MỤC LỤC

A. ĐẶT VẤN ĐỀ ......................................................................................................................................................... 1

I. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................................................................... 1

II. Mục đích nghiên cứu .............................................................................................................................................. 2

III. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................................................................................ 2

IV. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................................................................... 3

V. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................................................................ 3

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ .......................................................................................................................................... 5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .......................................................................... 5

1. Cơ sở lí luận ..................................................................................................................................................... 5

2. Cơ sở thực tiễn ................................................................................................................................................. 9

CHƯƠNG II: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH MIỀN NÚI PHÁT HUY NĂNG LỰC TỰ TIN VÀ TỰ CHỦ TRONG HỌC TẬP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC QUA CHUYÊN ĐỀ “TẬP NGHIÊN CỨU VÀ VIẾT BÁO CÁO VỀ MỘT VẤN ĐỀ VĂN HỌC DÂN GIAN”, NGỮ VĂN 10, Ở TRƯỜNG THPT TƯƠNG DƯƠNG 1 .................................................................................................................................................... 14

1. Hướng dẫn cho học sinh tự chủ lựa chọn đề tài nghiên cứu phù hợp với năng lực và trình độ tiếp nhận của từng nhóm lớp .................................................................................................................................................... 14

2. Tích cực sử dụng các phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh ................... 16

3. Đa dạng hình thức theo dõi, đánh giá quá trình học tập của học sinh; Tổ chức cho học sinh tự đánh giá kết quả học tập chuyên đề ........................................................................................................................................ 23

4. Duy trì tốt hoạt động của Hội đồng tự quản ................................................................................................... 25

5. Động viên, khen thưởng kịp thời, tạo động lực cho học sinh phát triển năng lực bản thân ........................... 26

CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ........................................................................................................... 28

1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm .............................................................................................................. 28

2. Tổ chức thực nghiệm ..................................................................................................................................... 28

3. Kết quả đạt được ........................................................................................................................................... 29

4. Bài học kinh nghiệm ...................................................................................................................................... 33

CHƯƠNG IV. KHẢO SÁT TÍNH CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC GIẢI PHÁP ĐƯỢC ÁP DỤNG .......................................................................................................................................................................... 34

1. Mục đích khảo sát .......................................................................................................................................... 34

2. Nội dung và phương pháp khảo sát ................................................................................................................ 34

3. Đối tượng khảo sát ......................................................................................................................................... 35

4. Kết quả khảo sát về sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất ............................................... 36

C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ................................................................................................................................. 41

I. Kết luận .................................................................................................................................................................... 41

II. Kiến nghị ................................................................................................................................................................ 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................................................................... 44

PHỤ LỤC ................................................................................................................................................................... 45

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT Viết tắt Viết đầy đủ

HS Học sinh 1

GV Giáo viên 2

THPT Trung học phổ thông 3

VHGD Văn học dân gian 4

SGK Sách giáo khoa 5

A. ĐẶT VẤN ĐỀ

I. Lý do chọn đề tài

Hiện nay, đổi mới dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh không chỉ dừng lại ở mức độ khuyến khích mà đã trở thành một yêu cầu bắt buộc thường xuyên trong công tác giảng dạy. Đổi mới dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh được thể hiện rõ trong các hoạt động học của bài dạy. Mục tiêu cơ bản của bài học là giúp các em vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống một cách hiệu quả và hình thành các kĩ năng cần thiết, mà trước hết là sự tự tin, mạnh dạn và tích cực chủ động. Chính vì lẽ đó đòi hỏi người giáo viên phải tìm tòi, khám phá ra các giải pháp giúp cho việc dạy học đạt kết quả cao.

Môn ngữ văn ở trong nhà trường nói chung và trường THPT nói riêng có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Với đặc trưng của một môn học về khoa học xã hội và nhân văn, bên cạnh nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn bản văn học và các loại văn bản khác, môn ngữ văn còn giúp học sinh có nhiều hiểu biết về xã hội, văn hóa, văn học, lịch sử, đời sống nội tâm của con người. Với tính chất một môn học công cụ, môn ngữ văn giúp học sinh có năng lực ngôn ngữ để học tập, giao tiếp và nhận thức về xã hội, con người. Với tính chất giáo dục thẩm mĩ, môn ngữ văn giúp học sinh bồi dưỡng năng lực tư duy, làm giàu cảm xúc thẩm mĩ và định hướng thị hiếu để hoàn thiện nhân cách. Những chức năng này được thực hiện thông qua quá trình hình thành các năng lực: đọc, viết, nói, nghe.

Trong chương trình ngữ văn 10, chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian” chiếm một vị trí rất quan trọng. Chuyên đề được đưa vào tìm hiểu trong chương trình có giá trị giáo dục kĩ năng sống cho học sinh rất sâu sắc, có sự gắn kết, liên hệ thực tế cao. Khi dạy chuyên đề này, nhiều vấn đề mà học sinh lựa chọn khai thác, vận dụng vào đời sống sẽ có điều kiện phát huy được các năng lực, kĩ năng sống. Để chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian” phát huy được hết được giá trị to lớn của mình thì giáo viên cần tổ chức tốt các hoạt động để học sinh phát huy tính tích cực sáng tạo và sự mạnh dạn, tự tin, hình thành và phát triển năng lực tự học.

Tuy nhiên, việc vận dụng các giải pháp, kĩ thuật dạy học mới trong môn ngữ văn để phát huy được tính tích cực chủ động và sự tự tin, mạnh dạn của học sinh không phải là vấn đề đơn giản, nó phụ thuộc khá nhiều vào các yếu tố như cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, trình độ học sinh,...Vì vậy, với một số giáo viên dạy ngữ văn ở các địa phương miền núi thì các giải pháp dạy học tích cực còn mang tính hình thức, việc áp dụng vào thực tiễn chưa thật thường xuyên. Vì thế chưa trau dồi được các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy người học.

1

Địa bàn huyện Tương Dương chủ yếu là người dân tộc thiểu số như người Thái, Khơ mú, Hmông. Đa phần gia đình các em cư trú tập trung tại vùng cao, thuộc các bản đặc biệt khó khăn. Do thói quen trong sinh hoạt hàng ngày, các em học sinh dân tộc thiểu số trước giờ chủ yếu nói tiếng mẹ đẻ, ít giao tiếp bằng tiếng Việt, nên khả năng diễn đạt, tự chủ còn hạn chế, nhất là phải đi sâu nghiên cứu một vấn đề và trình bày trước tập thể. Thêm vào đó là chương trình Ngữ văn 10 mới, với cách học mới nhưng tư tưởng lối mòn của cách học cũ làm các em thường xuyên bị động trong quá trình học tập. Khoảng trống kiến thức và kỹ năng cơ bản của học sinh khi thực hiện nội dung bài học theo phương pháp mới đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát huy sự tự tin và tự chủ của người học cũng như nâng cao chất lượng dạy học.

Nhận thức được tầm quan trọng của việc giúp các em phát huy được khả năng tự tin và tích cực chủ động trong học tập cũng như cuộc sống, là một giáo viên trực tiếp giảng dạy nhiều năm trên địa bàn huyện miền núi, tôi luôn trăn trở làm thế nào và sử dụng biện pháp gì để giúp các em xóa bỏ tư tưởng thiếu tự tin, dám làm điều mình nghĩ, bày tỏ cảm xúc của mình với người khác mà không e ngại, bước đầu biết tự lập trong cuộc sống. Xuất phát từ những lí do trên, trong bài viết này chúng tôi xin mạnh dạn đề xuất: Một số giải pháp giúp học sinh miền núi phát huy sự tự tin và tự chủ trong học tập nghiên cứu khoa học qua chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”, Ngữ văn 10. Các giải pháp này chúng tôi đã vận dụng vào giảng dạy ở lớp mình phụ trách và thấy hiệu quả, phù hợp với đặc điểm của học sinh ở trường THPT Tương Dương 1.

II. Mục đích nghiên cứu

- Đề tài được lựa chọn thực hiện nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức một cách nhẹ nhàng thoải mái, từ đó phát triển khả năng tự tin và tự chủ ở các em.

- Tăng liên kết tư duy nhóm, tăng sự gắn kết với cộng đồng, khả năng nhìn nhận, đánh giá nhanh nhạy, chính xác, khách quan để các em có thể chủ động tìm lời giải cho các vấn đề của môn học nói riêng và các vấn đề trong cuộc sống nói chung. Từ đó giúp học sinh chủ động, độc lập, tự tin và cảm thấy hứng thú với môn học, đem lại hiệu quả học tập cao hơn.

- Giúp học sinh niềm núi khắc phục được hạn chế sự rụt rè, tự ti, thói quen học tập và làm việc thụ động. Từ đó rèn luyện và phát triển kĩ năng làm việc khoa học, trang bị cho các em vốn sống cần thiết làm hành trang bước vào đời.

- Nghiên cứu khoa học không những củng cố, nâng cao vốn hiểu biết về kiến thức lý luận, kiến thức xã hội mà còn góp phần rèn luyện những kỹ năng mềm quan trọng dành cho học sinh như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng tư duy độc lập hay kỹ năng thuyết trình,..

III. Nhiệm vụ nghiên cứu

2

- Xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.

+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về tâm lí lứa tuổi; năng lực tự tin và tự chủ của

lứa tuổi học sinh THPT nói chung, học sinh miền núi nói riêng.

+ Nghiên cứu tầm quan trọng của sự tự tin và tự chủ trong hoạt động học tập

nghiên cứu khoa học đối với học sinh lớp 10.

- Xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài.

+ Đánh giá thực trạng của việc đổi mới phương pháp dạy học phát huy khả năng tự tin và tự chủ của học sinh trong giảng dạy chuyên đề môn Ngữ văn 10 trường THPT Tương Dương 1 và THPT Kì Sơn.

+ Phân tích cơ sở của việc việc áp dụng các giải pháp phát huy sự tự tin và tự chủ của học sinh trong giảng dạy chuyên đề môn Ngữ văn 10 ở trường THPT Tương Dương 1.

- Đề xuất một số giải pháp cụ thể góp phần phát huy sự tự tin và tự chủ cho học sinh lớp 10, trường THPT Tương Dương 1, trong học tập nghiên cứu khoa học qua chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”.

- Khảo sát tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp được áp dụng trong đề

tài.

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá năng lực tự tin, tự chủ và hiệu quả học tập của học sinh lớp 10, trường THPT Tương Dương 1, thông qua hoạt động học tập chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”.

IV. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Thuộc lĩnh vực phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở cấp THPT, đối với

học sinh lớp 10.

- Nghiên cứu các biện pháp giúp học sinh miền núi phát huy năng lực tự tin và tự chủ trong học tập nghiên cứu khoa học qua chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”, Ngữ văn 10.

V. Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này, tôi đã tiến hành áp dụng một số phương pháp

nghiên cứu sau:

1. Phương pháp nghiên cứu luận

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tâm lý lứa tuổi; năng lực tự tin và tự chủ của

lứa tuổi học sinh THPT nói chung, học sinh miền núi nói riêng.

3

- Nghiên cứu tầm quan trọng của sự tự tin và tự chủ trong hoạt động học tập

nghiên cứu khoa học đối với học sinh lớp 10.

2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phân tích thực tiễn tổ chức hoạt động dạy học chuyên đề phát huy khả năng tự tin và tự chủ của học sinh miền núi trong môn Ngữ văn 10 ở các trường THPT Tương Dương 1, THPT Tương Dương 2 và THPT Kì Sơn.

- Cơ sở áp dụng các giải pháp phát huy năng lực tự tin và tự chủ của học sinh trong giảng dạy chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”, Ngữ văn 10 ở trường THPT Tương Dương 1.

3. Phương pháp tham vấn chuyên gia

- Tham vấn ý kiến của Cán bộ quản lí, giáo viên bộ môn Ngữ văn, của đồng

nghiệp và một số giáo viên khác.

4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm trên một số lớp khối 10, trường THPT

Tương Dương 1.

5. Phương pháp thống kê toán học:

- Trao đổi bằng bảng hỏi trên phần mềm goole forms.

- Xử lí số liệu trên phần mềm Excel.

6. Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phân tích kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm, đối chiếu

với mục đích nghiên cứu và rút ra kết luận của đề tài.

VI. Tính mới của đề tài

- Giúp HS miền núi có khả năng tự chủ trong quá trình tiếp cận và triển khai

một bài nghiên cứu khoa học, từ đó áp dụng vào cuộc sống một cách hiệu quả.

- Tăng khả năng hoạt động nhóm, giúp HS tự tin giao tiếp trước đám đông và

khả năng thuyết trình các sản phẩm do chính các em tìm tòi.

- Rèn luyện cho HS kĩ năng làm việc khoa học một cách có hiệu quả, từ đó

khắc phục thói quen thụ động, tự ti của học sinh miền núi.

- Kiến thức chuyên đề gắn bó với đời sống; Hình thức tổ chức đa dạng, linh hoạt; Tương tác đa chiều, học sinh tự hoạt động trải nghiệm là chính; Kiểm tra, đánh giá nhấn mạnh đến kinh nghiệm, năng lực thực hiện của HS.

- Đề xuất hướng đi trong phương pháp dạy học chuyên đề Ngữ văn theo

hướng tiếp cận NL, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn Văn miền núi.

4

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1. Cơ sở lí luận

1.1. Đặc điểm về tâm lý lứa tuổi và năng lực tự tin, tự chủ của học sinh THPT nói chung, học sinh miền núi nói riêng

1.1.1. Đặc điểm về tâm lý lứa tuổi của học sinh THPT nói chung

- Học sinh THPT ở lứa tuổi 16 - 18, đang ở giai đoạn phát triển cả về thể chất và tâm hồn, có khả năng tự ý thức, tự đánh giá, tự điều chỉnh trong quá trình học tập.

- Tri giác có chủ định chiếm ưu thế, năng lực ghi nhớ tăng lên rõ rệt, sự tập trung chú ý cao hơn và có khả năng di chuyển, chú ý tốt, học tập dần dần hướng vào nhu cầu thỏa mãn nhận thức.

- Mặt khác, do tiếp xúc với nhiều môn học, nhiều phương pháp dạy học của các thầy cô,...nên đòi hỏi các em phải có những biến chuyển lớn về năng lực quan sát, tư duy lôgic, tính độc lập, kiên trì, tư duy phê phán.

- Đây cũng là giai đoạn giao tiếp nhóm mang tính chất tập thể nhất. Các em không chỉ nhận thức về cái tôi của mình mà còn nhận thức vị trí của mình trong xã hội và tương lai. Biết đánh giá nhân cách cá nhân và người khác trong toàn bộ những thuộc tính nhân cách.

1.1.2. Khái quát về năng lực, năng lực tự tin và tự chủ của học sinh THPT

a. Năng lực

- Là khả năng làm chủ và vận dụng hợp lý các kiến thức, kinh nghiệm, thái độ một cách có hứng thú để hành động một cách có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống.

- Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ, niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội, kết nối chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập và thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang xảy ra của xã hội.

b. Năng lực tự tin

- Là sự tin tưởng vào bản thân, tin vào khả năng và hành động của chính

mình.

- Biểu hiện sự tự tin ở học sinh THPT rất rõ ràng. Các em thường luôn chủ động, tự giác trong học tập, làm việc và trong cuộc sống. Học sinh nhận ra tầm

5

quan trọng của bản thân, tin tưởng vào khả năng của bản thân mình, không rụt rè, dựa dẫm. Luôn chủ động quyết định mọi việc, dám nghĩ, dám làm, tích cực tham gia các hoạt động tập thể, kiên trì, bền bỉ theo đuổi đam mê.

- Sự tự tin giúp học sinh THPT trở thành người có cảm xúc, chính kiến và tư duy phản biện, có thể phát huy tiềm năng để tạo đà phát triển cho tương lai, để các em bước những bước tiến xa hơn sau khi ra trường.

- Sự tự tin làm cho học sinh thấy thoải mái hơn với chính mình và có nhiều điều thú vị muốn chia sẻ. Sự tự tin giúp các em tương tác với nhiều người xung quanh, với bạn bè và dễ dàng xây dựng được các mối quan hệ mới, điều này cực kì quan trong thế giới hiện đại, khi mà sự hợp tác, gắn bó không chỉ bó gọn trong khuôn khổ một tỉnh hay một quốc gia.

c. Năng lực tự chủ

- Là tự mình có quyền và có thể kiểm soát được những công việc, cảm xúc,

thái độ,... của bản thân.

- Ở lứa tuổi THPT, năng lực tự chủ được các em khẳng định qua tất cả các hoạt động. Trong học tập, đó là khả năng người học chịu trách nhiệm về việc học của chính mình, bao gồm cả việc xác định mục tiêu, xác định nội dung và tiến trình, lựa chọn phương pháp học, giám sát và đánh giá quá trình học.

- Năng lực tự chủ xuất phát từ sự nhận thức của các em: mình là ai, mình cần làm gì và hướng tới những giá trị gì? Khi đã nhận định được những điều đó, các em sẽ ý thức được mình cần phải làm gì là đúng đắn. Các em sẽ xác định được mục tiêu, ước mong của mình.

- Các em biết tự điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành vi của bản thân, biết định hướng nghề nghiệp. Có khả năng tự học, tự hoàn thiện bản thân. Đây sẽ là động cơ cực kì lớn để em chịu được kỉ luật, sẵn sàng điều chỉnh bản thân để đạt được điều mình mong muốn.

1.1.3. Đặc điểm về tâm lý lứa tuổi và năng lực tự tin, tự chủ của học sinh

THPT miền núi

- Học sinh miền núi có ưu điểm về thể chất, thể lực, có tính cách riêng, yêu lao động, quí thầy cô, tình bạn, trung thực, dũng cảm. Nhưng các nét tâm lí và năng lực như sự chủ động, tự giác, ý chí rèn luyện, óc quan sát, trí nhớ, tính kiên trì, tính kỉ luật,... của học sinh miền núi chưa được chuẩn bị chu đáo.

- Tính tự ti và lòng tự trọng cao là đặc điểm tâm lí cơ bản của học sinh miền núi. Tính tự ti tạo cho các em tâm lí khó hoà đồng trong giao tiếp, các em thường ít nói, e dè và dễ xấu hổ. Đa số các em thiếu sự tự tin, thiếu những hoài bão ước mơ cần thiết. Đồng thời các em thường có lòng tự trọng cao, nếu các em gặp phải những lời phê bình nặng nề, gay gắt hoặc bị dư luận bạn bè chê cười,... các em dễ

6

xa lánh thầy cô giáo và bạn bè. Nếu giáo viên không hiễu rõ thì có thể cho rằng các em hay tự ái. Vì vậy, giáo viên cần nắm vững đặc điểm này, thận trọng suy xét, đánh giá và giúp đỡ từng em.

- Thực tiễn có tác dụng thuyết phục rất lớn đối với các em. Các em sống rất thực tế, những vấn đề gần gũi đều có tác dụng thuyết phục rất lớn. Trong các tiết học, những vấn đề kiến thức có liên hệ thực tế đến bản thân học sinh, đến địa phương nơi các em sinh sống thì sẽ sôi nổi và hiệu quả hơn. Do đó giáo viên cần lưu ý việc tư vấn cho học sinh lựa chọn đề tài có tính thực tiễn cao.

- Khả năng tự học của học sinh còn yếu. Việc tìm kiến, phân tích, xử lí, tổng hợp và khái quát phát triển chậm, khả năng tư duy hình thành khó khăn. Quá trình tư duy của các em hầu hết chỉ đạt mức trung bình. Tri thức thói quen được hình thành bằng con đường kinh nghiệm hoặc hoàn toàn dựa vào những bài giảng và tài liệu do giáo viên cung cấp. Điều đó ảnh hưởng đến quá trình tiến hành các thao tác trí tuệ của các em: khả năng lên kế hoạch cho các hoạt động, ghi nhớ có ý thức, có chủ định còn yếu. Cứ như thế theo thời gian, những năng lực, phẩm chất mà giáo viên hướng dẫn thì những học sinh này không thể tự điều chỉnh, hoàn thiện. Vì vậy các em thường thụ động và thiếu tích cực trong mọi hoạt động.

- Làm công tác giáo dục tại vùng đặc biệt khó khăn, học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số thì mỗi người giáo viên phải biết những “tâm lí riêng” mà không sách vở lí thuyết nào có thể làm thay. Người giáo viên phải vừa là thầy giáo, vừa là bạn bè, vừa là cha mẹ của các em. Vì vậy, để dạy học đạt kết quả cao thì phải có phương pháp dạy học phù hợp. Trong đó, nghiên cứu khoa học là một hoạt động dạy học nhằm rèn luyện tư duy tự chủ, tác phong làm việc khoa học của học sinh, gắn liền tri thức nhà trường với thực tiễn đời sống, từ đó khắc phục được những hạn chế về tâm lí, nhận thức cho học sinh miền núi, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

1.2. Tầm quan trọng của sự tự tin và tự chủ trong hoạt động học tập nghiên cứu khoa học đối với học sinh lớp 10

1.2.1. Sự tự tin và tự chủ của học sinh là một trong những mục tiêu cơ bản

của quá trình dạy học chuyên đề nghiên cứu khoa học

Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn nói chung, dạy chuyên đề nghiên cứu khoa học nói riêng, người giáo viên cần xác định mục tiêu bài học, hướng dẫn nắm vững các kiến thức cơ bản, đặt và giải quyết các vấn đề chủ yếu trong bài học, tiến hành đọc tài liệu, tra cứu, chuẩn bị làm bài tập. Những công việc như vậy hỗ trợ cho học sinh tự chủ trong tập học, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, một cách tích cực, sáng tạo, đúng với yêu cầu của phương pháp học tập theo hướng tích cực.

