực lượng giáo dục khác trong giáo dục<br /> HS. Ngoài việc giảng dạy và thực hiện<br /> <br /> Trường Đại học Vinh<br /> <br /> các nhiệm vụ thông thường khác của một<br /> GV bộ môn, GVCN còn phải đảm nhận<br /> rất nhiều vai trò đa dạng và phức tạp<br /> khác: Người tháo gỡ những “xung đột”<br /> trong các nhóm HS; người định hướng<br /> cho dư luận tập thể; người tư vấn tâm lý<br /> cho HS; người định hướng giá trị cho HS;<br /> người quan tâm toàn diện đến mọi hoạt<br /> động của HS... Cùng với sự chăm lo phát<br /> triển toàn diện nhân cách HS, GVCN còn<br /> phải chăm lo phát hiện và bồi dưỡng năng<br /> khiếu cho các em. Thực tế cho thấy rằng,<br /> năng khiếu của HS, nếu được phát hiện và<br /> bồi dưỡng sớm thì nó sẽ được bộc lộ, phát<br /> triển đúng hướng và đó chính là mầm<br /> mống của tài năng.<br /> GVCN trường THCS còn là người<br /> chịu trách nhiệm chính trong định hướng<br /> nghề nghiệp cho HS. Không phải đến lứa<br /> tuổi trung học phổ thông, HS mới cần<br /> định hướng nghề nghiệp mà ngay ở lứa<br /> tuổi THCS, HS đã cần được định hướng<br /> nghề nghiệp. Trên cơ sở những hiểu biết<br /> về đặc điểm cá nhân, năng khiếu, sở<br /> trường của từng HS, GVCN có thể đưa ra<br /> những tư vấn về định hướng nghề nghiệp<br /> cho các em. Nếu công tác giáo dục định<br /> hướng nghề nghiệp được làm tốt từ cấp<br /> THCS sẽ tạo điều kiện phân luồng HS<br /> sớm và hợp lý.<br /> Bởi vậy, công tác GVCN giữ một vị<br /> trí quan trọng trong nhà trường phổ thông,<br /> nhất là đối với cấp THCS - cấp học mà<br /> HS có sự “khủng khoảng” về phát triển<br /> tâm lý lứa tuổi. Công tác GVCN không<br /> chỉ có ảnh hưởng trong phạm vi nhà<br /> trường mà ở mức độ nào đó, còn ảnh<br /> hưởng đến cả gia đ nh và xã hội. Vì thế,<br /> chủ thể của các lực lượng giáo dục phải<br /> nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò quan<br /> trọng của công tác GVCN ở trường THCS<br /> để từ đó, tùy theo chức năng, nhiệm vụ<br /> của mình, có trách nhiệm đối với công tác<br /> GVCN.<br /> <br /> Tạp chí khoa học, Tập 46, Số 3B (2017), tr. 74-81<br /> <br /> 3.2. Lựa chọn và phân công giáo<br /> viên chủ nhiệm phù hợp với đặc điểm<br /> của từng lớp học sinh trong nhà trường<br /> Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện<br /> nay, vai trò của GVCN có sự thay đổi căn<br /> bản, từ chỗ là người quản lý hành chính<br /> một lớp học, sang đóng vai trò của người<br /> chịu trách nhiệm chủ yếu trong sự phát<br /> triển toàn diện nhân cách HS. Với vai trò<br /> mới này, GVCN phải chăm lo sự phát<br /> triển toàn diện nhân cách HS lớp mình<br /> phụ trách để các em không chỉ được phát<br /> triển về trí năng mà còn được phát triển cả<br /> về thể năng và tâm năng; không chỉ được<br /> phát triển về mặt năng lực mà còn được<br /> phát triển cả về mặt ph m chất. Mỗi một<br /> lớp học có những đặc điểm riêng nhất<br /> định. Ngay trong một khối lớp, tuy cùng<br /> một lứa tuổi nhưng giữa lớp này với lớp<br /> kia cũng không giống nhau về đặc điểm.<br /> Vì thế, Hiệu trưởng nhà trường cần chú ý<br /> lựa chọn và phân công hợp lý GVCN cho<br /> từng lớp HS. Nếu kinh nghiệm và ph m<br /> chất cá nhân của GVCN phù hợp với đặc<br /> điểm của lớp HS thì công tác chủ nhiệm<br /> mới đem lại hiệu quả cao. Do đặc điểm<br /> lứa tuổi “trẻ con chưa qua, người lớn<br /> chưa tới” nên trong đời sống tâm lý của<br /> HS THCS có nhiều diễn biến phức tạp,<br /> thậm chí xung đột nhau. Những diễn biến,<br /> xung đột này nếu không được tư vấn,<br /> “giải tỏa” kịp thời có khi dẫn đến sự “bế<br /> tắc”, “ức chế” trong tâm lý của HS<br /> THCS. Vì thế, GVCN phải biết “đọc tâm<br /> lý” của HS cả lớp cũng như của từng HS<br /> để tư vấn cho các em, giúp các em vượt<br /> qua những khó khăn trên bước đường<br /> phát triển của mình. Những lớp HS “có<br /> vấn đề” hay có nhiều HS cá biệt, cần lựa<br /> chọn và phân công những GV có kinh<br /> nghiệm hơn làm công tác chủ nhiệm.