BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ---------------------------------------

T Ă N G N G U Y Ệ T Á N H

TĂNG NGUYỆT ÁNH

Q U Ả N T R

I

K N H D O A N H

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP TẠI BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

C H 2 0 1 2 B

Hà Nội – Năm 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI --------------------------------------- TĂNG NGUYỆT ÁNH ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP TẠI BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS. PHAN DIỆU HƯƠNG

Hà Nội – Năm 2014

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Chương trình cao học và Luận văn này, tôi đã nhận được sự

hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý nhiệt tình của Quý thầy, cô trường Đại học Bách Khoa

Hà Nội và các anh, chị cán bộ của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh thuộc Bộ Kế

hoạch và Đầu tư.

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy, cô trường Đại Học Bách

Khoa Hà Nội, đặc biệt là những thầy, cô đã tận tình dạy bảo cho tôi trong thời gian

học tập tại trường.

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS. Phan Diệu Hương đã dành rất nhiều

thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành Luận văn tốt

nghiệp.

Xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo cũng như các anh, chị cán bộ của Cục

Quản lý đăng ký kinh doanh đã tạo điều kiện cho tôi thu thập thông tin, dữ liệu để

thực hiện Luận văn.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ lý luận và kinh nghiệm thực

tiễn của tôi còn hạn chế nên Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất

mong nhận được những đóng góp quý báu của Quý thầy, cô và các bạn.

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

HỌC VIÊN

Tăng Nguyệt Ánh

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các

dữ liệu, kết quả nêu trong Luận văn này hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ

ràng.

TÁC GIẢ

Tăng Nguyệt Ánh

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1. Các mốc quan trọng trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam……... 23

Bảng 2.Tình hình đăng ký doanh nghiệp chia theo địa phương giai đoạn 2011-

2013……………………………………………………………………………...... 39

Bảng 3. Số lượng điều và từ được quy định tại các Luật về doanh nghiệp giai

đoạn 1991-2011…………………………………………………………………... 44

Bảng 4. Thời gian trung bình cần cho việc thành lập doanh nghiệp theo đúng luật

qua các giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2013……………………………………. 45

Bảng 5. Số lượng văn bản trảo đổi, góp ý và số lượng hội thảo, tập huấn về

nghiệp vụ đăng ký doanh nghiệp…………………………………………………. 46

Bảng 6. Số lượng tỉnh, thành phố đã được chuẩn hóa dữ liệu giai đoạn 2011-

2013……………………………………………………………………………....... 48

Bảng 7. Tỷ lệ trả kết quả đúng hạn cho giao dịch đăng ký thành lập doanh

nghiệp………………………………………………………………………………. 51

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1. Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tiếp bằng bản giấy tại Phòng Đăng

ký kinh doanh……………………………………………………………………… 8

Hình 2. Quy trình đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử không sử dụng chữ ký

số công cộng……………………………………………………………………….. 9

Hình 3. Quy trình đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử sử dụng chữ ký số

công cộng………………………………………………………………………….. 10

Hình 4. Sơ đồ cơ cấu tổ chức Cục Quản lý đăng ký kinh doanh………………….. 37

Hình 5. Số doanh nghiệp thành lập mới theo Quý năm 2012 - 2013……………… 40

Hình 6. Các cơ quan tham gia quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp…. 49

Hình 7. Quy trình cung cấp thông tin về đăng ký doanh nghiệp………………….. 80

Hình 8. Quy trình hướng dẫn các vướng mắc liên quan đến nghiệp vụ đăng ký

doanh nghiệp………………………………………………………………………. 84

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN LỜI CAM ĐOAN DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP ....................................................................... 5 1.1 Khái niệm về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp ................ 5

1.1.1 Đăng ký doanh nghiệp ........................................................................... 5 1.1.2 Khái niệm về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp ............ 10 1.2 Vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp.................... 12 1.3 Nội dung của quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp ............... 13 1.4 Nguyên tắc quản lý về đăng ký doanh nghiệp .......................................... 15 1.4.1 Tập trung dân chủ................................................................................... 15