Để định hướng cho người học chủ động vạch ra kế hoạch học tập, giáo viên cần đề ra mục tiêu kế hoạch dạy học, cung cấp trước để người học nghiên cứu để biết mình sẽ làm gì và làm như thế nào trong quá trình học tập chuyên đề. Từ mục

7

tiêu bài học, học sinh cần phải nhận thức được vai trò thiết thực của hoạt động nghiên cứu khoa học, từ đó, có ý thức tự giác, nghiêm túc và kiên trì theo đuổi thực hiện thành công những đề tài nghiên cứu mà mình đã lựa chọn.

Mục tiêu dạy học là tổ chức cho học sinh tự mình khám phá ra những qui luật, thuộc tính mới của các vấn đề khoa học. Giúp học sinh không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn biết cách tìm đến những tri thức ấy. Mục tiêu của tính tự chủ là mang đến cho các em cơ hội tự quyết định và khuyến khích các em hợp tác, làm việc theo nhóm. Toàn bộ quá trình học tập không chỉ là “những gì học sinh đã học” mà còn là “các em đã học như thế nào?” và “có hoàn thành mục tiêu đã đặt ra hay không?”

Thực tiễn dạy học cho thấy càng học lên cao thì sự tự chủ, tự tin càng cần được coi trọng, nâng cao. Năng lực tự chủ, tự tin là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học. Bởi vì học sinh trung học phổ thông là giai đoạn quan trọng kết nối tri thức nhà trường với nghề nghiệp, cuộc sống. Vì thế, giáo viên cần hỗ trợ các em hình thành thói quen nghiên cứu khoa học, mà để có được thói quen ấy thì không thể không thông qua con đường tự chủ trong học tập.

2.2.2. Bồi dưỡng khả năng tự tin và tự chủ là phương cách tốt để tạo ra động

lực mạnh mẽ cho quá trình học tập nghiên cứu khoa học của học sinh

Ở bậc trung học việc học tập thiếu động lực, mục đích rõ ràng cũng là vấn đề khá phổ biến đối với học sinh miền núi. Học sinh miền núi ở cấp này, việc hình thành động cơ, thái độ học tập chưa được sự quan tâm, chú ý của gia đình cũng như bản thân học sinh. Do thiếu động lực đúng đắn trong học tập, các em dễ bị chùn bước, buông xuôi trước các khó khăn trong quá trình học tập, không xây dựng được kế hoạch, cách học khoa học, hệ quả là người học khó đạt được mục tiêu học tập của mình.

Khi giảng dạy chuyên đề nghiên cứu khoa học, giáo viên có thể sử dụng phương pháp để người học tự điều chỉnh việc học hoặc học theo hướng riêng của các em để tạo nguồn cảm hứng. Đồng thời định hướng cho người học tự mình trả lời các câu hỏi về học tập như: Học để làm gì? (mục đích); Học vì cái gì? (Động cơ học tập); Tại sao phải học? (nhu cầu) và Học như thế nào? (thái độ)... Các câu trả lời của học sinh sẽ cho chúng ta một bức tranh về xây dựng, hình thành động lực học tập của mỗi em như thế nào.

Trao quyền cho người học để họ giữ vai trò tích cực hơn trong quá trình học tập nghiên cứu khoa học và giúp thúc đẩy sự tự chủ của họ. Nếu phát triển được sự tự tin, tích cực chủ động sáng tạo sẽ khơi dậy năng lực tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho người học, nhờ đó chất lượng học tập nghiên cứu khoa học của học sinh sẽ ngày càng được nâng cao.

Với những lí do nêu trên có thể nhận thấy, nhận thức đúng thì hành động mới đúng, vì thế ngay từ đầu người học phải xác định rõ ràng là học để hình thành và

8

phát triển năng lực, phẩm chất phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp, hoạt động thực tiễn và cuộc sống sau này. Từ nhận thức như vậy người học mới có tinh thần tích cực đối với hoạt động tự học và do đó, mới có ý thức, thường xuyên nâng cao năng lực tự tin và tự chủ của bản thân.

2. Cơ sở thực tiễn

Trong chương trình Ngữ văn 10 THPT hiện nay có 3 chuyên đề được lựa chọn đưa vào học (Chuyên đề 1. Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian; Chuyên đề 2. Sân khấu hoá tác phẩm văn học; Chuyên đề 3. Đọc, viết, giới thiệu một tập thơ, một tập truyện ngắn hoặc một tiểu thuyết ). Đó đều là những chuyên đề vừa đáp ứng được yêu cầu kiểm tra đánh giá định kỳ của bộ môn vừa tạo sức hấp dẫn để truyền cảm hứng học tập và tình yêu văn học cho học sinh, giúp các em phát triển năng lực, ứng dụng công nghệ thông tin và kết hợp chuyển đổi số. Trong bài viết này, chúng tôi chú trọng vào hoạt động dạy - học chuyên đề 1“Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”, từ đó phát huy khả năng tự tin và tự chủ của học sinh miền núi.

2.1. Thực trạng tổ chức hoạt động dạy học chuyên đề nhằm phát huy khả năng tự tin và tự chủ của học sinh miền núi trong môn Ngữ văn 10 ở các trường THPT trên địa bàn huyện Tương Dương và Kì Sơn

Trong những năm gần đây, đặc biệt là năm học 2022 - 2023, bộ môn Ngữ văn ở các trường THPT trên địa bàn các huyện miền núi Tương Dương và Kì Sơn đã có nhiều thay đổi tích cực về nội dung, phương pháp dạy học. Giáo viên hiện đã nhận thức được việc cần phải đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn theo hướng tích cực lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập. Nhiều phương pháp dạy học mới được giáo viên tiến hành trong quá trình giảng dạy đã mang lại kết quả tốt, giúp học sinh có thể lĩnh hội kiến thức một cách tốt hơn và đồng thời cũng làm cho bản thân người giáo viên cảm thấy hứng thú, say mê với sự nghiệp.

Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy tại địa phương cũng như trao đổi với đồng nghiệp tại các trường THPT Tương Dương 2 và THPT Kì Sơn, chúng tôi thấy việc dạy học bộ môn Ngữ văn theo phương pháp mới vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại nhất là việc phát huy tính tự chủ và tự tin của học sinh. Tuy đã được phổ biến, học tập bồi dưỡng thường xuyên theo chu kì nhưng kết quả đạt được không đáng là bao. Điều đó dẫn đến chất lượng bộ môn không cao, chưa đáp ứng được nhu cầu giáo dục và mục tiêu đào tạo của chương trình giáo dục phổ thông 2018 đặt ra. Thực trạng của vấn đề này có thể giải thích ở những nguyên nhân cơ bản sau:

- Tình hình chung tại các huyện miền núi: Tương Dương và Kì Sơn là huyện miền núi nghèo của tỉnh Nghệ An. Trình độ dân trí ở đây còn thấp, điều kiện kinh tế nhiều khó khăn. Nên sự quan tâm đến việc học tập của con em trên địa bàn của

9

các gia đình còn nhiều hạn chế. Mặt khác, trường đã đón nhận các em học sinh trong và ngoài địa bàn đến học, trong đó tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số chiếm trên trên 70% học sinh toàn trường (THPT Tương Dương 1: 875/987HS; THPT Tương Dương 2: 383/546 HS, THPT Kì Sơn: 1431/1514 HS). Cơ sở và trang thiết bị phục vụ cho dạy học đã được đầu tư song vẫn còn thiếu so với yêu cầu giáo dục hiện nay.

- Về phía giáo viên:

+ Khi tổ chức dạy học chuyên đề, nhiều giáo viên vẫn còn lúng túng, còn ảnh hưởng của phương pháp cũ một phần, mặt khác là chưa quen dạy chuyên đề và đang trên đà đổi mới dần nên còn không ít giáo viên chưa thành công trong việc thể hiện vai trò tổ chức, hướng dẫn của mình, chưa phát huy được sự chủ động, tự tin ở học sinh.

+ Do áp lực về thời gian, giới hạn chương trình nên các giờ học giáo viên thường ưu tiên tập trung khai thác, tìm mọi cách cố gắng giúp đỡ, phụ đạo các em theo tiêu chí của mình mà bỏ quên mất việc phát huy năng lực sẵn có ở học sinh. Giáo viên chưa chú trọng tổ chức bài học gắn liền với thực tiễn. Làm cho văn học còn mang tính hàn lâm sách vở mà chưa thực sự đi vào đời sống.

+ Trong chương trình phổ thông mới, việc tự học của học sinh đóng vai trò hết sức quan trọng. Trong khi đó, giáo viên lại chưa tạo được động lực và cách thức tự học tập cho học sinh. Thông thường, lâu nay nhiệm vụ học tập của học sinh là để cô kiểm tra. Nhiều giáo viên chưa chú trọng bước này, chưa đưa ra được các yêu cầu phù hợp với chuyên đề, từng đối tượng học sinh. Cho nên học sinh với thái độ học bắt buộc, học để tránh bị cô nhắc nhở và nhiều em học sinh không thích học, thậm chí là không học nên hiệu quả học tập không thể cao.

- Về phía học sinh

+ Như đã nói ở trên, học sinh ở trường chủ yếu là học sinh dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa. Do vốn ngôn ngữ diễn đạt, trình bày, giao tiếp bằng tiếng phổ thông của các em bị hạn chế. Nên các e còn rụt rè, kém tự tin, không tích cực tham gia các hoạt động, các em luôn cảm thấy tự ti so với các bạn.

- Phần lớn học sinh chưa có kĩ năng nghiên cứu khoa học, nhất là đối với học sinh lớp 10 học chương trình mới, vì các em vẫn quen với cách học tập của chương trình cũ. Các em chưa biết lập và xác định vấn đề cho bài tập nghiên cứu, xử lí các tài liệu, lập đề cương đến cách trình bày bài tập nghiên cứu.

+ Quá trình nghiên cứu về một chuyên đề văn học đòi hỏi hoạt động nhóm, vẫn còn một số em vẫn ỉ lại cho bạn, không chủ động trong công việc, thậm chí bê trễ nhiệm vụ. Bên cạnh lại có những em có kiến thức lí thuyết tốt nhưng chưa biết cách vận dụng vào thực tế, không tự tin thể hiện vai trò trước nhóm tập thể.

10

+ Bên cạnh mặt tốt mà khoa học công nghệ thông tin mang lại thì nhiều chương trình khiến các em đam mê mà quên nhiệm vụ học tập. Các em “nhốt mình” vào thế giới ảo, phụ thuộc vào tài liệu có sẵn, lười tư duy, nên nhiều em không thể chủ động và tự tin thể hiện những yêu cầu của bài học.

Trong quá trình giảng dạy, với ý thức vừa nghiên cứu đặc điểm tình hình học tập bộ môn của học sinh, vừa tiến hành rút kinh nghiệm qua mỗi tiết dạy, tôi thiết nghĩ phải tìm ra những giải pháp tối ưu phù hợp với đối tượng học sinh lớp 10 vùng miền núi. Với việc thực hiện các giải pháp này, tôi từng bước điều chỉnh cách học của học sinh nhằm truyền cảm hứng, phát huy năng lực tự tin và tự chủ của người học. Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở miền núi nói chung, ở trường THPT Tương Dương 1 nói riêng.

2.2. Cơ sở áp dụng các giải pháp phát huy năng lực tự tin và tự chủ của học sinh miền núi trong giảng dạy chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”, Ngữ văn 10 ở trường THPT Tương Dương 1

- Bản thân là một giáo viên ham tìm tòi các phương pháp dạy học mới. Được nhà trường tạo điều kiện cho tham gia đầy đủ các cuộc tập huấn thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học.

- Kiến thức chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”, trong chương trình ngữ văn 10 tương đối dễ hiểu, giúp học sinh liên hệ, rút ra được nhiều điều bổ ích.

- Học sinh rất thích thú khi thực hiện các hoạt động nghiên thực hành báo cáo văn học dân gian, bởi đây là những tác phẩm câu chuyện các em đã được làm quen, gắn bó từ lúc còn nhỏ, đặc biệt là những vấn đề gắn liền với thực tế đời sống. Đó là điều kiện lí tưởng để khơi nguồn cảm hứng trong hoạt động học tập của học sinh.

- Sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh

có thể tìm hiểu các thông tin, hỗ trợ các phần mềm thiết kế hữu ích cho bài học.

- Một số phụ huynh, các nghệ nhân, tổ chức câu lậc bộ tại địa phương rất

nhiệt tình cùng tham gia, hỗ trợ học sinh trong quá trình trải nghiệm thực tế.

- Các giáo viên Tổ Văn trường THPT Tương Dương 1 có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác chuyên môn, ham học hỏi, tìm tòi và sáng tạo. Các giáo viên trong tổ rất hào hứng với các giải pháp này nên rất nhiệt tình hỗ trợ.

2.3. Điều tra thống kê

* Đối với giáo viên: Khi nghiên cứu đề tài này, tôi đã tiến thăm dò ý kiến của 22 giáo viên trong tổ Văn ba trường THPT Tương Dương 1, THPT Tương Dương 2 và THPT Kì Sơn. Tôi đã tiến hành điều tra bằng 2 câu hỏi:

11

Câu 1: Thầy/cô hãy cho biết mức độ về sự cần thiết của dạy học chuyên đề

môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh miền núi?

Câu 2: Hoạt động dạy học chuyên đề trong môn Ngữ văn theo hướng phát

triển năng lực cho học sinh tại trường thầy/cô đã được tổ chức như thế nào?

Phiếu khảo sát giáo viên

Họ và tên: ..............................................................

Thầy/cô hãy tích vào đáp án đúng nhất

Câu 1 Câu 2

Câu hỏi

Cần thiết Ít cần thiết Ít hiệu quả Mức độ

Rất cần thiết Không cần thiết Rất hiệu quả Khá hiệu quả Không hiệu quả

Sau khi tổng hợp, chúng tôi thấy kết quả như sau:

Biểu đồ 1. Kết quả khảo sát câu 1

Biểu đồ 2. Kết quả khảo sát Câu 2

* Đối với học sinh: học sinh khối lớp 10 học chuyên đề Ngữ văn trường THPT Tương Dương 1, năm học 2022 - 2023, (chọn ngẫu nhiên 3 lớp 10C1, 10C2, 107, với tổng số 120 học sinh). Khảo sát về khả năng nghiên cứu và viết báo cáo khoa học môn Ngữ văn của bản thân học sinh. Khảo sát mức độ hứng thú của học sinh khi tham gia hoạt động nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian.

Câu hỏi 1: Em hãy cho biết khả năng nghiên cứu và viết báo cáo khoa học

môn Ngữ văn của bản thân như thế nào?

Câu hỏi 2: Hãy cho biết mức độ hứng thú của em khi được tham gia hoạt

động nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian?

12

Phiếu khảo sát học sinh

Họ và tên: .....................................................

Lớp: .............................................................

Em hãy tích vào đáp án đúng nhất

Câu 1 Câu 2

Câu hỏi

Tốt

Khá Trung bình Không tốt Rất thích Thích Thích vừa Không thích

Khả năng; mức độ

Sau khi tổng hợp, chúng tôi thấy kết quả như sau:

Biểu đồ 3. Kết quả khảo sát các mức độ thực hiện nghiên cứu của HS.

Biểu đồ 4. Kết quả khảo sát các mức độ hứng thú của HS

2.4. Nhận định đánh giá

Từ thực tiễn của chương trình, qua thực tế giảng dạy ở đơn vị và đặc biệt là qua các phiếu khảo sát, chúng tôi nhận thấy việc tổ chức dạy học chuyên đề nói chung, chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian” Ngữ văn 10 nói riêng rất được giáo viên quan tâm, có tới 75% giáo viên cho rằng việc dạy học chuyên đề theo hướng phát triển năng lực cho học sinh miền núi là rất cần thiết, 25% giáo viên chọn là cần thiết, không có giáo viên nào cho rằng ít cần thiết hoặc không cần thiết. Kết quả khảo sát chất lượng tổ chức dạy học chuyên đề tại các trường THPT Tương Dương 1, THPT Tương Dương 2 và THPT Kì Sơn cho thấy giáo viên đánh giá cao tầm quan trọng của việc dạy học chuyên đề và có sự chuẩn bị chu đáo về phương pháp giảng dạy, phù hợp với đặc thù môn học và đối tượng học sinh.

Nhưng vấn đề thực hiện thì chưa thực sự được như mong đợi, hiệu quả vẫn còn thấp, chỉ có 8% giờ học được đánh giá rất tốt, 29% giáo viên đánh giá hoạt động dạy học chuyên đề tại trường mình ở mức ít hiệu quả. Điều này cho thấy giáo viên vẫn đang lúng túng trong việc áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực

13

cho đối tượng học sinh miền núi, giúp các em có thể vượt lên trên rào cản tâm lí và tư duy thụ động cố hữu, từ đó phát triển năng lực tự tin và tự chủ cho bản thân.

Về phía học kết quả khảo sát cho thấy có tới 36% học sinh rất thích và 29% học sinh thích khi được tham gia học tập chuyên đề này. Đây là một trong những động cơ lớn của học sinh và là cơ sở quan trọng cho giáo viên việc tổ chức hiệu quả hoạt động dạy học chuyên đề theo hướng phát triển năng lực tự tin và tự chủ tự của các em.

Tuy nhiên, các em cũng gặp phải một số khó khăn về khả năng nghiên cứu khoa học. Khảo sát cho thấy, trong số 4 mức độ khả năng nghiên cứu và viết báo cáo khoa học môn Ngữ văn được gợi ý, chỉ có một bộ phận nhỏ học sinh 12% có khả năng thực hiện tốt các kĩ năng nghiên cứu khoa học môn ngữ văn. Còn lại chủ yếu chỉ dừng lại ở các mức độ trung bình 42% và 19% ở mức không tốt, còn nhiều hạn chế. Điều này chứng tỏ học sinh trường THPT Tương Dương 1 vẫn còn thiếu và yếu các kĩ năng nghiên cứu khoa học nói chung, môn Ngữ văn nói riêng. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho năng lực tự chủ của học sinh còn thấp. Năng lực tự chủ không đảm bảo thì tất yếu năng lực tự tin cũng vì thế không thể phát huy. Thiếu năng lực tự chủ, tự tin và phương pháp học còn tương đối hạn chế là nguyên nhân chính khiến các e không đáp ứng được yêu nhiệm vụ học tập, từ đó giáo viên khó phát hiện ra khả năng thực sự để phát triển.

Từ thực trạng và kết quả khảo sát trên cho thấy năng lực tự tin và tự chủ của học sinh THPT các huyện miền núi nói chung, học sinh trường THPT Tương Dương 1 nói riêng còn nhiều hạn chế, chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học thấp, vì vậy việc nâng cao năng lực tự chủ và tự tin trong học tập của học sinh thực sự là một đòi hỏi cấp thiết. Những vấn đề cơ bản và chủ yếu cần được quan tâm tập trung giải quyết để nâng cao năng lực tự chủ và tự tin của học sinh, đó là: Phải thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc phát huy năng lực tự tin và tự chủ qua hoạt động nghiên cứu khoa học chuyên đề môn Ngữ văn đối với tất cả các chủ thể, bao gồm cả học sinh lẫn giáo viên, cha mẹ và cộng đồng địa phương.

CHƯƠNG II: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH MIỀN NÚI PHÁT HUY NĂNG LỰC TỰ TIN VÀ TỰ CHỦ TRONG HỌC TẬP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC QUA CHUYÊN ĐỀ “TẬP NGHIÊN CỨU VÀ VIẾT BÁO CÁO VỀ MỘT VẤN ĐỀ VĂN HỌC DÂN GIAN”, NGỮ VĂN 10, Ở TRƯỜNG THPT TƯƠNG DƯƠNG 1

1. Hướng dẫn cho học sinh tự chủ lựa chọn đề tài nghiên cứu phù hợp với năng lực và trình độ tiếp nhận của từng nhóm lớp

Nhược điểm của chương trình môn Ngữ văn cũ là vẫn nặng về lý thuyết, ít tính thực hành. Những tác phẩm được giới thiệu phần lớn xa lạ với không khí thời đại mà học sinh đang sống, nên các em cảm thấy khó tiếp nhận, không hứng thú.

14

Để kích thích hứng thú cho học sinh trong khi lựa chọn đề tài nghiên cứu, chúng tôi tổ chức cho học sinh được tự lựa chọn vấn đề mà các em thấy hứng thú thay thế sự lựa chọn của giáo viên. Giải pháp này chúng tôi đã thử nghiệm áp dụng và thu được phản hồi tích cực. Các em tỏ ra rất hào hứng khi được làm việc với một vấn đề của chính mình, gần gũi với đời sống xã hội, phù hợp với tâm lý, sở thích của các em.

Qua những văn bản, ngữ liệu tự chọn gần gũi, kích thích hứng thú, học sinh có được những trải nghiệm thú vị trong đọc, viết, nói, nghe và rút ra được những bài học cụ thể, sâu sắc; có khả năng phản hồi một cách tích cực và hiệu quả những nội dung đã đọc, khả năng làm chủ tình cảm, hành vi cũng như khả năng ứng xử phù hợp trước các tình huống phức tạp trong đời sống. Cũng qua việc tìm hiểu, lựa chọn và nghiên cứu căn cứ sở thích và tầm tiếp nhận của học sinh, các em có được hiểu biết cơ bản về sự đa dạng văn học, văn hoá của các giai đoạn, có khả năng tìm tòi khám phá, để củng cố, mở rộng vốn sống và tri thức văn học, văn hóa; biết tôn trọng sự khác biệt giữa các nền văn hoá, giữa mọi người. Việc tự chọn đề tài còn góp phần rèn luyện cho học sinh có khả năng suy nghĩ độc lập, sáng tạo; khả năng tìm kiếm, lựa chọn cách giải quyết vấn đề, đề xuất giải pháp; biết cách đọc và xử lí thông tin với các vấn đề đa dạng và phức tạp.

Việc tổ chức cho học sinh tự chọn đề tài để giải quyết nhiệm vụ học “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”, ngữ văn 10 hết sức phong phú. Học sinh có thể lựa chọn rất nhiều vấn đề để thực hành khác nhau như: Nghiên cứu một tác phẩm văn học dân gian; Nghiên cứu một hình tượng, chi tiết trong văn bản văn học dân gian; Nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học dân gian với đời sống văn hóa dân tộc và văn học nghệ thuật hiện nay,... Nhưng với lượng thời gian có hạn, năng lực học sinh ở các lớp không giống nhau, giáo viên không thể một lúc ở các lớp dạy đưa tất cả những đề tài trên vào hoạt động thực hành và yêu cầu học sinh thực hiện nhiệm vụ như nhau. Do đó chúng ta phải lựa chọn đề tài phù hợp với năng lực, phẩm chất và trình độ tiếp nhận của học sinh. Hệ thống câu hỏi, yêu cầu phong phú sẽ tạo cho học sinh có cơ hội lựa chọn vấn đề thực hiện, từ đó phát huy được năng lực, sở trường thực sự của các em. Phổ biến nhất vẫn là hình thức chia nhiệm vụ theo nhóm để các em hỗ trợ cho nhau, cùng nhau tiến bộ. Hội đồng tự quản của lớp cùng giáo viên sẽ đảm nhiệm trách nhiệm chính trong công tác tư vấn.

Thực tế cho thấy nhiều giáo viên chỉ vận dụng những đề tài được gợi ý trong sách giáo khoa và giao cho các em, còn học sinh có thực hiện được hay không cũng không vấn đề gì. Chính vì vậy, trong kế hoạch dạy học, họ chỉ soạn với tính chất đối phó là chính nên hầu hết đều không chú ý đến mực độ phù hợp của câu hỏi với mục tiêu cần đạt về năng lực, phẩm chất và trình độ tiếp nhận của học sinh. Đôi khi những đề tài đặt ra vượt quá khả năng nhận thức của học sinh thì vô hình chung đó chỉ là yêu cầu cho vui mà thôi. Ví dụ, một lớp chủ yếu là học sinh yếu và trung bình như 10C7, học tại địa bàn vùng xa của huyện miền núi, nơi điều kiện

15

thực hiện những trải nghiệm lớn hầu như là không thể, mà yêu cầu các em nghiên cứu lễ hội dân gian hay thực hiện báo cáo theo kiểu một dự án thì rất khó thu được kết quả như mong đợi. Đối tượng học sinh ở lớp này các em thường chọn vấn đề có yêu cầu cơ bản tương đối đơn giản như nghiên cứu một hình tượng nhân vật trong truyện cổ tích, thần thoại; nghiên cứu về một bài, một chùm ca dao.

Trong dạy học chuyên đề, căn cứ vào mục đích bài học, khả năng của học sinh mỗi lớp, chúng tôi thường linh hoạt gợi ý một số vấn đề, tình huống liên hệ để học sinh có cơ hội lựa chọn đơn vị kiến thức phù hợp với năng lực, sở trường của chính mình. Lớp có nhiều học sinh khá như lớp 10C1 có thể tăng độ khó, những tình huống phức tạp hơn lớp trung bình, yếu. Các em rất tự tin khi lựa chọn những đề tài khó, có nhiều tính mới để tăng sự cạnh tranh với các nhóm khác.

Ví dụ ở Hoạt động 2. Hình thành kiến thức, phần 1. Tập nghiên cứu: cũng là chọn đề tài nghiên cứu về ca dao nhưng học sinh 10C1 không chọn một bài ca dao cụ thể mà đề xuất đề tài gắn liền với văn hóa và thực tế đời sống trong gia đình, tại địa phương các em như: “Tình cảm gia đình trong ca dao xưa, từ đó đề xuất một số giải pháp giúp cuộc sống gia đình hạnh phúc hơn”, “Dấu ấn của ca dao dân ca trong làn điệu dân ca Thái ”; Khi nghiên cứu truyện cổ tích Tấm Cám, các em không lựa chọn nhân vật Tấm, nhân vật Cám mà lựa chọn nhân vật lâu nay ít ai quan tâm là nhân vật mụ dì ghẻ với đề tài “Hình tượng người mẹ kế từ truyện cổ tích Tấm Cám đến đời sống hiện đại”, không chỉ thể hiện quan điểm, cách đánh giá một chiều về nhân vật trong truyện cổ tích mà từ đề tài còn là cách nhìn nhận đa chiều về người mẹ kế trong cuộc sống hiện đại. Để kiểm tra sự lựa chọn đề tài nghiên cứu của học sinh có phù hợp với năng lực, sở trường thực sự của các em hay không, chúng tôi kết hợp với các yêu cầu của giáo viên theo bảng KWLH (Phụ lục 1) và thu được kết quả khả quan (Ảnh minh họa Phụ lục 8).

Được tự chủ trong sự lụa chọn, các em rất tự tin trình bày lí do lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình. Phương pháp trên đây ngoài hiệu quả tác động tích cực đến năng lực tự chủ, tự tin hứng của học sinh, làm thay đổi thái độ học tập với môn Ngữ văn của các em mà còn tác động trực tiếp đến nhận thức, ý thức và năng lực của giáo viên, góp phần quan trọng vào việc đổi mới giáo dục hiện nay. Khi đã trao quyền chủ động cho học sinh, tất yếu giáo viên sẽ phải đối diện với sự đa dạng, phức tạp trong ý tưởng tư duy, trong cách phát ngôn của các em. Do vậy, giáo viên buộc phải tự nâng cao trình độ năng lực của mình, góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay.

2. Tích cực sử dụng các phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh

2.1. Tích cực sử dụng phương pháp dạy học nhóm

Bên cạnh việc giải quyết tốt nhiệm vụ nhận thức, tăng cường dạy học theo nhóm giúp học sinh hình thành các phẩm chất nhân cách và các kỹ năng xã hội tốt

16

hơn. Học sinh sẽ phát huy được tính tích cực chủ động, tính trách nhiệm, phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực tự tin trong học tập và giao tiếp,... Mặt khác kiểu bài nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian thường đặt ra yêu cầu tương đối cao, do đó hiểu biết của một cá nhân khó có thể đáp ứng hết được. Việc tổ chức hoạt động nhóm sẽ giúp các em hỗ trợ lẫn nhau để cùng bàn bạc và tìm ra những đáp án tối ưu nhất. Đồng thời tránh sự nhàm chán, khơi dậy sự hứng thú.

Tuy nhiên để tránh trường hợp những học sinh lười ỉ lại vào người khác thì đối với đề tài nhiều nội dung, giáo viên yêu cầu nhóm trưởng phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cá nhân, sau đó tổng hợp ý kiến thống nhất. Đến bước báo cáo kết quả thực hiện thảo luận, giáo viên sẽ cho bốc thăm để học sinh nào cũng trong tâm thế mình là người trình bày và sẽ chuẩn bị kĩ càng hơn. Với những câu hỏi phải chuẩn bị ở nhà, giáo viên yêu cầu học sinh quay lại quá trình thực hiện của nhóm mình và có thể cho cả lớp cùng theo dõi. Giáo viên phải đánh giá sản phẩm hoạt động của nhóm một cách cụ thể, công bằng, khách quan và cộng điểm xứng đáng để động viên, khích lệ tinh thần học tập của các em. Tránh tình trạng cào bằng điểm của cả nhóm.

Ví dụ minh hoạ: Đối với lớp 10C1, sau phần tìm hiểu chung về Tri thức văn học dân gian, giáo viên chia lớp thành 3 nhóm, mỗi nhóm lựa chọn và thực hiện một đề tài nghiên cứu.

Nhóm 1. Thực hiện đề tài: “Tình cảm gia đình trong ca dao xưa, từ đó đề xuất

một số giải pháp giúp cuộc sống gia đình hạnh phúc hơn”.

Nhóm 2. Thực hiện đề tài: “Dấu ấn của ca dao dân ca trong làn điệu dân ca

Thái ”.

Nhóm 3. Thực hiện đề tài: “Hình tượng người mẹ kế từ truyện cổ tích Tấm

Cám đến đời sống hiện đại”.

Các thành viên của nhóm sẽ cùng nhau gắn kết, hoạt động suốt quá trình nghiên cứu và báo cáo chuyên đề. Trong quá trình thực hiện đề tài các nhóm sẽ phân công nhiệm vụ, thời gian cụ thể và thực hiện theo cá nhân hoặc nhóm nhỏ. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ phân công nhiệm vụ, theo dõi quá trình học tập và báo cáo hoạt động theo bảng và rubrics đánh giá hoạt động nhóm (Phụ lục 2.1 và 2.2).

Ở phần trình bày sản phẩm, giáo viên giành khoảng 7/10 phút cho học sinh các nhóm báo cáo, bảo vệ ý kiến của mình. Khi đứng trước ý kiến trái chiều, các em sẽ đưa ra những lập luận, lí lẽ, những dẫn chứng để chứng minh tại sao lại không đồng tình với quan điểm của nhóm bạn. Sôi nổi nhất là những ý kiến nhận xét, tranh luận, phản bác của học sinh khi các em vận dụng những kiến thức có trong tác phẩm và thực tế ngoài đời sống để giải quyết vấn đề, quá trình thảo luận

17

như thế sẽ kích thích được tư duy phản biện cho các em. Từ đó giúp học sinh phát triển năng lực tự chủ trong công việc và khả năng dạn dĩ trong giao tiếp.

Khi làm việc nhóm, trong nhóm đổi bài và sửa bài cho nhau. Các em ai cũng được đóng vai là thầy, là cô để sửa bài cho trò cho bạn của mình. Chúng tôi đưa ra các tiêu chí sửa cho các em nhận xét, chấm điểm. Nhận xét, sửa lỗi về nội dung kiến thức: đúng chủ đề, đầy đủ, thuyết phục, sâu sắc. Nhận xét, sửa lỗi về kỹ năng: Đúng hình thức một bài báo báo nghiên cứu về một vấn đề văn học dân gian, có sử dụng thao tác lập luận chứng minh, phân tích, giải thích, phản bác,... Cách diễn đạt rõ ràng, lưu loát. Sử dụng các phương tiện hỗ trợ như hình ảnh, bảng biểu, video,... Qua thực tế bài dạy ở lớp 10C1, 10C7 chúng tôi thấy các em rất hào hứng và tích cực làm công việc của mình, trong hoạt động nhóm học sinh nào cũng tự chủ làm việc, tránh được tình trạng ỉ lại ở một số học sinh. Các em còn thấy vui và hứng khởi vì mình không chỉ tham gia vào quá trình học mà còn tham gia vào quá trình “dạy”, giứp đỡ lẫn nhau, từ đó kích thích được năng lực tư duy, ngôn ngữ, năng lực tự tin cho các em. Giờ học sôi nổi, không nhàm chán mà lại đạt được hiệu quả giáo dục. Dần dần như thế chúng tôi thấy các em đã “biết và thành thạo công việc”.

2.2. Tổ chức trò chơi trong dạy học

Trò chơi học tập là một trong những phương pháp hiệu quả nhằm mục đích để các em không chán nản môn học, có cảm giác học mà chơi, chơi mà học. Nhất là những bài học chuyên đề, yêu cầu một lượng nội dung khá nhiều, dễ gây cảm giác uể oải, nhàm chán. Khi lồng các trò chơi vào một số hoạt động bài học, nó sẽ tích cực hóa hoạt động của học sinh, không những giúp các em chủ động lĩnh hội được tri thức một cách nhẹ nhàng mà còn giúp các em củng cố và khắc sâu kiến thức hơn. Bên cạnh đó giúp các e có cơ hội tự khẳng định mình và tự đánh giá nhau trong học tập. Từ đó nâng cao năng lực tự chủ, tự tin cho học sinh.

Tùy theo nội dung bài học mà chọn thời điểm và hình thức tổ chức trò chơi phù hợp. Đối với bài học chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”, chúng tôi đã lồng ghép tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi ở các hoạt động: Mở đầu (tạo tâm thế), tìm hiểu Tri thức tổng quát. Các trò chơi được lựa chọn là: Đuổi hình bắt tác phẩm; từ khóa ơi mở ra, trò chơi siêu trí tuệ, chiếc hộp may mắn.

2.2.1. Hoạt động Mở đầu bằng trò chơi “Đuổi hình bắt tri thức” để tạo tâm

thế cho học sinh trước giờ học

- Trò chơi “Đuổi hình bắt tác phẩm”: Đây là trò chơi mang tính chất nhận diện. Nó rất phù hợp cho những tiết dạy chủ đề. Trò chơi này có khả năng phát huy trí tưởng tượng của học sinh, rèn luyện khả năng phản ứng nhanh. Trong thời gian ngắn có thể giúp học sinh nhớ lại những tác phẩm đã học để phục vụ bài học mới.

18

- Tổ chức: Giáo viên chiếu những bức hình khác nhau liên quan đến các tác phẩm, nhân vật văn học dân gian lên màn hình và nêu câu hỏi: cho biết những chi tiết, nhân vật này xuất hiện trong những tác phẩm văn học dân gian nào? Các văn bản đó có ý nghĩa gì? Mỗi hình có những điểm gợi ý. Học sinh nhìn vào hình để đoán tên tác phẩm. Ai đoán nhanh và đoán đúng sẽ có điểm và được thưởng.

- Học sinh tham gia trả lời: tên và ý nghĩa các tác phẩm thuộc các thể loại của văn học dân gian. Từ đó, học sinh có sự liên hệ hiểu biết cá nhân với chuyện đề học tập. Học sinh có định hướng học tập, hình dung được sản phẩm học tập cần làm.

2.2.2. Các trò chơi: “Từ khóa ơi mở ra”, “trò chơi siêu trí tuệ”

- Hai trò chơi này sẽ được kết hợp tổ chức trong phần tìm hiểu Tri thức tổng

quát của chuyên đề.

- Cách tổ chức: Sau khi giáo viên hướng dẫn học sinh đọc thông tin phần Tri

thức tổng quát (tr4, 5 sách chuyên đề) yêu cầu học sinh thực hiện 2 nhiệm vụ.

- Nhiệm vụ 1: Từ khóa ơi mở ra (gạch chân dưới những từ khoá).

- Nhiệm vụ 2: Giáo viên tổ chức trò chơi Siêu trí tuệ để củng cố kiến thức về

Văn học dân gian.

+ GV mời một vài thành viên đọc thông tin và diễn tả lại những từ khoá về VHDG bằng hành động/ngôn ngữ (nhưng không được nói ra từ khoá) các thành viên còn lại đoán thông tin.

+ Thông tin: Ngôn từ, nhân dân lao động, truyền miệng, múa rối, diễn xướng,

dị bản, bài học.

+ Thời gian: 3 phút đội nào thể hiện được đầy đủ thông tin nhất về vấn đề đội

mình tìm hiểu sẽ giành chiến thắng.

2.2.3. Trò chơi “Chiếc hộp may mắn”

- Trò chơi này phù hợp khi tổ chức lồng ghép trong hoạt động báo cáo sản phẩm của các nhóm. Điểm đặc biệt của trò chơi này là ở tính bất ngờ cho học sinh. Giáo viên chuẩn bị một chiếc hộp nhỏ, trong đó có những mảnh giấy ghi các phần quà thú vị, đa dạng. Học sinh thực hiện tốt yêu cầu sẽ được nhận quà trong chiếc hộp.

- Tổ chức: Trong chiếc hộp sẽ là câu hỏi. Mỗi câu hỏi có ghi sẵn phần thưởng. Học sinh sẽ cùng đọc thuộc lòng bài ca dao và chuyền tay nhau chiếc hộp. Khi người tổ chức có hiệu lệnh “dừng” cả lớp sẽ ngừng đọc và hộp quà đến tay ai, người đó sẽ có quyền lựa chọn câu hỏi và phần quà trong chiếc hộp nếu trả lời đúng.

19

Qua dạy học chuyên đề có lồng ghép trò chơi, tôi thấy học sinh được củng cố và rèn luyện kĩ năng thực hành một cách nhẹ nhàng tự nhiên, không khí lớp học sinh động, nhất là phát huy được năng lực tự chủ về kiến thức, xử lí tình huống nhanh nhạy và sự tự tin của cá nhân học sinh cũng như của nhóm trong học tập và giao tiếp. Hướng đến mục tiêu dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất cho người học (Ảnh minh họa Phụ lục 8)

2.3. Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh

Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm là học sinh là học sinh được học tập trong môi trường thực tiễn, trực tiếp tham gia các hoạt động, thông qua đó các em tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Vì vậy hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn được tiến hành trong và ngoài không gian của lớp học có ưu thế và tạo niềm vui hứng thú cho học sinh. Từ đó, rèn luyện cho người học có được phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự chủ trong học tập, tạo cho họ lòng ham học, sư tự tin, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên. Không những thế còn phát triển năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp, mang tính tích hợp trong cuộc sống.

Khi dạy học chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”, để tìm kiếm và thu thập tài liệu phục vụ tốt cho các đề tài mà học sinh đã lựa chọn, giáo viên có thể tư vấn tổ chức một số hoạt động trải nghiệm sau:

2.3.1. Tổ chức hoạt động trải nghiệm thực tế dưới hình thức tham quan câu

lạc bộ, phỏng vấn chuyên gia tại địa phương

Sinh sống và học tập tại huyện miền núi, điều kiện vật chất và phương tiện đi lại rất hạn chế, thì việc tổ chức cho học sinh trải nghiệm các địa điểm lớn, nổi tiếng là rất khó thực hiện. Trong tình hình thực tế đó, giáo viên sẽ lựa chọn các địa điểm gần trường học, các mô hình quy mô vừa phải để học sinh vẫn được trải nghiệm. Giúp các em thâm nhập thực tế, rất vui mà vẫn đưa lại hiệu quả học tập cao.

Ví dụ, Ở lớp 10C7, nhóm 1 thực hiện đề tài: “Tình cảm gia đình trong ca dao xưa, từ đó đề xuất một số giải pháp giúp cuộc sống gia đình hạnh phúc hơn”, chúng tôi cho học sinh đi tham quan và phỏng vấn cuộc sống của một số gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa tiêu biểu và gia đình khó khăn thuộc diện hộ nghèo, các gia đình này đều là phụ huynh của lớp 10C7. Mục đích của hoạt động trải nghiệm này không chỉ giúp các em tự chủ được nguồn tư liệu phục vụ cho bài báo cáo mà còn là cơ hội để các em rèn luyện năng lực tự tin trong giao tiếp. Từ đó, có thể tự rút ra được những bài học, kinh nghiệm về đối nhân xử thế, bồi đắp sự yêu thương, sự sẻ chia trong gia đình, lớp học cũng như cộng đồng.

Hay trong quá trình hướng dẫn nhóm 2 thực hiện đề tài: “Dấu ấn của ca dao dân ca trong làn điệu dân ca Thái ”, chúng tôi cho học sinh đi tham quan mô hình câu lạc bộ “Bảo tồn và phát huy các loại hình nhạc cụ dân tộc Huyện Tương

20

Dương”. Đến đây các em được giao lưu, phỏng vấn các nghệ nhân, được nghệ nhân Lương Văn Pắn giới thiệu và cung cấp nhiều thông tin về các loại nhạc cụ truyền thống, sự ảnh hưởng của ca dao dân ca trong làn điệu dân ca Thái.

Qua buổi trải nghiệm, các em biết rõ hơn các làn điệu dân ca của người Thái, dấu ấn tương quan giữa ca dao dân ca của văn học dân gian với làn điệu quen thuộc các em được tiếp xúc hàng ngày. Trong bài báo cáo, các em đã chủ động khai thác, chọn lọc và đưa vào được nhiều thông tin hay về sự giao thoa giữa ca dao dân ca với làn điệu dân ca Thái như Nhuôn, Xuối, Lăm, Khắp, Chà Lây về: lời bài hát, tiết tấu, nội dung, cách thức biểu diễn,...Cũng qua buổi trải nghiệm này học sinh rất hứng khởi, tự tin hát những làn điệu dân ca Thái tưởng chừng bị quên lãng trong thế giới nhạc trẻ. Từ đó bồi đắp cho các em tình yêu âm nhạc truyền thống, đồng thời cũng là cơ hội để các em học hỏi, giữ gìt, phát triển nét đẹp văn hóa nghệ thuật trên quê hương mình và hướng nghiệp sau khi tốt nghiệp THPT.

2.3.2. Tổ chức hoạt động trải nghiệm bằng hình thức sân khấu hóa, bằng múa

hát và âm nhạc

Sân khấu hóa là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành để trình bày những suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một vai giả định. Từ đó giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách từ chỗ đứng, góc nhìn của người trong cuộc, tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được từ vai của mình.

Phương pháp này được các em học sinh lớp 10C1 lựa chọn và thực hiện. Đó là đề tài của nhóm 3: “Hình tượng người mẹ kế từ truyện cổ tích Tấm Cám đến đời sống hiện đại”, các em chủ động đề xuất chuyển thể một đoạn văn bản Tấm Cám thành một kịch bản sân khấu. Các em tự viết kịch bản, đạo diễn, diễn xuất, thiết kế trang phục, đạo cụ. Mỗi em tự xây dựng tính cách, ngoại hình, thể hiện nội tâm nhân vật. Hình thức này tạo cho bài báo cáo của nhóm 3 rất sinh động và hấp dẫn người xem. Nhưng điều làm chúng tôi ngạc nhiên nhất là các em không bị lặp lại hoàn toàn cô Tấm, Cám, người mẹ kế của truyện cổ tích. Mỗi học sinh nhập vai lại có cách nhìn nhận theo một cách riêng, mỗi nhóm chọn những điểm nhấn khác nhau. Bởi vậy, chính các em đã là “đồng sáng tạo” với tác giả dân gian. (Ảnh minh họa Phụ lục )

Hay ở đề tài “Dấu ấn của ca dao dân ca trong làn điệu dân ca Thái ” các em lồng vào các tiết mục hát Nhuôn, Xuối kết hợp múa điệu xòe Thái giúp học sinh có thêm nhiều cơ hội tiếp cận và cảm thụ văn bản theo nhiều cách khác nhau. Cũng là dân ca thái nhưng các tiết mục đã được nhóm làm mới khi kết hợp với video clip chiếu trên màn hình. Các em lên sân khấu biểu diễn và cũng chính các em thiết kế clip nên có lẽ ngay từ khi lựa chọn tiết mục chất văn chương đã bắt đầu thấm vào tâm hồn của từng thành viên. Cách học này khơi dậy lòng yêu thích môn Văn, phát huy khả năng tự chủ trong tổ chức, và tự tin khi diễn xuất của học sinh. (Ảnh minh họa phụ lục 8)

21

Như vậy, việc sân khấu hóa tác phẩm văn học là một sáng tạo trong phương pháp dạy học văn mà tôi nghĩ không chỉ tạo được hứng thú trong học tập mà còn đem đến hiệu quả trong việc phát huy năng lực tự tin, tự chủ trong học tập của học sinh. Các em chủ động chuẩn bị kiến thức, tìm hiểu bài học, có cơ hội được bày tỏ quan điểm riêng của bản thân một cách sáng tạo. Được hóa thân vào các nhân vật văn học, tham gia các tiết mục văn nghệ cũng giúp học sinh hào hứng hơn, có cái nhìn toàn diện, sâu sắc, mới mẻ hơn về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Các em trở nên mạnh dạn, tự tin hơn khi thường xuyên trình diễn trước tập thể và ống kính. Học sinh qua việc trải nghiệm sẽ tự rút ra những thông điệp và giá trị sống có ý nghĩa. Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo hướng tích cực.

2.3.3. Tổ chức hoạt động trải nghiệm bằng hình thức thảo luận chủ đề văn

học.

Để các học sinh có dịp tìm hiểu, nghiên cứu, chia sẻ, trao đổi với nhau về các vấn đề về liên quan bài học chuyên đề, thay vì lần lượt gọi đại diện các nhóm lên báo cáo sẽ rất nhàm chán. Giáo viên có thể sử dụng tiết học thuyết trình về kết quả nghiên cứu tổ chức dưới hình thức một cuộc thảo hội thảo nhỏ về vấn đề văn học dân gian ở qui mô lớp học hoặc liên lớp học. Tại đây, học sinh trao đổi, thảo luận xoay quanh chủ đề với tư cách cá nhân hoặc nhóm. Giáo viên dạy và giáo viên được mời đến dự giờ với tư cách là cố vấn cùng trao đổi với học sinh chứ không phải chỉ ngồi quan sát và ghi chép như trước. Hội đồng tự quản lớp học bầu một hoặc hai học sinh làm người hướng dẫn chương trình, bầu 4 học sinh làm giám khảo chấm điểm kết quả nghiên cứu của các nhóm theo các tiêu chí giáo viên hướng dẫn.

Kết quả thu được từ hoạt động này thực sự đáng mừng. Bài dạy chuyên đề được tổ chức theo hình thảo luận chủ đề văn học “Em tập làm nhà nghiên cứu văn học”, học sinh rất thích thú. Ví dụ, ở chủ đề nhóm 1 “Tình cảm gia đình trong ca dao xưa, từ đó đề xuất một số giải pháp giúp cuộc sống gia đình hạnh phúc hơn”, các em đã bộc bạch những băn khoăn, “góc khuất” về chính bản thân, gia đình các em mà giáo viên khó có cơ hội thấu cảm trong những giờ học hàng ngày. Đặc biệt, có học sinh bình thường rất ít nói, nhưng ở tiết thảo luận như thế này các em đã dám bước qua sự tự ti của bản thân để mạnh dạn nói lên tiếng nói đề xuất của chính mình. Đó là những bài học về phẩm chất mà các em rút ra được từ nhiều phía, qua đó bồi dưỡng xây đắp mạch tâm hồn, hình thành dòng chảy nhân cách và phát triển chiều sâu cá tính. Đây cũng là một kênh để giáo viên cùng gia đình tư vấn và điều chỉnh trong cách nhìn, cách dạy và giáo dục học sinh.

Qua hoạt động trải nghiệm dưới hình thức thảo luận các chủ đề văn học sẽ giúp các em phát triển năng lực tự chủ trước nội dung, thời gian, hình thức trình bày,... bài báo cáo, làm chủ trước đám đông, tự tin bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của riêng mình, phát triển kỹ năng thuyết trình hùng biện, tạo cơ hội giao lưu, trao đổi,

22

học hỏi kinh nghiệm. Từ các hoạt động trải nghiệm đó, học sinh đã hình thành được những cách thức giải quyết các vấn đề từ thực tiễn đặt ra. Các em có thêm những tìm tòi để tìm ra những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá, kinh tế của quê hương, dân tộc. Đặc biệt sau mỗi lần trải nghiệm, học sinh sẽ có những thu hoạch bằng bài báo cáo, bằng các sáng tác theo năng khiếu, sở trường của mình. Sự tương tác giữa học sinh với giáo viên, học sinh với học sinh thường xuyên, nhẹ nhàng hơn mà rất hiệu quả.

Trong môn Ngữ văn, phương pháp tổ chức hoạt động dạy học thông qua trải nghiệm là cơ hội phát triển năng lực không chỉ đem đến cho người học, mà ngay cả người làm thầy dạy văn chương cũng được “bứt” khỏi sách vở, để có đường dẫn sinh động nối giữa văn với đời. Khi đến nơi trải nghiệm, người đứng lớp là các hướng dẫn và nhiều khi giáo viên lại là học trò bên học sinh của mình. Khi trở về lớp, người thầy luôn đào sâu và có phương pháp tư duy khoa học sẽ lý giải, phân tích, tổng hợp nâng cao được cho học trò ở một tầng khác. Từ những điều dù học sinh đã được mắt thấy tai nghe, thầy tiếp tục khơi nguồn để đầu nghĩ và tay viết, để làm nên các sản phẩm học tập sáng tạo. Từ đó nâng cao năng lực làm chủ bài học, tự tin trước mọi cảnh huống trong học tập và cuộc sống. Đó là những hành trình hữu ích và ý nghĩa với cả người dạy và người học, với tinh thần mới: Như chưa hề có một lối mòn!

3. Đa dạng hình thức theo dõi, đánh giá quá trình học tập của học sinh; Tổ chức cho học sinh tự đánh giá kết quả học tập chuyên đề

Theo dõi đánh giá học sinh trong quá trình học tập là một trong những khâu quan trọng trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học. Nhưng hoạt động nghiên cứu và viết báo về văn học dân gian không chỉ thực hiện trên lớp mà chủ yếu được học sinh thực hiện trước, sau giờ học chính khoá, ở ngoài lớp học nên quá trình theo dõi, đánh giá học sinh cũng gặp nhiều khó khăn. Nếu giáo viên không chịu khó thì khâu này chỉ dừng lại ở mặt hình thức. Ở đây, giáo viên ít được quan sát, "mục sở thị" các hoạt động, cử chỉ, hành vi, tác phong của các em như trong lớp học mà chủ yếu căn cứ vào sản phẩm học tập và thông qua Hội đồng tự quản của lớp, giáo viên đánh giá được sự tiến bộ của học sinh, đánh giá được khả năng vận dụng kiến thức vào quá trình nghiên cứu và viết bài báo cáo.

Để theo dõi đánh giá quá trình thực hiện chuyên đề của học sinh, chúng tôi có sổ theo dõi quá trình học tập, đánh giá thường xuyên ở tất cả các khâu, các công đoạn của quá trình dạy học như: đánh giá trước khi học (đánh giá kinh nghiệm, vốn kiến thức đã có của học sinh), đánh giá trong khi học (đánh giá học sinh sau mỗi bài tập/ nhiệm vụ), đánh giá sau khi học,... Ở đó có ghi những chú ý về khả năng phát triển cũng như các hạn chế của từng em trong quá trình học tập. Theo dõi đánh giá khả năng nhận thức, thái độ học tập thông qua hoạt động học: tiếp nhận nhiệm vụ, tự học cá nhân, trao đổi thảo luận, tư duy sáng tạo học tập và trình bày sản phẩm học tập, các kỹ năng thao tác thực hiện. Việc đánh giá thường xuyên

23

thực hiện linh hoạt, học đến đâu đánh giá đến đó, ghi nhận bảng kiểm, thang đánh giá để quan sát sự chuyển biến về hành động, thái độ và cảm xúc của học sinh.

Tuy nhiên, trong quá trình theo dõi học sinh học tập cần tránh ghi chép, đánh giá theo cảm tính không có minh chứng kết quả học tập. Thiên vị, không tạo cơ hội cho các em được đóng vai, nhất là khi tổ chức học hợp tác như làm nhóm trưởng, thư ký nhóm,... Bỏ qua những học sinh bị bỏ rơi, lười học tập mà không tìm hiểu nguyên nhân, không có sự trợ giúp kịp thời. Bỏ quên những sản phẩm học tập tự làm ở nhà của học sinh.

Trong quá trình hướng dẫn học sinh thực hiện chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”, chúng tôi thường xuyên theo dõi và có sự phản hồi từ các nhóm, các góc học tập trên zalo của lớp, phát hiện những điểm yếu kém của học sinh, động viên khích lệ sự cố gắng, nỗ lực tiến bộ của học sinh. Thường xuyên tổ chức cho học sinh tự đánh giá lẫn nhau thông qua các hoạt động trong và ngoài lớp, tổ chức đánh giá sản phẩm học tập trong Hội đồng tự quản của lớp. Việc đánh giá cần được triển khai ở cả 4 khâu đọc, viết, nói, nghe. Để quá trình có hiệu quả, tôi đã hướng dẫn học sinh tìm hiểu, nắm rõ các tiêu chí đánh giá để tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau. Trong quá trình đánh giá cần tôn trọng ý kiến riêng của học sinh, bảo đảm học sinh được bộc lộ, thể hiện phẩm chất, năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học của chính mình, hơn hết là các em thấy mình đang được “làm chủ” bài học. Phương pháp này giúp các em tìm ra chính mình, biết tự xác định những việc làm cũng như gái trị bản thân.

Ví dụ: Đối với việc tự chấm bài viết báo cáo, chúng tôi xem học sinh như một giám khảo chấm bài độc lập và mới thử nghiệm ở lớp 10C1, song thu được kết quả khá bất ngờ. Điểm trung bình của lớp khi giáo viên chấm vòng 1 độc lập được viết ra phiếu chấm riêng và điểm trung bình của lớp sau khi học sinh thực hiện tự chấm vòng 2 (cũng được viết ra phiếu riêng) có độ chênh lệch không đáng kể. Khi được tham gia vào việc quyết định điểm số bài nghiên cứu của mình, học sinh tỏ ra rất hứng thú. Hiệu quả thấy rõ nhất là học sinh chủ động hơn, tự tin hơn, có khả năng đánh giá khách quan và chính xác, tâm lý bình tĩnh hơn, không cảm thấy thắc mắc, băn khoăn hay ức chế vì điểm số của mình.

Hay đối với hoạt động đánh giá sản phẩm thuyết trình của chuyên đề, tôi hướng dẫn học sinh nắm rõ các tiêu chí đánh giá đánh giá chéo kết hợp với đánh giá của Ban giám khảo bằng rubric đánh giá (Phụ lục 4). Có thể xếp loại công khai đánh giá, đánh giá đồng đẳng bài viết của bạn, giáo viên cho điểm (theo nhóm, người chủ chốt được cộng điểm). Học sinh tham gia đánh giá bằng cách nhận xét, trao đổi, góp ý sau mỗi báo cáo hoặc phát biểu bình chọn, xếp loại cuối buổi, hoặc làm phiếu đánh giá với các mức độ khác nhau. (Ảnh minh họa Phụ lục 8)

Đổi mới phương pháp dạy học được chú trọng để đáp ứng những yêu cầu mới của mục tiêu nên việc kiểm tra, đánh giá phải chuyển biến mạnh theo hướng phát triển trí thông minh sáng tạo của học sinh, biết tự đánh giá và đánh giá chéo đúng

24

để điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần trong cuộc sống mà giáo viên phải trang bị cho học sinh. Chừng nào việc kiểm tra, đánh giá chưa thoát khỏi quĩ đạo học tập thụ động thì chưa thể phát huy sự tự tin và tự chủ của người học.

4. Duy trì tốt hoạt động của Hội đồng tự quản

Để hoạt động học tập chuyên đề có hiệu quả cao, việc duy trì tốt hoạt động của Hội đồng tự quản lớp là rất cần thiết. Hội đồng tự quản lớp là do các em học sinh tự tổ chức và thực hiện. Hội đồng tự quản học sinh bao gồm các thành viên là học sinh. Hội đồng tự quản lớp được thành lập là vì học sinh, bởi học sinh và để bảo đảm cho các em tham gia một cách dân chủ và tích cực vào đời sống học đường, khuyến khích các em tham gia một cách toàn diện vào các hoạt động trong cũng như ngoài nhà trường.

Giáo viên cần mạnh dạn giao việc cho Hội đồng tự quản thực hiện các nhiệm vụ quản lí lớp, duy trì tổ chức các hoạt động hỗ trợ giáo viên trong môn học. Giáo viên chỉ đóng vai trò là người tư vấn giúp đỡ. Làm như vậy các em mới có cơ hội bộc lộ khả năng của bản thân, rèn luyện các phẩm chất, năng lực cần thiết.

Dựa vào khả năng và nguyện vọng của học sinh, tôi hướng dẫn 2 lớp 10C1 và 10C7 thành lập Hội đồng tự quản môn Ngữ văn lớp. Ví dụ, lớp 10C1 gồm 42 học sinh, bầu 1 chủ tịch, 2 phó chủ tịch và chia thành 5 ban nhỏ như sau:

+ Chủ tịch hội đồng: em Vi Thị Thuỳ Dương và 2 phó chủ tịch là các em

Lương Thị Thuý Hằng và Lô Tiến Đạt.

+ Ban học tập (10 học sinh, do em Lương Thị Thuý Hằng làm trưởng ban): Kiểm tra, báo cáo kết quả các bạn thực hiện bài tập chuyên đề hoặc việc giáo viên giao ở nhà. Giúp đỡ, hướng dẫn các bạn gặp khó khăn trong học tập cùng tiến bộ; Hỗ trợ giáo viên điều hành hoạt động học tập của các bạn trong các giờ báo cáo sản phẩm.

+ Ban công nghệ thông tin (8 học sinh, do em Vi Thị Kim Oanh làm trưởng

ban): Hỗ trợ các nhóm về mảng kĩ thuật công nghệ.

+ Ban đối ngoại (8 học sinh, do em Lô Thị Việt Thích làm trưởng ban): Giúp

lớp quan hệ tốt với người ngoài lớp.

+ Ban văn nghệ (8 học sinh, do em Ngân Thị Bảo Na làm trưởng ban): Tổ chức các hoạt động nghệ thuật, giải trí; Giúp giáo viên tổ chức các tiết thảo luận chuyên đề.

+ Ban quyền lợi (8 học sinh, do em Lô Tiến Đạt làm trưởng ban): Bảo vệ quyền cá nhân của học sinh; Báo cáo với giáo viên xử lý các tình huống, sự việc xảy ra trong môn học.

Khi thực hiện nhiệm vụ trải nghiệm của đề tài “Dấu ấn của ca dao dân ca trong làn điệu dân ca Thái” do nhóm 1 thực hiện, giáo viên cho các em đi trải

25

nghiệm mô hình câu lạc bộ “Bảo tồn và phát huy các loại hình nhạc cụ dân tộc Huyện Tương Dương” tại bản Mon, Thạch Giám để lấy tư liệu viết bài báo cáo. Các ban trong Hội đồng tự quản phát huy vai trò rất tốt.

+ Ban đối ngoại đi liên hệ với Ban phụ trách câu lạc bộ (thầy Lương Văn Huỳnh), dự kiến nội dung cần thực hiện; Liên hệ với một số nghệ nhân trong câu lạc bộ (Bác Lương Văn Pắn, bản Khe Ngậu, Xã Lượng).

+ Ban văn nghệ phụ trách văn nghệ trong giờ giải lao, giúp đỡ cho các bạn tổ chức thị sát, tập hát và biểu diễn một làn điệu dân ca Thái thể hiện dấu ấn của văn học dân gian trong làn điệu dân ca Thái.

+ Ban học tập động viên, giúp đỡ các bạn hoàn thành bài báo cáo, các sản phẩm học tập đúng thời gian. Ban học tập sẽ kiểm duyệt các sản phẩm nạp trực tiếp hoặc trên các nhóm zalo của lớp.

+ Ban công nghệ thông tin, hỗ trợ các nhóm về mảng kĩ thuật công nghệ như: chụp, chỉnh sửa ảnh, video, thiết kế các sản phẩm bằng các phần mềm trên máy vi tính, điện thoại,...

Phát huy được vai trò của Hội đồng tự quản sẽ thúc đẩy sự phát triển về đạo đức, tình cảm và ý thức xã hội của học sinh thông qua những kinh nghiệm hoạt động thực tế của các em trong nhà trường và mối quan hệ của các em với những người xung quanh. Đảm bảo cho các em tham gia một cách dân chủ và tích cực vào đời sống học đường. Tạo cơ chế khuyến khích cho các em tham gia một cách toàn diện vào các hoạt động của nhà trường và phát triển tính tự chủ, sự tôn trọng, bình đẳng, tinh thần hợp tác và đoàn kết của học sinh. Giúp các em phát triển kĩ năng tự tin ra quyết định, kĩ năng hợp tác và kĩ năng lãnh đạo. Đồng cũng chuẩn bị cho các em ý thức trách nhiệm khi thực hiện những quyền và bổn phận của mình.

5. Động viên, khen thưởng kịp thời, tạo động lực cho học sinh phát triển năng lực bản thân

Động viên, khen thưởng được xem là một phương pháp tinh thần kích thích và tạo đông lực cho các em trong vấn đề học tập và rèn luyện kỹ năng. Lời khen chính là những hạt giống để nuôi dưỡng niềm đam mê của bạn với ước mơ và niềm hưng phấn trong công việc.

Qua từng hoạt đông, chúng tôi quan sát, theo dõi từng biểu hiện của học sinh, kết hợp với phiếu đánh giá của nhóm trưởng và Hội đồng tự quản lớp. Nếu các em học tập tiến bộ, làm bài tập tốt hoặc có những biểu hiện tốt về năng lực, phẩm chất, dù là nhỏ nhất, chúng tôi cũng sẽ khen ngợi các em. Tùy vào mức độ, giáo viên đưa ra những lời khen và hình thức khen thưởng khác nhau. Tôi thường kết hợp hài hòa giữa động viên tinh thần và khuyến khích vật chất. Khi được khen các em rất vui và hãnh diện. Những lời động viên tích cực giúp các em tự tin vào trí tuệ của mình, từ đó tự tin nỗ lực hơn nữa để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

26

Ngay từ đầu năm học, tôi đã phối hợp với phụ huynh và giáo viên chủ nhiệm lớp, cùng trao đổi tạo một khoản quĩ nho nhỏ để khen thưởng, động viên các em nhằm tạo động cơ tốt trong học tập cho các em. Phần thưởng có thể là một thẻ hoa tích lũy, quyển vở, một cái bút,... Đề xuất của tôi được phụ huynh, học sinh, giáo viên chủ nhiệm nhất trí cao và duy trì rất tốt.

Trong quá trình dạy chuyên đề, chúng tôi lập kế hoạch động viên khen thưởng cho tất cả các hoạt động. Giáo viên không khen chung chung mà nhắm mục tiêu vào các hành vi học tập cụ thể. Một số yếu tố có thể được củng cố thông qua khen ngợi, bao gồm ý tưởng, nỗ lực, tính chính xác, sự thành thạo, mục tiêu, và đáp ứng một tiêu chuẩn.

Chúng tôi cũng thường xuyên cho các em tự tổ chức các cuộc bình chọn sản phẩm trên nhóm học tập của lớp. Qua sự đánh giá của các thành viên trong nhóm sẽ chọn ra đề tài nào có chất lượng cao nhất. Đề tài được lựa chọn sẽ tiếp tục được nhân rộng khi đăng tải lên các hội nhóm chuyên môn của trường, địa phương. Ví dụ, ở lớp 10C1, đề tài gây ấn tượng nhất“Dấu ấn của ca dao dân ca trong làn điệu dân ca Thái ”, khi đăng lên nhóm học tập trên Zalo, nhóm chuyên môn tổ, nhà trường, nhóm“Cộng đồng người DTTS Tương Dương” được mọi người giá cao bởi sự gần gũi, giá trị thiết thực và khả năng tự tin, sáng tạo của các em. Đây cũng là một kênh đánh giá giúp cho các em tích cực, tự tin hơn về khả năng thực hành khoa học của mình, từ đó tạo thêm động lực để các em tự chủ thực hiện những bài nghiên cứu khoa học qui mô lớn hơn.

Khuyến khích lời khen từ chính học sinh với nhau. Giáo viên cũng cần chú ý, không thể thay thế hoàn toàn những lời khen của giáo viên bằng lời khen của học sinh dành cho nhau. Học sinh đánh giá cao sự tán dương của các bạn cùng lớp, thích các cử chỉ phi ngôn ngữ như vỗ tay, like sản phẩm,... Vì vậy trong các hoạt động chúng tôi thường phát huy vai trò nhận xét, đánh giá chéo để các em vừa có cơ hội thể hiện chính kiến vừa tự tin khẳng định vị trí của bản thân trong tập thể. Điều này sẽ khiến học sinh cảm thấy mình quan trọng và cảm giác được tham gia vào việc giảng dạy của giáo viên. Khi đó học sinh sẽ có cảm hứng để thực hiện ý tưởng của mình.

Lời khen nó đúng thật kì diệu. Khen ngợi chân thành, đúng lúc với phần thưởng thú vị giúp các em thấy rằng, mọi nỗ lực dù ở bất cứ lĩnh vực nào đều xứng đáng được ghi nhận. Từ đó khích lệ sự cố gắng, học sinh có cơ hội phát huy thế mạnh, năng khiếu của bản thân và thành công trên lĩnh vực các em yêu thích. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân đều nỗ lực hết mình cũng là nền tảng để giờ học thêm hào hứng, hiệu quả hơn. Nhưng tôi không lạm dụng lời khen quá mức sẽ có tác dụng ngược lại. (Ảnh minh họa mục II.4)

27

CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm

Quá trình thực nghiệm sư phạm nhằm các mục đích: kiểm tra tính hợp lí và hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp sư phạm trên vào hoạt động dạy - học chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”, Ngữ văn 10, nhằm phát triển năng lực tự tin và tự chủ cho học sinh trường THPT Tương Dương 1, trong năm học 2022 - 2023. Rút ra kết luận và bài học kinh nghiệm trong quá trình dạy học.

2. Tổ chức thực nghiệm

2.1. Phương pháp thực nghiệm

- Chọn 2 nhóm lớp có chất lượng tương đương (đều là lớp học theo tổ hợp xã hội

của trường) để làm đối chứng và thực nghiệm.

- Giáo viên cho học sinh làm bài kiểm tra thường xuyên sau khi kết thúc chuyên đề. Chúng tôi hướng dẫn cho học sinh chấm chéo vòng 1 theo các tiêu chí Bảng rubric đánh giá bài viết (Phụ lục 4), giáo viên chấm bài vòng 2.

- Sau quá trình thực nghiệm sẽ tiến hành so sánh hệ số điểm vòng 1, 2 và đối

chứng để rút ra các kết luận về hiệu quả của dạy học.

2.2. Đối tượng và phạm vi thực nghiệm

- Thực nghiệm sư phạm được tiến hành với các đối tượng là học sinh lớp 10

của trường THPT Tương Dương 1.

- Phạm vi thực hiện: Thực hiện bài kiểm tra thường xuyên: Nghiên cứu, viết

báo cáo về một vấn đề thuộc lĩnh vực văn học hoặc xã hội khác.

2.3. Tiến hành thực nghiệm

Quá trình thực nghiệm được tiến hành như sau:

a. Mục tiêu hoạt động: Học sinh nghiên cứu, cảm nhận được vẻ đẹp và sức sống mãnh liệt của văn học đồng thời biết vận dụng nghiên cứu, sáng tạo về các vấn đề khác của xã hội.

b. Nội dung thực hiện: Em hãy lựa chọn nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề thuộc lĩnh vực văn học hoặc xã hội khác.

c. Sản phẩm: Đề cương báo cáo của học sinh.

d. Tổ chức thực hiện:

Bước 1. Chuyển giao nhiệm vụ

28

- GV giao nhiệm vụ: Học sinh lựa chọn nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề thuộc lĩnh vực văn học hoặc xã hội khác.

Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ

- HS thực hiện ghép nhóm thảo luận, tìm hiểu và viết bài.

- HS thực hiện ở nhà, nạp bài cho Hội đồng tự quản của lớp theo thời gian quy định (sau 1 tuần).

Bước 3. Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ

- Hội đồng tự quản tổ chức cho học sinh chấm chéo vòng 1 theo các tiêu chí ở Phụ lục 4.

- Giáo viên chấm vòng 2.

- Ban học tập trong Hội đồng tự quản công bố kết quả và đọc 1 số bài viết Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu.

Bước 4. Kết luận, nhận định

- GV nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ theo các tiêu chí trong Bảng rubric đánh giá bài viết.

- Giáo viên chốt lại các chia sẻ, lựa chọn các chia sẻ tốt để cả lớp tham khảo.

- Rút kinh nghiệm các bài viết chưa sâu sắc, chưa có sự chuẩn bị tốt để cố gắng.

3. Kết quả đạt được

3.1. Đánh giá định tính

3.1.1. Đối với học sinh

- Tăng tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học tập. Đa số học sinh rất phấn khởi khi tiếp nhận nhiệm vụ học tập. Các em không còn thấy sự nặng nề khi nhắc tới hai từ “nghiên cứu” như ban đầu. Học sinh cho rằng học theo phương pháp này tạo không khí học tập thoải mái, các em có thể tiếp cận kiến thức mới theo nhiều cách khác nhau. Tham gia vào quá trình nghiên cứu nghiêm túc, học sinh sẽ có trách nhiệm hơn trong học tập so với các hoạt động truyền thống khác.

- Mỗi học sinh đã biết tự mình vượt qua “ sức ỳ” cá nhân, chiến thắng thói quen lười hoạt động, lười suy nghĩ của mình. Trong dạy học chuyên đề nghiên cứu văn học dân gian, sự tác động của giáo viên chỉ là điều kiện cần, còn sự tự chủ, tự tin của bản thân học sinh là điều kiện đủ để phát triển khả năng nghiên cứu khoa học ở cá nhân mỗi em.

29

- Học sinh biết chủ động lập thời gian biểu cho việc học trên lớp và ngoài lớp, biết làm việc theo thời gian, kế hoạch mà giáo viên hoặc nhóm đã vạch ra. Việc trao đổi thông tin giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư nơi sinh sống tốt và hiệu quả, qua đó hình thành sự tự chủ trong công việc và sự tự tin trong giao tiếp ở mỗi học sinh.

- Hợp tác nhóm tốt hơn, từ việc phân công công việc theo năng lực, sở trường cho từng thành viên đến việc theo sát kế hoạch đề ra và thời gian thực hiện, để đảm bảo tiến độ của quá trình nghiên cứu. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập các em đã biết trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm giúp nhau cùng hoàn thành công việc được giao, có sự hào hứng thi đua giữa các nhóm. Qua đó phát triển sự tự chủ trong công việc và sự tự tin trong giao tiếp ở mỗi học sinh.

- Tăng tính sáng tạo, trong mỗi học sinh luôn tiềm ẩn nhiều ý tưởng hay và mới lạ. Đây là cơ hội để học sinh phát huy khả năng của mình với các bạn và thể hiện sự sáng tạo trong quá trình nghiên cứu và viết báo cáo. Học sinh nghĩ ra nhiều đề tài và cách giải quyết mới lạ, hấp dẫn, khi giáo viên và các nhóm khác chất vấn.

- Biết tự nâng cao khả năng tạo lập văn bản: Sau khi thực hiện xong chuyên đề, học sinh không chỉ củng củng cố, mở rộng kiến thức về văn học dân gian mà còn có những trải nghiệm thực sự với vai trò của một người làm nghiên cứu văn học. Các em đã biết thiết lập một bài báo cáo văn học đa phượng tiện với khả năng sử dụng ngôn ngữ phong phú, kết hợp phương tiện phi ngôn ngữ sinh động, cấu trúc chặt chẽ, hợp lý, có ý nghĩa giáo dục cao.

- Các em đã khá tự tin trước lớp, trình bày logic, mạch lạc và có sức lôi cuốn. Đặc biệt là những học sinh “cá biệt không nói” đã có sự tiến bộ rõ rệt, không còn nhút nhát, mạnh dạn hơn và sẵn sàng hợp tác cùng các bạn trong mọi hoạt động.

- Tự chủ trong việc vận dụng kiến thức: Trong điều kiện học sinh ở huyện miền núi, điều kiện vật chất còn hạn chế song học sinh đã vận dụng khá tốt kiến thức qua việc trải nghiệm, khai thác mạng internet, sử dụng máy tính, điện thoại thông minh. Các em sử dụng khá thành thạo và hoàn thành báo cáo bằng powerpoint, Canva trình chiếu khá ấn tượng. Biết chia sẻ thông tin qua mạng xã hội hoặc các trang web cộng tác.

- Tự chủ, tự tin trong khâu đánh giá: Qua quá trình thực hiện chuyên đề, học sinh đã có khả năng tự đánh giá và đánh giá chéo dựa vào các tiêu chí của phiếu đánh giá mà giáo viên thiết kế một cách khách quan và chính xác.

- Và quan trọng nhất là học sinh cảm thấy hứng thú và yêu thích hoạt động nghiên cứu khoa học hơn. Mỗi hoạt động trong quá trình các em nghiên cứu và viết báo cáo, trình bày bài nói, nghe và chia sẻ, phản hồi góp ý trong từng đề tài như những viên gạch xây đắp và kết nối tri thức, tình yêu thương, lòng nhân ái giữa con người với con người trong xã hội. Thông qua đó sẽ khơi lên ở các em

30

niềm trắc ẩn, khát vọng khôi phục và bảo vệ cái cao cả, cái tốt đẹp của cuộc đời, ý thức phản kháng cái ác. Chính vì vậy học văn cũng chính là học cách làm người, sống cho ra một con người và tồn tại được trong mọi hoàn cảnh.

3.1.2. Đối với giáo viên

- Sự tự chủ, tự tin của học sinh tác động tích cực trở lại người dạy. Khác với cách dạy truyền thống, sự tác động chủ yếu đi theo một chiều “rót nước vào bình”. Khi áp dụng các giải pháp cho đề tài nghiên cứu và viết báo cáo về văn học dân gian trong quá trình giảng dạy chúng tôi thấy chính sự tự chủ, tự tin của học sinh có tác động ngược trở lại đối với giáo viên, buộc giáo viên phải linh hoạt trong cách thức tổ chức kế hoạch dạy học cũng như đánh giá học sinh. Bản thân người dạy trong quá trình lên lớp được giảm bớt phần thuyết trình, cùng được làm việc với học sinh, được học sinh hỗ trợ đắc lực, từ đó, phát hiện được những học sinh có lòng say mê tự nghiên cứu, có năng lực chuyên biệt .

- Trong hoạt động tổ chức kế hoạch dạy học, người giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, tư vấn cho các hoạt động của học sinh thay. Giáo viên nhìn ra sự liên quan của bài học tới các vấn đề trong cuộc sống, hình thành ý tưởng về vấn đề liên hệ để học sinh đóng vai trò là người thực hiện. Giáo viên thực sự đóng vai trò là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập.

- Giáo viên buộc phải đổi mới phương pháp dạy học, trẻ hóa trong nếp suy nghĩ vốn đã xưa cũ để có thể đáp ứng xu hướng phát triển giáo dục hiện nay và trong tương lai. Việc áp dụng các biện pháp sư phạm trên vào dạy học, giáo viên có thể nâng cao tính chuyên nghiệp, mở rộng sự hợp tác với đồng nghiệp và xây dựng các mối quan hệ với người học cũng như cộng đồng tại địa phương. Giúp giáo viên tìm ra được một mô hình triển khai cho phép hỗ trợ người học đa dạng bằng việc tạo ra nhiều cơ hội học tập hơn trong lớp học. Giáo viên có cơ hội được trải nghiệm, ngày càng tự tin hơn và có khả năng thiết kế các tiết dạy một cách linh hoạt, sinh động hơn.

3.2. Đánh giá định lượng

Được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu và Văn trường THPT Tương Dương 1, tôi đã chọn được 2 nhóm lớp có chất lượng tương đương để làm đối chứng và thực nghiệm.

+ Nhóm thực nghiệm lớp: 10C1 với số học sinh là 42 em, 10C7 là 39 em.

+ Nhóm đối chứng lớp: 10C3 với số học sinh là 39 em.

Sau khi tổ chức cho học làm bài kiểm tra ở hai nhóm lớp thực nghiệm và đối chứng, tiến hành cho học sinh chấm chéo vòng 1 và giáo viên chấm vòng 2, thu được bảng kết quả sau:

Tỉ lệ điểm lớp áp dụng dạy thực nghiệm 10C1, 10C7

31

Kết quả học sinh chấm vòng 1

Kết quả giáo viên chấm vòng 2

Đối chiếu với lớp không áp dụng dạy thực nghiệm 10C3

Kết quả học sinh chấm vòng 1

Kết quả giáo viên chấm vòng 2

Kết hợp với quan sát thực tế, giáo viên dựa vào bảng số liệu kết quả chấm bài tôi nhận thấy điểm của các lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng, đặc biệt có nhiều điểm giỏi 27%, điểm khá 43%, không có điểm yếu. Điểm lệch giữa 2 giám khảo học sinh và giáo viên ở 2 lớp thực nghiệm không nhiều, mức lệch giữa 2 giám khảo nhiều nhất là điểm khá 7%, các mức còn lại giao động từ 0% đến 4 %. Lớp đối chứng 10C3 điểm giỏi không nhiều chỉ đạt 8%, hơn nửa học sinh đạt mức điểm trung bình 51%, điểm yếu chiếm tới 18%. Điểm lệch giữa 2 giám khảo học sinh và giáo viên khá cao, mức lệch nhiều nhất là điểm trung bình 19%, các mức còn lại giao động từ 3% đến 11%. Hơn nữa, so sánh số liệu khảo sát giáo viên và học sinh trước khi thực hiện giải pháp cho thấy học sinh không biết về nghiên cứu khoa học môn Ngữ văn, không có khả năng soạn thảo và tự tin trình bày một bài báo báo cáo khoa học đã giảm rất nhiều. Trong tổng số 120 học sinh được khảo sát, có 19% học sinh tự nhận không thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu một vấn đề văn học, sau khi áp dụng các giải pháp thì học sinh 2 lớp thực nghiệm đã thực hiện tương đối tốt nhiệm vụ học tập, không có học sinh nào không đạt. Như vậy, các em không những chủ động hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập của bản thân, của nhóm mà còn biết giúp đỡ, tự tin đánh giá công trình nghiên cứu của người khác.

* Kết quả khảo sát sau học tập về việc vận dụng phương pháp dạy học phát triển năng lực tự tin và tự chủ trong nghiên cứu khoa học cho học sinh miền núi qua chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”, Ngữ văn 10. (Phiếu khảo sát: Phụ lục 7)

32

Kết quả Kế quả khảo sát (Tỉ lệ %)

Số HS

Đáp án A B C D

10C1 (42) Câu 1 14% 64% 6% 16%

10C7 (39) Câu 2 67% 19% 0% 14%

Câu 3 28% 12% 6% 54%

Câu 4 32% 29% 18% 21%

Câu 5 39% 9% 42% 10%

Câu 6 31% 25% 39% 5%

Kết quả khảo sát cho thấy mức độ nhận thức của học sinh ở lớp thực nghiệm, học tốt hơn, hiểu bài và vận dụng kiến thức hiệu quả hơn. Bài học trở nên hấp dẫn hơn, tạo được sự tương tác đa chiều, không những nâng cao được năng lực nghiên cứu văn học mà sẽ kích thích được khả năng tìm tòi sáng tạo, tự tin thể hiện quan điểm bản thân, năng lực tự chủ hành động, ứng phó, giải quyết tình huống ở học sinh. Từ đó giúp các em thêm tin yêu và có trách nhiệm giữ gìn, phát triển vốn văn học của dân tộc mình, đưa văn học về với đời sống. Như vậy đề tài có tính khả thi.

4. Bài học kinh nghiệm

- Giáo viên cần chú ý đến mức độ phù hợp của đề tài với đối tượng học sinh. Đề tài nghiên cứu phải đúng hướng, sát đối tượng, mang tính thực tiễn cao, có tính khả thi và có thể áp dụng vào thực tế cuộc sống.

- Cần tạo dựng môi trường nghiên cứu thân thiện nhưng vẫn có tính cạnh tranh dành cho học sinh, dưới sự hướng dẫn, tạo điều kiện tối đa của giáo viên, nhà trường và cộng đồng.

- Xác định đúng đắn vai trò của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy - học. Giáo viên không làm thay học sinh, luôn đảm bảo tư duy sáng tạo độc lập của các em.

- Tăng cường các điều kiện phục vụ hoạt động nghiên cứu của học sinh bằng cách đầu tư hệ thống thông tin thư viện. Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học.

- Mạnh dạn và chủ động chia sẻ với đồng nghiệp về những tình huống, những khó khăn mình đã gặp phải trong quá trình dạy học chuyên đề, những khó khăn khi đánh giá học sinh.

33

- Việc đổi mới phương pháp dạy học phải được thực hiện một cách thống nhất, đồng bộ ở các tiết học và tất cả các giáo viên trong tổ. Kế hoạch dạy - học chuyên đề cần được các thành viên trong tổ cùng xây dựng nội dung, phương pháp, dự giờ đánh giá và rút kinh nghiệm.

CHƯƠNG IV. KHẢO SÁT TÍNH CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC GIẢI PHÁP ĐƯỢC ÁP DỤNG

1. Mục đích khảo sát

Thông qua khảo sát nhằm khẳng định tính đúng đắn khoa học, sự phù hợp với thực tiễn, để xác định được mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các giải pháp phát huy sự tự tin và tích cực chủ động trong học tập nghiên cứu khoa học của học sinh miền núi qua chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”, Ngữ văn 10. Từ đó hoàn thiện giải pháp cho phù hợp với thực tiễn.

2. Nội dung và phương pháp khảo sát

2.1. Nội dung khảo sát

Thực hiện khảo sát gồm 02 nội dung sau:

Nội dung 1: Khảo sát các giải pháp được đề xuất trong SKKN thực sự

cấp thiết đối với vấn đề nghiên cứu hiện nay không?

Nội dung 2: Khảo sát các giải pháp được đề xuất trong SKKN có khả thi

đối với vấn đề nghiên cứu hiện tại, không?

2.2. Phương pháp khảo sát

- Phương pháp được sử dụng để khảo sát là Trao đổi bằng bảng hỏi; với

thang đánh giá 04 mức (tương ứng với điểm số từ 1 đến 4)

1-Không cấp thiết; 2-Ít cấp thiết; 3-Cấp thiết và 4-Rất cấp thiết.

1-Không khả thi; 2-Ít khả thi; 3-Khả thi và 4-Rất khả thi.

- Phương pháp được sử dụng để khảo sát được tạo bằng phần mềm goole

forms theo đường link: https://forms.gle/SCMErUobh1MBjZRNA

- Điểm trung bình X được tính theo phần mềm Excel.

- Thang điểm đánh giá các mức: Dùng thang đo Likert 4 lựa chọn trong bảng khảo sát. Khi đó: Giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum) / n = (4-1)/4 = 0,75. Ý nghĩa các mức như sau:

Điểm trung bình (X)

Đánh giá tính cấp thiết Đánh giá tính khả thi (X = trung bình cộng của 4 mức độ)

1 ≤ X < 1,75 Không cấp thiết Không khả thi

34

1,75 ≤ X < 2,5 Ít cấp thiết Ít khả thi

2,5 ≤ X < 3,25 Cấp thiết Khả thi

3,25 ≤ X ≤ 4,0 Rất cấp thiết Rất khả thi

3. Đối tượng khảo sát

Khảo sát ý kiến đối với cán bộ quản lí trường THPT Tương Dương 1, Tổ trưởng, nhóm trưởng các bộ môn, GV dạy môn Ngữ văn các trường THPT Tương Dương 1, 2 và THPT Kì Sơn, cụ thể như sau:

Biểu đồ 5. Các trường tham gia khảo sát

Biểu đồ 6. Đối tượng khảo sát

Bảng tổng hợp đối tượng khảo sát

Đối tượng TT Số lượng

1 Ban giám hiệu trường THPT Tương Dương 1 4

2 Tổ trưởng, nhóm trưởng 10

35

3 22

Giáo viên giảng dạy Ngữ văn của 3 trường (THPT Tương Dương 1, THPT Tương Dương 2, THPT Kỳ Sơn)

Tổng 36

4. Kết quả khảo sát về sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất

4.1. Đánh giá tính cấp thiết của các giải pháp đã đề xuất

Biểu đồ 7. Kết quả khảo sát tính khả thi của các giải pháp

Bảng đánh giá sự cấp thiết của các giải pháp đề xuất

Mức độ đánh giá Các thông số

X Cấp thiết TT Giải pháp Không cấp thiết Ít cấp thiết Rất cấp thiết Mức

SL Điểm SL Điểm SL Điểm SL Điểm

0 0 2 4 23 66 11 44 3,25 1 Rất cấp thiết

Hướng dẫn cho học sinh tự chủ lựa chọn đề tài nghiên cứu phù hợp với mục tiêu cần đạt về năng lực, phẩm chất và trình độ tiếp nhận của từng nhóm lớp.

0 0 2 4 23 66 11 44 2,25 Rất cấp thiết 2

Tích cực sử dụng các phương pháp dạy học theo định hướng phát huy năng lực tự tin và tự chủ cho học sinh miền núi trong dạy

36

học chuyên đề.

0 0 2 4 29 87 5 20 3,08 Cấp thiết

3

thức Đa dạng hình theo dõi, đánh giá quá trình học tập của học sinh; Tổ chức cho học sinh tự đánh giá kết quả học tập chuyên đề.

4 0 0 5 10 21 63 10 40 3,09 Cấp thiết Duy trì tốt hoạt động của HĐTQ.

5 0 0 5 10 24 69 7 28 3,02 Cấp thiết

khen viên, Động thưởng kịp thời, tạo động lực cho học sinh phát triển năng lực bản thân.

Điểm TBC 3,13 Cấp thiết

Kết quả khảo sát cho thấy, được các cán bộ quản lý, giáo viên trường THPT Tương Dương 1, 2, và THPT Kì Sơn đánh giá ở mức độ cấp thiết của các biện pháp đưa ra, thể hiện qua điểm đánh giá ĐTB từ 3,02 đến 3,25 ứng với mức độ đánh giá từ “Cấp thiết/ Rất cấp thiết”. Trong các biện pháp đề xuất, thì hai biện pháp được đánh giá ở mức cao nhất về tính cấp thiết đó là “Hướng dẫn cho học sinh tự chủ lựa chọn đề tài nghiên cứu phù hợp với mục tiêu cần đạt về năng lực, phẩm chất và trình độ tiếp nhận của từng nhóm lớp” và “Tích cực sử dụng các phương pháp dạy học theo định hướng phát huy năng lực tự tin và tự chủ cho học sinh miền núi trong dạy học chuyên đề” đều đạt điểm trung bình: 3,25. Điều này đã khẳng định việc sử dụng các phương pháp được sử dụng trên có thể áp dụng hiệu quả trong việc phát triển các năng lực tự tin và tự chủ cho học sinh.

Với kết quả đánh giá chung của cả 5 giải pháp đề xuất là cấp thiết (Điểm TBC: 3,13) có thể khẳng định việc áp dụng đồng bộ, linh hoạt các giải nhằm pháp phát huy sự tự tin và tự chủ trong học tập nghiên cứu khoa học của học sinh miền núi qua chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”, Ngữ văn 10 tại trường THPT Tương Dương 1 sẽ mang lại hiệu quả dạy học cao, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn theo mục tiêu phát triển năng lực, phẩm chất học sinh.

4.2 Đánh giá tính khả thi của các biện pháp đề xuất

Khảo sát tính khả thi của các giải pháp sẽ quyết định đến hiệu quả áp dụng giải pháp vào thực tế. Qua khảo sát tính khả thi của các giải pháp đề xuất, chúng tôi thu

37

được kết quả như sau:

Biểu đồ 8. thể hiện tính khả thi của các giải pháp

Bảng đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất

Mức độ đánh giá Các thông số

X TT Giải pháp Khả thi Không khả thi Ít khả thi Rất khả thi Mức

SL Điểm SL Điểm SL Điểm SL Điểm

1 0 0 1 2 23 66 12 48 3,3 Rất khả thi

Hướng dẫn cho học sinh tự chủ lựa chọn đề tài nghiên cứu phù hợp với mục tiêu cần đạt về năng lực, phẩm chất và trình độ tiếp nhận của từng nhóm lớp.

0 0 0 0 26 78 10 40 3,27 Rất khả thi 2

Tích cực sử dụng các phương pháp dạy học theo định hướng phát huy năng lực tự tin và tự chủ cho học sinh miền núi trong dạy học chuyên đề.

0 0 0 22 66 14 56 3,3 Rất khả thi

3 Đa dạng hình thức theo dõi, đánh giá quá trình học tập của học sinh; Tổ chức cho học sinh tự đánh giá kết

38

quả học tập chuyên đề.

4 0 0 7 14 21 63 8 32 3,09 Khả thi Duy trì tốt hoạt động của HĐTQ.

5 0 0 7 14 22 66 7 28 2,97 Khả thi

khen viên, Động thưởng kịp thời, tạo động lực cho HS phát lực bản triển năng thân.

Điểm TBC 3,19 Khả thi

Bảng đánh giá tính khả thi của các giải pháp cho thấy, các giải pháp chúng tôi đề xuất ra được cán bộ quản lý, giáo viên bộ môn ngữ văn ở trường THPT Tương Dương 1, 2 và THPT Kì Sơn đánh giá cao về mức độ khả thi. Trong đó các giải pháp có mức điểm gần như tương đương nhau (điểm TBC từ 3,0 - 3,38) chỉ có giải pháp 5 “Động viên, khen thưởng kịp thời, tạo động lực cho học sinh phát triển năng lực bản thân” có số điểm thấp hơn (điểm TBC 2,97). Điều này cho thấy, cán bộ quản lý, giáo viên đánh giá cao tính khả thi của phát huy sự tự tin và tự chủ trong học tập nghiên cứu khoa học của học sinh miền núi qua chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”, Ngữ văn 10 tại trường THPT Tương Dương 1, từ đó góp phần hình thành con người năng động sáng tạo, nâng cao chất lượng dạy - học miền núi.

* Nhận xét mối tương quan giữa mức độ cấp thiết và tính khả thi của các giải

pháp đề xuất.

Biểu đồ 9. Mối tương quan giữa mức độ cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp.

Nhìn vào biểu đồ mối tương quan giữa mức độ cấp thiết và tính khả thi các giải pháp, các ý kiến đều tán thành về mức độ cấp thiết, tính khả thi của các biện

39

pháp trên. Điều đó thể hiện giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất là tương quan thuận và khá chặt chẽ.

Qua đó có thể khẳng định các biện pháp của đề tài là có cơ sở khoa học và thực tiễn, có thể đưa vào áp dụng trong quá trình dạy học chuyên đề môn ngữ văn ở trường THPT Tương Dương 1 nói riêng và các trường THPT miền nói chung trong bối cảnh đổi mới giáo dục.

40

C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

I. Kết luận

Đất nước đã và đang hội nhập sâu, rộng trên tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên, hội nhập nhưng vẫn phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Song song với mục tiêu phát triển kinh tế là xây dựng nền văn hóa tiên tiến nhưng đậm đà bản sắc dân tộc. Việc dạy tốt và học tốt chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian” cho học sinh lớp 10 là một trong những việc làm thiết thực, mang nhiều ý nghĩa. Với vị trí và thế mạnh riêng trong chương trình học, chuyên đề môn Văn trước hết giúp người đọc tiếp xúc với vẻ đẹp kỳ diệu và phong phú của tiếng mẹ đẻ, tiếp xúc với vốn văn hóa dân tộc để bồi dưỡng tâm hồn, góp phần hình thành và phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất học sinh. Mỗi giờ Văn luôn hàm chứa những thách thức, nghề nghiệp và đòi hỏi nhiều năng lực sáng tạo đặc thù của giáo viên và học sinh. Câu chuyện đổi mới phương pháp dạy học Văn, chuyển từ quá trình chủ yếu chú trọng trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học trong nhà trường THPT vẫn tiếp tục được đặt ra, đòi hỏi mỗi nhà giáo dục, mỗi giáo viên Văn phải tiếp tục tìm tòi, sáng tạo, tiếp tục trải nghiệm, nghiên cứu, học tập để cùng tìm ra những hướng đi phù hợp, tìm ra những giải pháp sư phạm tối ưu.

Để phát huy năng lực tự tin, tự chủ cho học sinh miền núi không phải là việc ngày một ngày hai mà cần thời gian và sự quyết tâm cao. Có thể khẳng định rằng việc tổ chức tốt hoạt động dạy - học chuyên đề trong “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian” sẽ thực hiện được mục tiêu phát huy năng lực tự tin, tự chủ trong học tập nghiên cứu khoa học cho học sinh trường THPT Tương Dương 1. Thông qua các giải pháp được thực hiện trong quá trình học tập, học sinh có cơ hội mở rộng vốn kiến thức cũng như năng lực của bản thân, là dịp để học sinh áp dụng những kiến thức lý thuyết đã học vào việc giải quyết những vấn đề thực tiễn. Khi tiến hành thực hiện nghiên cứu và viết báo cáo về văn học dân gian, cùng với sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ có điều kiện để tiếp cận với các đề tài khoa học, bắt đầu định hình được cách thức, quy trình để thực hiện một công trình nghiên cứu khoa học, khơi dậy ở học sinh niềm đam mê với khoa học, dám mơ ước và dám thực hiện ước mơ. Không chỉ vậy, hoạt động nghiên cứu học còn góp phần phát huy tính tự tin, năng động, sáng tạo; khả năng tư duy độc lập, tự học hỏi của học sinh. Đối với mỗi học sinh, những kỹ năng này không chỉ quan trọng trong quãng thời gian học tập mà còn theo sát các em trong suốt thời gian làm việc sau này.

Hoạt động nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian theo hướng phát huy năng lực tự tin, tự chủ cho học sinh sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá. Để cho kiến thức của các tác phẩm văn học không trở nên hàn lâm và xa vời đối với học sinh, bắt các em phải nắm được một cách gượng ép thì việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực, tăng cường sự tự

41

chủ trong học tập của học sinh. Quan tâm đến việc học sinh sẽ biết được cái gì và vận dụng nó ra sao sau mỗi bài học hơn là các em sẽ đạt được bao nhiêu điểm. Không dạy “cái gì” mà chú ý dạy bằng “cách gì” để học sinh có kiến thức là rất quan trọng. Đây là cú hích để đổi mới phương pháp dạy học, thay dần dạy “chay”, học “chay”.

Tuy nhiên, nỗ lực của bản thân giáo viên là chưa đủ. Khi xã hội ngày càng phát triển, với biết bao vấn đề được đặt ra, để phát huy được ý nghĩa của bài học chuyên đề đối với cuộc sống thì việc đổi mới nội dung, phương pháp đang rất bức thiết. Đồng thời, hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường trung học phổ thông là hoạt động trải nghiệm sáng tạo đòi hỏi sự hợp tác, tiến hành đồng bộ từ nhiều phía: vận dụng kiến thức liên môn, trường học, gia đình, cộng đồng địa phương,... song tất cả đều tác động đến người học làm sao để họ chủ động, tự giác, có trách nhiệm trong việc học tập của mình nhằm đạt được mục tiêu là nâng cao chất lượng học. Nếu cả giáo viên và những người có liên quan đều chú trọng đến mục đích phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh thì chúng tôi tin chắc rằng nền giáo dục nước ta sẽ sớm đạt được mục tiêu giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Chúng ta đã có nhiều kinh nghiệm về đổi mới dạy - học môn Ngữ văn ở các trường. Nhưng kinh nghiệm dạy học chuyên đề thì chưa có nhiều. Những kinh nghiệm này cần được tập hợp, phổ biến và nhân rộng. Tiếp tục sử dụng hợp lí các phương pháp dạy học Ngữ văn đảm bảo đặc trưng bộ môn và phát huy được năng lực cho học sinh. Trong đó đặc biệt coi trọng việc thiết kế các hoạt động nâng cao năng lực tự tin và tự chủ cho học sinh. Phấn đấu theo hướng giảm phần thuyết trình của giáo viên để học sinh được hoạt động nhiều hơn. Làm phong phú những kinh nghiệm rèn luyện kĩ năng học tập bộ môn cho học sinh.

II. Kiến nghị

- Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học.

- Nhà trường tạo điều kiện cho tổ văn tổ chức các hoạt động ngoại khóa như tham quan, câu lạc bộ văn học, diễn đàn văn học,...Tạo nhiều sân chơi cho học sinh được trải nghiệm.

- Nên duy trì thường xuyên tổ chức hội thảo, chuyên đề về công tác dạy học. Mở rộng giao lưu để giáo viên có thể học hỏi, trao đổi kinh nghiệm với các giáo viên trường khác cùng chuyên môn.

- Tăng cường đổi mới các hình thức kiểm tra đánh giá học sinh theo hướng

đánh giá kết quả học tập với quá trình học tập.

- Đầu tư kinh phí để nhà trường nâng cấp phòng thư viện, phòng học phù hợp

với việc dạy học phương pháp mới.

42

- Gia đình phải chú trọng quan tâm đến việc học của con cái ở nhà nhiều

hơn. Sẵn sàng tham gia và hỗ trợ vào quá trình học tập của con em mình.

- Tăng cường gắn kết mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình và cộng

đồng địa phương.

Quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong sự đóng góp ý kiến và giúp đỡ của đồng nghiệp, cấp trên để giải pháp ngày càng hoàn thiện hơn.

43

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Chuyên đề học tập Ngữ văn 10 Kết nối tri thức với cuộc sống, Bùi Mạnh Hùng (Tổng chủ biên), Phan Huy Dũng (Chủ biên), Nxb Giáo dục Việt Nam.

2. Phương pháp dạy học Văn (Phan Trọng Luận) – NXB – ĐHQG 1998.

3. Những vấn đề chung của giáo dục học, Thái Duy Tuyên (2003), NXB Đại học Sư phạm Hà Nội.

4. Giao tiếp sư phạm (Hoàng Anh - Vũ Kim Thanh), NXB Giáo dục, Hà Nội,1966

5. Tâm lí học (Phạm Minh Hạc), NXB Giáo dục, 1996

6. Tài liệu tập huấn Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh, môn Ngữ Văn (2014), Hà Nội.

7. Tài liệu tập huấn trải nghiệm sáng tạo ở trường THPT ( Bộ GD & ĐT, xuất bản năm 2015).

8. Nội dung công văn 5512/BGD-ĐT.

9. http://.www.Vanhoctuoitre.com.vn

10. www.thuvienvanhoc.com

44

PHỤ LỤC

Phụ lục 1:

Lý do chọn đề tài

Vấn đề bạn lựa chọn có điểm gì hấp dẫn?

Vấn đề bạn lựa chọn có ý nghĩa gì đối với việc học tập của bạn? Bạn có điều kiện thực tế để tìm hiểu đề vấn không? Vấn đề bạn lựa chọn có phát huy sở trường học tập của bạn không?

......................... ......................... ......................... .........................

......................... ........................ ........................ ........................

......................... ......................... ......................... .........................

......................... ........................ ........................ .........................

Phụ lục 2

Bảng nghiên cứu văn học dân gian

Mục tiêu

Đề tài nghiên cứu Nội dung nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Dự kiến nội dung đi sâu

....................... ....................... ....................... ....................... .......................

....................... ....................... ....................... ....................... .......................

....................... ....................... ....................... ....................... .......................

Phụ lục 3

Phụ lục 3. 1. Bảng phân công nhiệm vụ của nhóm:...........

Thời gian Các hoạt động

Các hoạt động Dự kiến kết quả, sản phẩm

............................... ............................... ...............................

............................... ............................... ............................... 1. Lựa chọn đề tài

45

............................... ............................... ...............................

............................... ............................... ...............................

............................... ............................... ............................... 2. Thu thập thông tin

............................... ............................... ...............................

............................... ............................... ...............................

............................... ............................... ...............................

3. Phân tích, xử lí, tổng hợp thông tin. ............................... ............................... ...............................

............................... ............................... ...............................

............................... ............................... ...............................

............................... ............................... ...............................

4. Xây dựng đề cương, viết và chỉnh sửa

............................... ............................... ...............................

............................... ............................... ...............................

............................... ............................... ...............................

5. Thuyết trình kết quả nghiên cứu

............................... ............................... ...............................

............................... ............................... ............................... 6. Đánh giá bài viết

............................... ............................... ...............................

Phụ lục 3.2

Rubrics 1. Đánh giá hoạt động nhóm

Cấp độ Tốt Khá Trung bình Cần điều

chỉnh

4 điểm 3 điểm 2 điểm 1 điểm

Tiêu chí

1. Sự tham gia

Tham gia đầy đủ và chăm chỉ làm việc trong tất cả thời gian.

Tham gia đầy đủ, chăm chỉ làm việc trên lớp hầu thời hết gian. Tham gia nhưng thường lãng phí thời gian và ít khi làm việc. gia thực những việc liên

Tham nhưng hiện công không quan.

46

2. Trao đổi, tranh luận trong nhóm

Không lắng ý kiến của những người khác, không đưa ra ý kiến riêng.

Chú ý trao đổi, lắng nghe cẩn thận các ý kiến những của người khác, đưa ra các ý kiến cá nhân.

lắng Thường nghe cẩn thận các ý kiến của người những khác. Đôi khi đưa ra ý kiến riêng của bản thân.

Đôi khi không lắng nghe các ý kiến của những người khác. Thường không có ý riêng kiến hoạt trong động của nhóm.

ý

trọng ý 3. Sự hợp tác Tôn những kiến thành viên khác và hợp tác đưa ra ý kiến chung. tôn Thường kiến trọng những thành viên khác và hợp tác đưa ra ý kiến chung. Không tôn trọng ý kiến những thành viên khác và hợp tác đưa ra chung.

Thường tôn trọng ý kiến thành những khác viên chưa nhưng hợp tác đưa ra ý kiến chung.

4. Sự sắp xếp thời gian

hoàn Thường thành công việc được giao đúng thời gian, không làm đình trệ tiến triển công việc của nhóm. Không hoàn thành nhiệm vụ được giao đúng thời gian và làm đình trệ công việc của nhóm.

Không hoàn thành nhiệm vụ được giao đúng thời và thường buộc nhóm phải chỉnh điều hoặc thay thế.

thàn Hoàn công việc được giao đúng thời thành gian. công việc được giao đúng thời không gian, làm đình trệ tiến triển công việc của nhóm.

Phụ lục 4

Rubric 2. đánh giá bài viết của học sinh

STT Tiêu chí Mức 3 Mức 2 Mức 1

1

vấn

Xác định và trình bày vấn đề

Xác định đúng vấn đề trọng tâm nhưng triển khai trình bày vấn đề chưa rõ ràng. Chưa xác định được đề trọng tâm, chưa triển khai biết trình bày vấn đề.

Xác định và trình bày vấn đề trọng tâm và triển khai trình bày vấn đề một cách rõ ràng, thể thể hiện hiện được các giá trị nổi bật của đối tượng

47

nghiên cứu.

2

Quan điểm và thái độ của người viết

rõ quan Thể hiện điểm và thái độ của người viết về những nội dung nổi bật của đối tượng nghiên cứu

Có thể hiện quan điểm và thái độ của người viết, thể nhưng cách hiện chưa được thuyết phục

thể hiện Chưa được quan điểm và thái độ của người viết hoặc quan điểm, thái độ đó chưa được diễn giải rõ ràng.

lí lí 3

dụng lẽ, lí

Sử các bằng chứng

Sử dụng lẽ, bằng chứng và một số phương pháp luận lập chưa thuyết phục.

Sử dụng các lí lẽ, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp;| sử dụng những phương pháp lập luận hiệu quả để triển khai hệ thống luận điểm một cách thuyết phục. Sử dụng lẽ, bằng chứng và một số phương pháp lập luận để củng cố cho| các luận điểm nhưng chưa thật hiệu quả

4 chức

Tổ bài viết

Bài viết được tổ chức hoàn chỉnh, các phần trong bài viết được cấu trúc chặt chẽ. Bài viết có đủ bốn phần: đặt vấn đề, giải quyết vấn đề,

chưa Bài viết được chức tổ hoàn chỉnh, các phần trình bày không rõ ràng.

kết luận, tài liệu tham khảo nhưng chưa thể hiện rõ yêu cầu của từng phần.

5 dụng

Sử các

Sử các dụng phương thức liên kết câu và

phương thức Có sử dụng một số phương thức liên câu kết nhưng chưa mạch lạc.

liên kết

đoạn văn một cách phù hợp, giúp người đọc dễ hiểu. Sử dụng chính xác và hiệu quả các phương thức liên kết câu và đoạn văn, giúp tăng cường khả năng đọc và củng cố liên hệ giữa các câu và đoạn văn.

6 Cách dùng Không mắc lỗi Mắc một vài lỗi Mắc khá nhiều

48

từ,

câu,

đặt diễn đạt dùng từ, đặt câu (3 - 5 lỗi), diễn đạt khá rõ ràng, mạch lạc. dùng từ, đặt câu hoặc chỉ mắc 1 - 2 lỗi không đáng kể; diễn đạt rõ ràng, mạch lạc. lỗi dùng từ, đặt câu (6 lỗi trở lên) hoặc diễn đạt nhiều ý chưa rõ ràng, mạch lạc.

7

Trình bày bài viết Chữ viết rõ ràng, dễ đọc; không mắc lỗi

chính tả, trình bày bài viết đúng quy cách và chỉn chu. Chữ viết khó đọc, thả; mắc cẩu nhiều lỗi chính tả, trình bày bài viết không đúng quy cách.

Chữ viết có thể đọc được: mắc 2 - 3 tả; lỗi chính trình bày bài viết đúng quy cách nhưng chưa sạch đẹp.

Phụ lục 5

Rubric 3 đánh giá bài thuyết trình: Nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian

Người thuyết trình:…………………………………...

Người nhận xét:……………………………………….

TIÊU CHÍ Chưa đạt Đạt Tốt

(0 điểm) (1 điểm) (2 điểm)

1. Nội dung bài thuyết trình đầy đủ, sâu sắc, thuyết phục Nêu được đầy đủ các ý để người nghe hiểu được vấn đề.

Các ý đầy đủ, sâu sắc, thuyết phục, có quan điểm, suy nghĩ mới mẻ.

Nội dung sơ sài, chưa nêu được đầy đủ các ý làm sáng tỏ vấn đề cho người nghe hiểu.

2. Phong thái tự tin Không tự tin, rụt

rè.

Tương tác, giao lưu tốt với người nghe.

Đã mạnh dạn trình bày bài nói nhưng cử lời nói chưa chỉ, được tự nhiên, thiếu tương tác với người nghe.

3. Nói to, rõ ràng, truyền cảm

Nói to, nhưng đôi chỗ lặp lại hoặc ngập ngừng một vài câu.

Nói nhỏ, khó nghe, nói lặp lại ngập ngừng nhiều lần. Nói to, truyền cảm hầu như không lặp lại ngập hay ngừng

49

Điệu bộ tự tin, mắt chưa nhìn vào người nghe, biểu cảm phù hợp. Điệu bộ tự tin, mắt vào nhìn người nghe, nét mặt sinh động.

Điệu bộ thiếu tự tin, mắt chưa nhìn vào người nghe, nét mặt chưa biểu cảm hoặc biểu cảm không phù hợp.

4. Sử dụng các phương tiện hỗ trợ: yếu tố phi ngôn ngữ (điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, ánh mắt,..) kết hợp hình ảnh, sơ đồ hoạ,…phù minh hợp

5. Mở đầu và kết thúc hợp lí. Chào hỏi và có lời kết thúc bài nói.

Chào hỏi và có lời kết thúc bài nói ấn tượng.

Không chào hỏi và/ hoặc không có lời kết thúc bài nói. Thời gian đúng qui định. (7/8 phút) - Thời gian quá 2 phút

- Thời gian quá 1 phút

- Thời gian quá 3 phút

Tổng: ................/10 điểm

Phụ lục 6

Bảng kiểm đánh giá đoạn văn

STT Tiêu chí Đạt Chưa đạt

Đảm bảo hình thức đoạn văn. 1

2

Đoạn văn đúng chủ đề, có những phát hiện mới mẻ, sáng tạo thể hiện được kết quả của quá trình nghiên cứu, tìm tòi.

3

Đoạn văn đảm bảo tính liên kết giữa các câu trong đoạn văn, có sự kết hợp các thao tác lập luận phù hợp.

4

Đoạn văn đảm bảo yêu cầu về chính tả, cách sử dụng từ ngữ, ngữ pháp.

5

Đoạn văn thể hiện sự sáng tạo: suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

50

Phụ lục 7

PHIẾU KHẢO SÁT SAU BÀI HỌC

Họ và tên: .......................................................................................................

Lớp: ................................................................................................................

Sau quá trình học tập, hãy cho biết ý kiến của em về bài học theo các gợi ý

sau:

Câu 1. Em thấy không khí giờ học nghiên cứu và viết báo cáo chuyên đề

diễn ra như thế nào?

A. Giờ học bình thường như các giờ học khác

B. Giờ học sôi nổi, thoải mái, không nhiều áp lực và có một sự trải nghiệm thú vị

C. Giờ học tẻ nhạt, trầm lắng, không hấp dẫn

D. Giờ học khác lạ nên các bạn ít tham gia

Câu 2. Hoạt động chủ yếu của em trong các giờ học nghiên cứu văn học

là gì?

A. Tham gia các hoạt động, tích cực thảo luận và đóng góp ý kiến

B. Trả lời câu hỏi do giáo viên đưa ra và lắng nghe, ghi chép lời giảng của

giáo viên ít khi có ý kiến

C. Chỉ ngồi nghe, ghi chép, không tham gia

D. Chỉ tham gia khi các bạn trong nhóm yêu cầu

Câu 3. Sau khi học xong bài học nghiên cứu văn học, em có được những

hiểu biết về kiến thức bài học thông qua con đường nào?

A. Cá nhân em độc lập làm việc

B. Giáo viên cung cấp và truyền đạt

C. Chỉ từ sách giáo khoa

D. Bằng hình thức làm việc nhóm, cộng tác với các bạn và có sự tham vấn

của giáo viên, gia đình và cộng đồng

Câu 4. Theo em, việc học tập nghiên cứu chuyên đề sẽ thuận lợi hơn khi

có thêm sự hỗ trợ của yếu tố nào dưới đây?

A. Sự giúp đỡ của các thầy cô

B. Các thiết bị học tập hiện đại như: máy tính có nối mạng, máy chiếu,…

51

C. Sách vở và các dụng cụ trực quan

D. Sự tư vấn của các chuyên gia

Câu 5. Khó khăn lớn nhất mà em gặp phải khi học tập nghiên cứu văn

học là gì?

A. Khi lựa chọn ý tưởng đề tài và xây dựng kế hoạch triển khai nghiên cứu

B. Khi tìm kiếm và xử lý thông tin phục vụ cho cho công việc nghiên cứu

C. Viết báo cáo và trình bày bài nghiên cứu

D. Đánh giá sản phẩm nghiên cứu

Câu 6. Em có sẵn sàng với các giờ học có sử dụng phương pháp nghiên

cứu khoa học không?

A. Sẵn sàng tham gia

B. Em sẽ tham gia nếu giáo viên thiết kế được các nhiệm vụ học tập hấp dẫn

C. Em sẽ tích cực tham gia nếu có các hoạt động trải nghiệm, tìm hiểu thực

tiễn

D. Không muốn vì tốn nhiều thời gian và công sức

Phụ lục 8:

Một số minh chứng cho sư tự tin, tự chủ trong quá trình học tập chuyên đề

Lí do chọn đề tài nhóm 2

Lí do chọn đề tài nhóm 3

52

Học sinh thảo luận phân công nhiệm Giáo viên tư vấn cho hoạt động nhóm

vụ

Học sinh tham gia hoạt động nhóm sôi nổi

Giáo viên tư vấn cho hoạt động nhóm

Học sinh phân công hoạt động nhóm

Nhóm đánh giá cá nhân trong hoạt động

Học sinh thích thú, tự tin khi tham gia trò chơi

53

Học sinh tự chủ và tự tin trong quá trình trải nghiệm trong và ngoài giờ học

Ban giám khảo đánh giá các nhóm

Các nhóm đánh chéo

HS hứng khởi khi được khen thưởng

54

Phụ lục 9:

Tóm tắt Kế hoạch dạy học chuyên đề “Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian”, Ngữ văn 10

A. Mục tiêu

1. Năng lực

a. Năng lực chung

- Tự chủ và tự học; Giao tiếp và hợp tác; Giải quyết vấn đề và sáng tạo.

b. Năng lực môn học

- Biết các yêu cầu và cách thức nghiên cứu một vấn đề văn học dân gian.

- Biết viết một báo cáo nghiên cứu về một vấn đề văn học dân gian.

- Vận dụng được một số hiểu biết từ chuyên đề để đọc hiểu và viết về VHDG.

- Biết thuyết trình về một vấn đề văn học dân gian.

3. Phẩm chất

- Biết yêu quý cái đẹp trong nghệ thuật, trân trọng những sáng tạo của bản

thân và của người khác trong quá trình thực hành.

- Chăm chỉ, trách nhiệm trong mọi hoạt động.

- Thật thà, trung thực trong việc lắng nghe, ghi chép tóm tắt nội dung trình bày của người khác và góp ý với sản phẩm của bạn, tích cực tham gia hoạt động,...

B. Thiết bị và học liệu

1. Học sinh:

- Chuyên đề học tập ngữ văn lớp 10 Kết nối tri thức với cuộc sống, hồ sơ, tài liệu, sách tham khảo, tranh, ảnh, bảng biểu, video clip, điện thoại thông minh, bút dạ.

- Chuẩn bị khác: HS chuẩn bị trước theo nhóm.

2. Giáo viên:

- Phiếu học tập; Rubric đánh giá hoạt động nhóm, bài viết và bài nói học sinh.

- Bút màu, giấy để trình bày sản phẩm.

- Tài liệu tham khảo sách báo tạp chí về văn học dân gian, máy tính hoặc điện

thoại thông minh, máy chiếu hoặc Tivi.

- Một số sản phẩm của học sinh hoặc hồ sơ tài liệu sau khi hoàn thành phần 1

55

của chuyên đề 1.

C. Tiến trình dạy học

Hướng dẫn học sinh trước giờ học

- Đọc trước chuyên đề 1 và trả lời các câu hỏi.

- Tìm đọc bổ sung các văn bản văn học dân gian; các lễ hội dân gian.

- Đọc tài liệu hoặc xem video về các bài nghiên cứu văn học nói chung,

nghiên cứu văn học dân gian nói riêng.

- Kiện toàn Hội đồng tự quản lớp.

1. HOẠT ĐỘNG: KHỞI ĐỘNG

a. Mục tiêu: Có tâm thế hứng thú, sẵn sàng tiếp cận bài học, kích hoạt tri thức nền về văn học dân gian; Học sinh có năng lực giao tiếp tiếng Việt; Nhanh trí xử lí tình huống.

b. Tổ chức thực hiện:

Bước 1. Chuyển giao nhiệm vụ

- Giáo viên tổ chức trò chơi “Đuổi hình bắt tri thức”.

- Giáo viên đưa ra một số hình ảnh, học sinh quan sát và cho biết những chi

tiết, nhân vật này xuất hiện trong những tác phẩm văn học dân gian nào?

Hình 1: Truyện Cây khế

Hình 2: Truyện Tấm Cám

Hình 3: Truyện Sọ dừa

Hình 3. Truyện Sọ Dừa

Hình 4: Ca dao tát nước đầu đình

56

Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ

- Học sinh làm việc cá nhân: quan sát hình ảnh và nêu tên tác phẩm.

Bước 3. Báo cáo kết quả

- Học sinh báo cáo kết quả nhiệm vụ.

Bước 4. Đánh giá kết quả, đưa ra kết luận

- Học sinh khác nhận xét.

- Giáo viên nhận xét, kết luận và khen thưởng

- Giáo viên giới thiệu bài mới:

2. HOẠT ĐỘNG: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI

Hoạt động 2.1. Tìm hiểu TRI THỨC TỔNG QUÁT

a. Mục tiêu: Nắm được những kiến thức cơ bản về văn học dân gian và kiểu

bài viết báo cáo.

b. Tổ chức thực hiện:

HĐ của giáo viên và học sinh Dự kiến sản phẩm

Bước 1. Chuyển giao nhiệm vụ A. TRI THỨC TỔNG QUÁT

I. Văn học dân gian

Giáo viên chia lớp thành các nhóm nhỏ. 1. Khái niệm

- Nhiệm vụ 1: Từ khóa ơi mở ra

- Văn học dân gian là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ của nhân dân lao động từ thuở xa xưa và vẫn tiếp tục đến ngày hôm nay.

2. Đặc điểm GV hướng dẫn HS đọc thông tin phần Tri thức tổng quát trong sách chuyên đề học tập (tr4, 5) và gạch chân dưới những từ khoá.

- Phương thức lưu truyền: truyền miệng.

- Nhiệm vụ 2. GV tổ chức trò chơi Siêu trí tuệ để củng cố kiến thức về VHDG.

- Chức năng: lưu giữ và truyền lại những tri thức cuộc sống, bài học nhân sinh, thể hiện quan điểm thẩm mĩ mang tính cộng đồng.

- Phân loại:

+ Tự sự dân gian

+ Trữ tình dân gian + GV mời một vài thành viên đọc thông tin và diễn tả lại những từ khoá về văn học dân gian bằng hành động/ ngôn ngữ (nhưng không được nói ra từ khoá) các thành viên còn lại đoán thông tin.

57

+ Sân khấu dân gian

+ Thông tin: Ngôn từ, nhân dân lao động, truyền miệng, múa rối, diễn xướng, dị bản, bài học.

- Tính chất: Tính nguyên hợp; Tính tập thể; Tính truyền miệng; Tính diễn xướng; Tính dị bản.

II. Đề tài, vấn đề nghiên cứu

+ Thời gian: 3 phút, đội nào thể hiện được đầy đủ thông tin nhất về vấn đề đội mình tìm hiểu sẽ giành chiến thắng.

- Vấn đề: là một điều gì đó cần được xem xét, nghiên cứu, giải quyết.

Nhiệm vụ 3. Tổng hợp kiến thức

- Nhóm 1, 2: Tổng hợp kiến thức phần Văn học dân gian bằng một bài giới thiệu. - Vấn đề VHDG có thể là những sự kiện chưa rõ, những chi tiết có nhiều cách hiểu, những công thức mang nhiều ý nghĩa, những nhân vật mang nhiều tranh luận,.. trong các tác phẩm hoặc các thể loại VHDG cần được làm rõ.

III. Báo cáo nghiên cứu

- Nhóm 3, 4: Tổng hợp kiến thức I. phần đề tài, vấn đề nghiên cứu; Báo cáo nghiên cứu; yêu cầu của II. một báo cáo nghiên cứu bằng một bài giới thiệu.

Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ - Báo cáo nghiên cứu là loại văn bản trình bày kết quả tìm hiểu, khám phá sâu về một vấn đề xã hội hoặc văn học và những kiến giải riêng của người viết về vấn đề nghiên cứu đó trên cơ sở các thông tin phong phú thu thập được.

IV. Yêu cầu của một báo cáo nghiên cứu - HS thực hiện nhiệm vụ theo III. nhóm.

IV. Bước 3. Báo cáo kết quả - Nêu được đề tài nghiên cứu và vấn đề được đặt ra trong báo cáo.

- HS báo cáo đáp án.

V. Bước 4. Đánh giá kết quả, đưa ra kết luận - Trình bày được kết quả nghiên cứu thông qua hệ thống các luận điểm sáng rõ và thông tin xác thực.

- HS khác nhận xét. VI.

- GV nhận xét, kết luận. - Khai thác được các nguồn tham khảo tin cậy; sử dụng phương tiện hỗ trợ phù hợp, biết kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có.

VII.

- Thể hiện được kiến giải riêng của người viết bằng ngôn ngữ khoa học, khách quan.

VIII.

- Tóm tắt được các ý chính đã triển khai để đưa vào phần kết của báo cáo; cần gợi ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.

IX.

- Có danh mục tài liệu tham khảo ở cuối báo cáo.

58

X. - Cấu trúc đầy đủ, rõ ràng.

Hoạt động 2.2. Phần 1: TẬP NGHIÊN CỨU

a. Mục tiêu: Giúp học sinh thực hành khâu đầu tiên của việc tập nghiên cứu là lựa chọn được đề tài, vấn đề nghiên cứu, xác định mục tiêu, nội dung nghiên cứu và lập kế hoạch cho việc nghiên cứu.

b. Tổ chức thực hiện hoạt động:

HĐ của giáo viên và học sinh Dự kiến sản phẩm

B. Phần 1. TẬP NGHIÊN CỨU

Thao tác 1. Xác định đề tài, vấn đề, mục tiêu, nội dung và kế hoạch nghiên cứu

Nhiệm vụ 1. Xác định đề tài, vấn đề I. Xác định đề tài, vấn đề, mục tiêu, nội dung và kế hoạch nghiên cứu

(Hoạt động cá nhân kết hợp nhóm)

1. Xác định đề tài, vấn đề nghiên cứu Bước 1. GV giao nhiệm vụ

- GV hướng dẫn học sinh trả lời một số câu hỏi theo bảng KWLH (Phụ lục 1)

- Đề tài, vấn đề nghiên cứu được chọn để triển khai cần gắn với một nội dung học tập trong chương trình, có thể tiếp tục mở rộng và khơi sâu.

- Một số vấn đề cơ bản:

- Giáo viên để học sinh tìm hiểu và lựa chọn vấn đề nghiên cứu sao cho phù hợp với điều kiện khách quan cũng như năng lực và sở thích. + Nghiên cứu về đặc trưng thể loại

Bước 2. HS thực hiện nhiệm vụ

+ Nghiên cứu một tác phẩm văn học dân gian

- HS thảo luận nhóm để lựa chọn đề tài nghiên cứu

+ Nghiên cứu một hình tượng, chi tiết trong các văn bản văn học dân gian - GV quan sát, khuyến khích

Bước 3. Báo cáo, thảo luận

- HS nộp bảng chọn lựa của mình

+ Nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học dân gian với đời sống văn hoá dân tộc và văn học nghệ thuật hiện nay - GV tư vấn theo lựa chọn của HS

Bước 4. Đánh giá, chuẩn kiến thức - Đề tài nghiên cứu các nhóm lựa chọn:

GV nhận xét, chuẩn kiến thức.

+ Nhóm 1. “Tình cảm gia đình trong ca dao xưa, từ đó đề xuất một số giải pháp giúp cuộc sống gia đình hạnh phúc hơn”.

+ Nhóm 2. “Dấu ấn của ca dao dân

59

ca trong làn điệu dân ca Thái ”.

+ Nhóm 3. “Hình tượng người mẹ kế từ truyện cổ tích Tấm Cám đến đời sống hiện đại”.

Nhiệm vụ 2. Xác định mục tiêu và nội dung nghiên cứu 2. Xác định mục tiêu, nội dung nghiên cứu

Bước 1. GV giao nhiệm vụ

- Mục tiêu nghiên cứu là trạng thái mong muốn có được sau khi tiến hành tìm cách nghiên cứu, giải quyết vấn đề.

GV hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi Bảng nghiên cứu văn học dân gian (Phụ lục 2) để nhận diện các nội dung trọng tâm nghiên cứu:

Bước 2. HS thực hiện nhiệm vụ - Mục tiêu cần cụ thể và sẽ định hướng những tri thức, kĩ năng mà người thực hiện cần huy động.

- Xác định mục tiêu, nội dung cần: - HS hoàn thành Bảng nghiên cứu văn học dân gian

- GV quan sát, khuyến khích

Bước 3. Báo cáo, thảo luận + Bạn muốn rèn luyện thêm điều gì về tư duy và các kĩ năng tìm hiểu, nghiên cứu một vấn đề?

- HS trình bày lí do, mục đích, nội dung cụ thể phần nghiên cứu của bản thân.