<br /> Thực tế cho thấy rằng, nếu một GVCN cứ<br /> theo suốt một lớp HS từ đầu cấp học đến<br /> cuối cấp học, không phải trong trường<br /> hợp nào cũng đem lại sự thuận lợi, nhất là<br /> 77<br /> <br /> L. H. Uyên / Đổi mới công tác giáo viên chủ nhiệm trường trung học cơ sở<br /> <br /> khi giữa GVCN và HS càng ngày càng<br /> không tìm thấy “tiếng nói chung”, càng<br /> ngày càng có sự ngăn cách bởi “bức rào<br /> tâm lý”.<br /> 3.3. Chú trọng bồi dưỡng năng lực<br /> giáo dục cho đội ngũ giáo viên chủ<br /> nhiệm trường trung học cơ sở<br /> Năng lực giáo dục (NLGD) được hình<br /> thành và phát triển chủ yếu qua hoạt động<br /> thực tiễn hàng ngày của GVCN. Với vai<br /> trò là “linh hồn của lớp học”, GVCN<br /> thường xuyên phải “cọ xát” với những<br /> vấn đề sôi động của cuộc sống học đường,<br /> thường xuyên phải “đối mặt” với những<br /> vấn đề đòi hỏi họ vừa phải rất bản lĩnh<br /> nhưng lại vừa phải mềm mỏng, tế nhị…<br /> Chính những điều đó đã góp phần quan<br /> trọng vào việc hình thành và phát triển<br /> NLGD của GVCN. Tuy nhiên, để nâng<br /> cao NLGD cho GVCN, công tác bồi<br /> dưỡng đối với đội ngũ này cũng rất cần<br /> thiết. Việc bồi dưỡng NLGD cho GVCN<br /> cần tập trung vào các NL thành phần sau<br /> đây:<br /> - NL xây dựng kế hoạch giáo dục HS<br /> Để chủ động trong công tác, GVCN<br /> cần phải xây dựng kế hoạch giáo dục HS.<br /> Trong kế hoạch phải làm rõ đặc điểm tình<br /> hình của lớp chủ nhiệm trên tất cả các<br /> mặt; xác định rõ những nhiệm vụ cần tập<br /> trung giải quyết. Ngoài ra, trong kế hoạch<br /> còn phải nêu rõ hướng phấn đấu của lớp<br /> chủ nhiệm trong năm học bằng những con<br /> số cụ thể.<br /> - NL hiểu đối tượng giáo dục<br /> Trước đây, nhà giáo dục người Nga<br /> K.Đ. Usinxki đã từng nói: Muốn giáo dục<br /> con người một cách toàn diện, cần phải<br /> hiểu con người một cách toàn diện. Đối<br /> với GVCN cũng như vậy. Muốn hiểu HS,<br /> GVCN phải “trở lại thành HS” ở một<br /> mức độ nào đó, có như vậy mới tìm ra<br /> được những “chiếc chìa khóa thần kỳ” để<br /> đi vào thế giới tâm hồn của các em.<br /> 78<br /> <br /> GVCN không chỉ hiểu HS mà còn<br /> phải biết thuyết phục HS để các em thực<br /> hiện những yêu cầu của mình một cách tự<br /> nguyện, tự giác, nhất là đối với những HS<br /> cá biệt.<br /> - NL tổ chức các hoạt động giáo dục<br /> HS<br /> Giáo dục HS thông qua hoạt động và<br /> bằng chính hoạt động của các em là con<br /> đường đem lại hiệu quả giáo dục cao nhất.<br /> Vì thế, ngoài hoạt động học tập, GVCN<br /> cần phải tổ chức cho HS của lớp mình<br /> tham gia các hoạt động giáo dục khác<br /> như: lao động; văn hóa - văn nghệ, thể<br /> dục - thể thao; hoạt động xã hội; sinh hoạt<br /> tập thể... Mỗi hoạt động, đòi hỏi cách thức<br /> tổ chức riêng. Cùng với tổ chức hoạt<br /> động, điều quan trọng hơn là GVCN phải<br /> biết thu hút HS tham gia vào các hoạt này<br /> một cách tích cực và tự giác.<br /> - NL xây dựng tập thể lớp<br /> Trước đây nhà giáo dục Xô viết A.X.<br /> Macacrencô đã nêu ra nguyên tắc “giáo<br /> dục trong tập thể và bằng tập thể”. Với<br /> nguyên tắc này, tập thể vừa là môi trường,<br /> vừa là phương tiện giáo dục HS. Ảnh<br /> hưởng của tập thể đến cá nhân HS rất lớn,<br /> nhất là khi trong tập thể đã h nh thành dư<br /> luận lành mạnh. Vì thế, muốn thành công<br /> trong công việc, GVCN phải xây dựng<br /> lớp học thành một tập thể đoàn kết, thân<br /> ái có tổ chức, có sức mạnh.<br /> - NL giải quyết các tình huống giáo<br /> dục<br /> GVCN luôn luôn đứng trước những<br /> tình huống giáo dục đa dạng và phong<br /> phú, nhiều khi rất “gay cấn”. Để giải<br /> quyết những tình huống đó, đòi hỏi<br /> GVCN phải có “hệ thống tri thức về tâm<br /> lý, sinh lý lứa tuổi, hiểu những vấn đề xã<br /> hội liên quan đến HS; biết thu nhận thông<br /> tin, xử lý thông tin, phân tích, rút ra nhận<br /> xét về từng HS và cả tập thể lớp” [3; tr.<br /> 5]. Đồng thời, GVCN phải có niềm tin<br /> vào HS và bản lĩnh sư phạm vững vàng.<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản