Đông trùng hạ thảo – t
truyền thuyết đến thực tế
Đông trùng hạ thảo (ĐTHT) là một vị thuốc quý hiếm, được sách y học cổ truyền
Trung Quốc coi như là vị thuốc cải lão hoàn đồng, hồi xuân sinh lực, các vua chúa
thời xưa tin dùng.
Nước ta không có loại thuốc này. Sn phẩm dùng trên th trường phần ln nhập
khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc hoặc Nhật Bảnvới giá khá đắt và có nhiu loại
kể cả dạng đã bào chế dùng để uống. Tuy nhiên, ngoài những tác dụng được thổi
phồng một cách thái quá, người tiêu dùng nên đề phòng mua phi ĐTHT giả.
Vừa là cây, vừa là con
ĐTHT là một dạng cộng sinh giữa một loài nấm túi vi sâu non của một loàin
trùng thuộc chi Hepialus. Vào mùa đông nấm bắt đầu ký sinh vào sâu non và làm
chết sâu non vì ăn hết chất dinh dưỡng của chúng. Mùa hè m áp nấm bắt đầu mọc
ra khỏi sâu như một ngọn cỏ và vươn lên khỏi mt đất. Đầu của ngọn nm là một
thể đệm hình trụ thuôn nhọn. Vị thuốc Đông y này vì “mùa đông trông tựa con bọ,
mùa hè trông tựa cọng cỏ” mà có n là “Đông trùng hạ thảo”. Vị thuốc này có
chứa các thành phần bổ dưỡng như protein, chất béo, chất thô dạng xơ, carbon
hydrate, nhiều loại vitamin, sellar, cordycepose, cordicepic acid, amino acid và các
nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thnhư sắt (Fe), phốt pho (P), canxi (Ca), kẽm
(Zn), mangan (Mn), sêlen (Se)… ĐTHT chứa 25 32% protid khi thủy phân cho
tới hàng chục acid amin khác nhau như aspartic acid, glutamic acid, serine,
histidine, glucine, threonine, arginine, tyrosine, alanine, triptophane, methionine,
valine, phenylananine, isoleucine, leucine, omithine, lysine, chất béo; D-manitol;
các vitamin… Cái sinh vật “vừa cây vừa con” này được Đông y coi là mt loại
thuốc quý, vì có nhiu hoạt chất dùng để chữa các loại bệnh nan y.
Nếu coi ĐTHT là hai giai đoạn trong mt cuộc đời của sinh vật này t đúng như
tên gọi, vừa là cây vừa là con. Nhưng thực ra, hai giai đoạny là riêng biệt
nhưng nối tiếp nhau. ĐTHT đã phơi khô có hai phần rõ rệt: phần dưới là một con
sâu và từ đầu con sâuy mọc lên một mm lá. Vìc loài nấm này ch phân bố ở
châu Á và châu Úc, đặc biệt là các cao nguyên cao hơn mặt biển từ 4.000 đến
5.000m như Tây Tạng, Tứ Xuyên, Thanh Hi, Cam Túc, Vân Nam… nên những
vùng này người ta đi thu nhặt, phơi khô để bán. Và đó mi là ĐTHT thứ thiệt.
ĐTHT khi còn sng, thể thấy rõ hình con sâu, với đuôi là một cành nhỏ, mọc lá.
Phnlá” hình dng giống ngón tay, dài khoảng 4 – 11cm do sợi nấm mọc dính
lin vào đầu sâu non mà thành. Sâu non giống như con tằm, dài chừng 3 5cm,
đường kính khoảng 0,3 0,8cm. n ngoàimàu vàng sm hoặc vàng nâu với
khoảng 20 – 30 vằn ka, đầu có màu nâu đỏ, đuôi giống như đuôi con tằm, có tất
cả 8 cặp chân, nhưng 4 đôi ở giữa là rõ nht. Chất đệm nấm hình que cong mọc ra
tmình sâu non, dài hơn sâu non một chút. Sâu non dễ bẻ gãy, ruột bên trong căng
đầy, màu trắng hơi vàng; chất đệm nấm kdài và bên trong ruột hơi rỗng, có màu
trắng ngà.
Coi chừng “đông trùng hạ thảo” giả
Vì là vị thuốc quý hiếm nên trên thị trường xuất hiện nhiều loại ĐTHT giả. Hàng
giả thường được chế bằng tn củ ca địa tàm và thảo thạch. ĐTHT giả có cạnh g
hơi cong và số đốt là 3 – 15, bên ngoàimàu vàng nhạt, i độ 2 3cm, giòn hơn
so vi thông thường, khi cắt ra thì có màu trắng. Một số loại ĐTHT giả do Trung
Quốc sản xuất được làm từ bột ngô, bột mạch hay thạch cao… Chúng được sản
xuất bằng cách gia công ép màng nên bên ngoài có màu trắng ngà, hình sâu non
nhẵn bóng, rõ các vằn ka, mặt cắt có màu trắng nhạt. Cầm thấy nặng, không nhẹ
bông như thật, khi nhai lâu thì dính răng. Hàng giả thì sâu non kng có chân, v
ngọt, dính.
Tác dụng của Đông trùng hạ thảo
Trên lâm sàng, các nhà y học cổ truyền Trung Quốc đã nghiên cứu dùng ĐTHT
điều trị và hỗ trợ điều trị thànhng khá nhiu bệnh như rối loạn lipid máu, viêm
phế quản mạn tính và hen phế quản, viêm thận mạn tính và suy thn, rối loạn nhịp
tim, ng huyết áp, viêm mũi dng, viêm gan B mn tính, ung thư phi (có tác
dụng hỗ trợ) và thiểu năng sinh dc. Ni ta cũng đã dùng ĐTHT điều trị cho các
bệnh nhân bị liệt dương đạt kết quả khá tốt, có khả năng ci thiện đời sống tình dục
trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua tác dụng nâng đỡ và bi dưỡng cơ thể. Điều này
đã được y học cổ truyền biết đến từ rất sớm. Theo các sách cổ, ĐTHT vị ngọt, tính
m, vào hai đường kinh thận và phế, có công năng dưỡng phế, bổ thận, ích tinh,
thường được dùng để chữa các chứng bệnh như phế hư khái suyn, thận suy dương
nuy (liệt dương), di tinh, lưng gối mỏi đau.
Mấy năm gần đây, các nhà y học nghiên cu phát hiện ĐTHT có tác dụng ức chế
trực khun lao rất rõ rệt, có thể phòng ngừa, chữa trị các tổn thương thận do dược
phm, nâng cao chức năng miễn dịch của tế bào có công hiệu điu trị nhất định đối
với bệnh nhân viêm gan B, ngăn chặn xơ gan. Ngoài ra, kết quả thực nghim ca
các nhà khoa học Nhật Bản còn cho thy, nó có tác dụng thúc đẩy tế bào lá lạch
nội tiết ra insulin và nó chỉ khởi động tác dụng khi tr số đường máu vượt quá
ngưỡng bình thường.