+ Việc tìm hiểu đề tài, vấn đề nghiên cứu giúp gì cho bạn trong việc mở rộng, nâng cao hiểu biết về văn học dân gian? - Các nhóm học sinh cùng đề tài trao đổi thảo luận để đại diện nhóm lên trình bày

Bước 4. Đánh giá, chuẩn kiến thức

- GV nhận xét, chuẩn kiến thức. + Bạn dự kiến những nội dung trọng tâm của đề tài, vấn đề cần tìm hiểu là gì?

Nhiệm vụ 3. Lập kế hoạch nghiên cứu 3. Lập kế hoạch nghiên cứu

Bước 1. GV giao nhiệm vụ

- Lập kế hoạch là dự kiến, hình dung và sắp xếp các bước cần tiến hành theo một trình tự thời gian hợp lí. - Sau khi hoàn thành 2 nhiệm vụ, các nhóm tiến hành lên kế hoạch nghiên cứu.

Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ

- HS hoàn thành bảng kế hoạch của cá nhân theo đề tài của nhóm.

- Kế hoạch thường được trình bày dưới dạng bảng thể hiện rõ nội dung của từng hoạt động (nội dung từng công việc, cách tiến hành, thời gian dự kiến, sản phẩm, người thực hiện) - Nhóm tập hợp thành kế hoạch chung.

- Gợi ý: Bước 3. Báo cáo kết quả, thảo luận

+ Việc triển khai gồm những hoạt - HS trình bày sản phẩm.

60

động nào?

- HS khác nhận xét kế hoạch của nhóm bạn, góp ý xây dựng. + Hoạt động được thực hiện ở đâu?

Bước 4. Kết luận, chuẩn kiến thức

+ Kết quả, sản phẩm của từng hoạt động và kết quả, sản phẩm cuối cùng?

+ Thời gian hoàn thành hoạt động?

- GV nhận xét, đánh giá, bổ sung khen ngợi những kế hoạch chi tiết, khoa học. Khích lệ HS chưa biết lập tiếp tục hoàn thiện. + Ai được phân công thực hiện và cần phối hợp với ai?

- Các nhóm ghi lại quá trình nghiên cứu, bảng phân công và thực hiện nhiệm vụ nạp cho Hội đồng tự quản lớp, GV đánh giá. (Phụ lục 3) Thao tác 2. Hướng dẫn thu thập thông tin

II. Thu thập thông tin Bước 1. GV giao nhiệm vụ

1. Sưu tầm tài liệu

- Vấn đề nghiên cứu liên quan đến những tác phẩm nào?

- Các nguồn sưu tầm tài liệu: Sách báo, Internet

- Vấn đề này đã từng được nghiên cứu chưa?

- Cần trích dẫn tài liệu đúng quy định và ghi rõ nguồn gốc.

- Dữ liệu, thông tin nào cần sử dụng để làm sáng tỏ các nội dung liên quan đến vấn đề? 2. Phỏng vấn, tham khảo ý kiến chuyên gia

- Phỏng vấn: - GV yêu cầu HS trao đổi, thảo luận trong nhóm và tập hợp thông tin đã tìm được. + Xác định mục đích phỏng vấn Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ + Đối tượng được phỏng vấn

- HS thu thập thông tin qua sách báo, internet, trải nghiệm, phỏng vấn,... + Cần chuẩn bị trước nội dung phỏng vấn Bước 3. Báo cáo, thảo luận + Hình thức: trực tiếp hoặc gián tiếp

- GV gọi bất kì HS trong nhóm để nghe ý kiến và kết quả thảo luận.

+ HS bổ trợ lẫn nhau.

Bước 4. Đánh giá, kết luận

- GV góp ý riêng cho từng nhóm để hoàn thiện nội dung của nhóm.

- Chuyên gia: nghệ nhân Lương Văn Pắn, thành viên bộ “Bảo tồn và phát huy các loại hình nhạc cụ dân tộc Huyện Tương Dương”, Gia đình văn hóa tiêu bểu chị Vi Thị Nguyệt; Gia đình thuộc diện nghèo chị Xeo Thị Lan; Cô Nguyễn Thị Giang, Hòa bắc, Thạch Giám.

61

3. Tìm hiểu, trải nghiệm thực tiễn

Thao tác 3. Xử lí, tổng hợp thông tin - Hoạt động trải nghiệm thực tiễn: Câu lạc bộ “Bảo tồn và phát huy các loại hình nhạc cụ dân tộc Huyện Tương Dương”, các lễ hội văn hoá, nghe hát ru hoặc nghe kể chuyện cổ tích,..

Bước 1. chuyển giao nhiệm vụ III. Xử lí, tổng hợp thông tin

- GV yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm 1. Ghi chú bên lề tài liệu

+ Có những phương pháp xử lí, tổng hợp thông tin nào? - Tóm lược, nhấn mạnh những nội dung cần thiết;

+ Làm cách nào để ghi lại thông tin ở mỗi phương pháp? - Kích thích trí não khi ghi nhớ thông tin và tránh tình trạng đạo văn.

2. Sử dụng sơ đồ tư duy + Tác dụng, ưu nhược điểm của mỗi phương pháp là gì?

Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ - Ghi nhớ tốt hơn vì chỉ sử dụng các từ khoá.

- HS làm việc nhóm 10 phút

- Sáng tạo hơn vì có thể viết, vẽ tuỳ theo ý bạn. Bước 3. Báo cáo, thảo luận

- Thấy được “bức tranh tổng thể” của nội dung cần ghi nhớ. - Mời một số nhóm lên trình bày kết quả làm việc, học sinh thảo luận

Bước 4. Giáo viên kết luận 3. Sử dụng phương pháp ghi chú của Co-neo (Cornell) - Gv nhận xét, kết luận

- Thấy được mối quan hệ giữa những nội dung cụ thể và nội dung khái quát về vấn đề. - Nhiệm vụ về nhà: Thực hiện thu thập và xử lí thông tin, sử dụng các phương pháp phù hợp với chủ đề nhóm chọn.

- Có thể dễ dàng điều chỉnh, bổ sung thông tin trong từng cột.

4. Lập hồ sơ tài liệu - Báo cáo việc thu thập và xử lí thông tin, lập hồ sơ tài liệu đối với đề tài, chủ đề được lựa chọn

- Hồ sơ tài liệu bao gồm: - Đánh giá HS theo Phụ lục 3.2

+ Các tác phẩm có liên quan

+ Danh mục tài liệu tham khảo

+ Các tranh ảnh, số liệu, bảng biểu

62

+ Các nội dung ghi chép

+ Các minh chứng khác

Hoạt động 2.3. Phần 2: VIẾT BÁO CÁO NGHIÊN CỨU VỀ MỘT VẤN

ĐỀ VĂN HỌC DÂN GIAN

a. Mục tiêu: Hướng dẫn HS cách trình bày một bài nghiên cứu với hai hình thức viết và nói, chú trọng quy trình tiến hành một bài viết và cách thuyết trình kết quả nghiên cứu.

b. Tổ chức thực hiện hoạt động:

HĐ của giáo viên và học sinh Dự kiến sản phẩm

C. Phần 2: VIẾT BÁO CÁO NGHIÊN CỨU VỀ MỘT VẤN ĐỀ VĂN HỌC DÂN GIAN

I. Cách triển khai báo cáo nghiên cứu theo từng loại đề tài Thao tác 1. Hướng dẫn cách triển khai báo cáo nghiên cứu theo từng loại đề tài

1. Hướng dẫn chung cho từng loại đề tài Nhiệm vụ 1. Hướng dẫn chung cho từng loại đề tài.

a. Các loại đề tài Bước 1. Chuyển giao nhiệm vụ

* Nghiên cứu một tác phẩm dân gian

- HS đọc SGK và cho biết có mấy loại đề tài và các bước triển khai bài viết? - Nghiên cứu một truyện cổ dân gian

- Các nhóm nhỏ thảo luận theo bàn

- Nghiên cứu một bài hoặc một chùm ca dao Bước 2. HS thực hiện nhiệm vụ

* Nghiên cứu một loại hình tượng hoặc một loại chi tiết trong tác phẩm VHDG - HS làm việc cá nhân, kết hợp với thảo luận nhóm bàn trả lời câu hỏi.

- Nghiên cứu một loại hình tượng nhân vật trong truyện cổ dân gian Bước 3. Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận

- Nghiên cứu một loại hình tượng trong thơ ca dân gian - GV mời đại diện 1 nhóm lên bảng trình bày hoặc vẽ sơ đồ tư duy.

- Nghiên cứu một loại chi tiết trong truyện cổ dân gian - Các nhóm khác nhận xét, góp ý, bổ sung.

* Nghiên cứu một lễ hội dân gian

Bước 4. Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập

b. Các bước triển khai báo cáo nghiên cứu GV nhận xét, chốt kiến thức.

63

- Bước 1: Chuẩn bị

- Bước 2: Tìm ý, lập đề cương

- Bước 3: Viết

- Bước 4: Chỉnh sửa, hoàn thiện

Nhiệm vụ 2. Hướng dẫn cụ thể cho từng đề tài học sinh lựa chọn 2. Hướng dẫn lập đề cương cho từng đề tài học sinh lựa chọn

Bước 1. Chuyển giao nhiệm vụ

Đề tài 1:

Đề tài 1. “Tình cảm gia đình trong ca dao xưa, từ đó đề xuất một số giải pháp giúp cuộc sống gia đình hạnh phúc hơn”.

Đặt vấn đề

- Ca dao về tình cảm gia đình được chọn nghiên cứu có vị trí như thế nào trong đời sống tinh thần của người bình dân xưa?

- Nêu lí do chọn ca dao về tình cảm gia đình, từ đó liên hệ tới cuộc sống con người hiện đại.

- Đã có những nghiên cứu nào đáng chú ý về chủ đề ca dao ấy? những phương diện giá trị nào cần được tiếp tục nghiên cứu? - Trình bày xuất xứ của các bài ca dao được lựa chọn.

Giải quyết vần đề

- Có thể hình dung như thế nào về hoàn cảnh diễn xướng của các bài ca dao này? - Giới thiệu về ca dao và biểu hiện của ca dao về tình cảm gia đình.

- Giới thiệu các dị bản, chỉ ra những điểm khác biệt, giải thích lí do. - Nhân vật trữ tình trong các bài ca dao là ai? Nội dung tình cảm được thổ lộ là gì?

- Thời gian, không gian trong các bài ca dao có gì đặc biệt? - Trình bày ý kiến của giới nghiên cứu (những điểm đồng thuận, những điểm chưa nhất trí).

- Những đặc trưng nghệ thuật nào của thể loại ca dao in đậm dấu ấn ở các bài ca dao này?

- Trình bày ý kiến khi phân tích các bài ca dao (từ ngữ, hình ảnh, kết cấu, chủ đề,...) để bày tỏ sự đồng cảm, chia sẻ hoặc bổ sung, phản bác,...

- Đánh giá sức sống của bài ca dao trong đời sống hiện nay.

- Đánh giá sức sống của bài ca dao trong đời sống hiện nay.

- Đề xuất các gải pháp giúp cuộc sống gia đình hạnh phúc hơn.

- Đề xuất các gải pháp giúp cuộc sống gia đình hạnh phúc hơn.

Kết luận

64

- Khẳng định ý nghĩa của ca dao về tình cảm gia đình.

- Nêu những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.

Đề tài 2:

Đề tài 2. “Dấu ấn của ca dao dân ca trong làn điệu dân ca Thái ”.

Đặt vấn đề - Dân ca Thái có vị trí như thế nào trong đời sống tinh thần của con người xưa và nay?

- Ca dao có ảnh hưởng như thế nào trong làn điệu dân ca Thái? - Nêu lí do vì sao lại chọn đề tài “Dấu ấn của ca dao dân ca trong làn điệu dân ca Thái”

- Trình bày xuất xứ của các bài ca dao được lựa chọn.

- Đã có những nghiên cứu nào đáng chú ý về chủ đề ấy? những phương diện giá trị nào cần được tiếp tục nghiên cứu? Giải quyết vần đề

- Giới thiệu chung về ca dao.

- Giới thiệu chung về dân ca Thái. - Trình bày ý kiến của giới nghiên cứu (những điểm đồng thuận, những điểm chưa nhất trí).

- Trình bày ý kiến của giới nghiên cứu (những điểm đồng thuận, những điểm chưa nhất trí). - Có thể hình dung như thế nào về hoàn cảnh diễn xướng của bài, chùm bài ca dao này?

- Biểu hiện của ca dao trong dân ca Thái.

- Đánh giá sức sống của ca dao đới với dân ca Thái trong đời sống hiện nay.

- Hướng bảo tồn và phát triển.

- Trình bày ý kiến khi phân tích bài ca dao (từ ngữ, hình ảnh, kết cấu, chủ đề, âm điệu...) để bày tỏ sự đồng cảm, chia sẻ hoặc bổ sung, phản bác,...

- Nhận xét, đánh giá sức sống của ca dao đới với dân ca Thái trong đời sống hiện nay (lễ hội, sân khấu ca nhạc, hát ru,... ).

- Hướng bảo tồn và phát triển.

Kết luận

- Khẳng định ý nghĩa của ca dao về tình cảm gia đình.

- Nêu những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Đề tài 3:

Đề tài 3. “Hình tượng người mẹ kế từ

65

truyện cổ tích Tấm Cám đến đời sống hiện đại”.

- Có những nhân vật nào thuộc loại hình tượng sẽ được đề cập trong bài nghiên cứu? Đặt vấn đề

- Vì sao có thể xác định tên loại hình tượng nhân vật như vậy? - Nêu lí do chọn loại nhân vật phản diện (người mẹ kế).

- Giải thích tên gọi (nếu bạn tự đặt tên cho loại nhân vật).

- Trong các công trình nghiên cứu đã tập hợp được, bạn có thể trích dẫn những ý kiến nào? Ý kiến nào bạn muốn bàn luận thêm? - Kể tên các nhân vật cùng loại (kèm tên tác phẩm).

Giải quyết vấn đề - Những điểm giống nhau, khác nhau giữa các nhân vật là gì?

- Khái quát về truyện cổ tích.

- Những đặc điểm của loại nhân vật đó thể hiện ý nghĩa gì?

- Trình bày ý kiến của giới nghiên cứu (lược thuật, trích dẫn). - Số phận nhân vật thể hiện ý nghĩa gì?

- Phân tích đặc điểm của hình tượng nhân vật người mẹ kế. - Loại hình tượng nhân vật này gợi cho bạn suy nghĩ gì?

- Phân tích ý nghĩa của hình tượng nhân vật.

- Các hình tượng nhân vật này đã được “tái sinh” trong tác phẩm sân khấu, điện ảnh, văn học như thế nào?

- Nhận xét, đánh giá sự ảnh hưởng của hình tượng trong đời sống xưa và hiện nay. - Cách nhìn đa chiều hình tượng trong cuộc sống hiện đại như thế nào?

Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ - Cách nhìn đa chiều về người mẹ kế trong cuộc sống hiện đại.

Kết luận HS thảo luận nhóm để hoàn thành các nhiệm vụ.

Bước 3. Báo cáo kết quả - Khẳng định giá trị đặc sắc của hình tượng. - GV mời đại diện 1 nhóm trình bày.

- Các nhóm còn lại góp ý, bổ sung. - Đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo.

Bước 4. Kết luận, nhận định

- GV nhận xét, chốt kiến thức.

Thao tác 2. Hướng dẫn HS cách triển khai báo cáo nghiên cứu theo từng loại đề tài II. Hướng dẫn học sinh viết báo cáo nghiên cứu và thuyết trình kết quả nghiên cứu

Nhiệm vụ 1. Hướng dẫn HS thực 1. Thực hành viết báo cáo

66

hành viết báo cáo nghiên cứu - Dung lượng tối đa 10 trang.

Bước 1. Chuyển giao nhiệm vụ - Ngôn ngữ đúng văn phong khoa học.

- HS dựa trên dàn ý nhóm (đã hoàn thành ở tiết trước) cá nhân viết thành bài báo cáo hoàn chỉnh. - Kết cấu: Bài viết có đủ 4 phần: đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, kết luận, tài liệu tham khảo.

- Nhóm chọn bài ưu tú để báo cáo.

- Hình thức trình bày: Có thể viết theo trang giấy, trình bày bằng sơ đồ, trình bày bằng máy chiếu, diễn kịch,...

- GV nhắc HS bám sát những hướng dẫn trong sách CĐ để thực hiện báo cáo nghiên cứu.

Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ

- HS viết báo cáo và nạp bài sau 1 tuần.

Bước 3: Báo cáo sản phẩm

- HS chia sẻ sản phẩm trên gọc học tập trang Zalo để HS khác nhận xét, góp ý.

- GV tổ chức cho HS tự chấm bài cá nhân vòng 1. GV chấm vòng 2.

- Ban giám khảo chấm điểm bài các nhóm theo tiêu chí (Phụ lục 4)

Bước 4. Kết luận, nhận định

- GV nhận xét, đánh giá về tình hình hoàn thành các sản phẩm của lớp.

- Chốt lại một số yêu cầu trọng tâm khi viết bài báo cáo nghiên cứu.

Nhiệm vụ 2. Thuyết trình kết quả nghiên cứu

Bước 1. Chuyển giao nhiệm vụ

- GV tổ chức cho HS báo cáo bằng hình thức thảo luận chủ đề: Em tập làm nhà nghiên cứu văn học

- Hội đồng tự quản chọn 1 hoặc 2 HS làm MC; 4 HS làm giám khảo.

- GV lựa chọn những sản phẩm chất

67

lượng nhất của mỗi nhóm.

- HS đại diện thuyết trình và thảo luận về bài nghiên cứu của nhóm.

- Khách mời, cố vấn: Các giáo viên trong tổ Văn.

Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ

- Các nhóm kết hợp với Hội đồng tự quản lớp phối hợp thực hiện.

Bước 3. Báo cáo thảo luận

- Tổ chức cho học sinh báo cáo bằng hình thức thảo luận chủ đề: Em tập làm nhà nghiên cứu văn học

- Lồng vào một sô tiết mục văn nghệ và trò chơi “Chiếc hộp may mắn”.

- Các thành viên khác theo dõi, ghi chép để có sự nhận xét, góp ý.

- Các khách mời tham vấn.

Bước 4. Kết luận, nhận định

- GV nhận xét phần thuyết trình của học sinh.

Nhiệm vụ 3. Hướng dẫn HS đánh giá

- HS tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng bài viết của bạn dựa trên Rubic đánh giá (Phụ lục 5)

- GV đánh giá bằng điểm số với cá nhân những bài viết tốt và nhóm hoạt động tích cực trong quá trình thảo luận các nội dung của chuyên đề.

- Thưởng quà cho nhóm và cá nhân thực hiện tốt.

HOẠT ĐỘNG 3. LUYỆN TẬP

a. Mục tiêu: Củng cố kiến thức, kĩ năng tìm ý, lập dàn ý khi viết bài báo cáo

nghiên cứu.

68

b. Tổ chức thực hiện:

Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ

- Gv trình chiếu một bài báo cáo nghiên cứu của HS.

- Yêu cầu hs phát hiện những nội dung còn thiếu trong bài viết so với đề

cương của một bài báo cáo nghiên cứu.

Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ

- HS theo dõi và phát hiện những nội dung còn thiếu.

Bước 3: Báo cáo thảo luận

HS trình nhận xét, góp ý về những điểm cần bổ sung trong bài báo cáo nghiên

cứu của bạn.

Bước 4: Kết luận, nhận định

- GV nhận xét bài báo cáo của học sinh và những góp ý, bổ sung của các

thành viên.

- Nhấn mạnh lại một số nội dung trọng tâm trong một bài báo cáo nghiên cứu.

HOẠT ĐỘNG 4. VẬN DỤNG

a. Mục tiêu: Học sinh nghiên cứu, cảm nhận được vẻ đẹp và sức sống mãnh liệt của văn học dân gian đồng thời biết vận dụng nghiên cứu về các vấn đề khác của xã hội.

b. Tổ chức thực hiện:

Bước 1. Chuyển giao nhiệm vụ

- Hs lựa chọn một đề tài nghiên cứu bất kì liên quan đến văn học dân gian.

- Trên cơ sở những kinh nghiệm rút ra từ phần thuyết trình bài nghiên cứu, hs thực hiện viết đoạn văn ngắn tập trung thể hiện những ý kiến đánh giá của bản thân về đề tài đã chọn.

Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ

Học sinh tìm hiểu và viết bài (thực hiện ở nhà)

Bước 3. Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ

Học sinh hoàn thành bài viết và gửi lên trang học tập của lớp theo thời gian

quy định.

Bước 4. Kết luận, nhận định

GV nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ theo các tiêu chí trong

69

bảng kiểm (Phụ lục 4), ở tiết học tiếp theo .

* Hướng dẫn học ở nhà:

1. Tìm đọc thêm các bài viết tham khảo của các nhà nghiên cứu, phân tích

cách viết và trình bày để học tập.

2. Chỉnh sửa, hoàn thiện bài viết theo đề tài lựa chọn và tiếp tục tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề tiếp theo, hoặc đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp.

3. Chuẩn bị chuyên đề 2: Sân khấu hóa tác phẩm văn học.

70