1.4.2 Thu hút người dân, doanh nghiệp tham gia quản lý nhà nước .............. 16 1.4.3 Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước ............................... 16 1.4.4 Kế hoạch hóa trong quản lý nhà nước ................................................... 16

1.4.5 Quản lý nhà nước kết hợp theo ngành và theo lãnh thổ ........................ 17 1.5 Mục tiêu và tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh

nghiệp .............................................................................................................. 17 1.5.1 Mục tiêu của quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp ............. 17 1.5.2 Tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp .............................................................................................................. 18 1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp ......................................................................................................................... 19

1.6.1 Yếu tố bên trong cơ quan quản lý nhà nước .......................................... 19 1.6.2 Yếu tố bên ngoài cơ quan quản lý nhà nước.......................................... 20 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP TẠI BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ ................................................................................................................... 25

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

2.1 Giới thiệu sơ bộ về Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Quản lý đăng ký kinh

doanh ............................................................................................................... 25 2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Quản lý

đăng ký kinh doanh ......................................................................................... 25 2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh ....................................................................................................... 28

2.1.3 Bộ máy tổ chức, quản lý của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư............................................................................................... 37 2.2 Đánh giá kết quả đã đạt được trong công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư ......................................... 37 2.3 Phân tích thực trạng về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư ................................................................................... 41

2.3.1 Xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật, các quy định về đăng ký doanh nghiệp ................................................................................................... 41 2.3.2 Phân tích công tác phổ biến, hướng dẫn thực hiện pháp luật về đăng ký doanh nghiệp ................................................................................................... 46 2.3.3 Công tác tổ chức xây dựng, quản lý hệ thống thông tin phục vụ đăng ký

doanh nghiệp ................................................................................................... 47 2.3.4 Công tác kết nối hệ thống thông tin về đăng ký doanh nghiệp và hệ thống thông tin thuế ........................................................................................ 49

2.3.5 Công tác tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp .............................................................................................................. 51 2.3.6 Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm về đăng ký doanh nghiệp

......................................................................................................................... 56 2.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước đối với

đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư ......................................... 60 2.4.1 Phân tích các yếu tố bên trong Bộ Kế hoạch và Đầu tư ........................ 60 2.4.2 Phân tích các yếu tố bên ngoài Bộ Kế hoạch và Đầu tư ........................ 65 2.4.3 Các nguyên nhân chính ảnh hưởng chưa tốt đến quản lý nhà nước đối

với đăng ký doanh nghịêp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư ................................... 68

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG

TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP TẠI BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ............................................................. 70

3.1 Quan điểm quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp ở Việt Nam ....... 70 3.1.1 Quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp ở Việt Nam ................................................................................................................. 70

3.1.2 Mục tiêu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về quản lý đăng ký doanh nghiệp ở Việt Nam ...................................................................................................... 71 3.2 Định hướng phát triển về công tác quản lý đăng ký doanh nghiệp của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư .................................. 72 3.3 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp ......................................................................................................................... 72

3.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc................................................................... 73 3.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc................................................................ 74 3.3.3 Kinh nghiệm của Singapore................................................................... 75 3.3.4 Kinh nghiệm của Na Uy......................................................................... 76 3.4 Bài học kinh nghiệm cho đổi mới quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh

nghiệp ở Việt Nam .......................................................................................... 78 3.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối

với đăng ký doanh nghiệp tại Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch

và Đầu tư ......................................................................................................... 78

3.5.1 Giải pháp cải cách hành chính tại Cục Quản lý đăng ký kinh doanh .... 78 3.5.2 Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp.................................................... 88 3.5.3 Giải pháp định hướng khác ................................................................... 90

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

LỜI MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của Đề tài

Lực lượng doanh nghiệp ngoài nhà nước ở nước ta được hình thành từ cuối

những năm 1980 đầu những năm 1990. Tuy nhiên, trong suốt thập kỷ 1990, quản lý

nhà nước đối với doanh nghiệp vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế quản lý

tập trung, mang tính dè dặt, thận trọng. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp giai

đoạn này chủ yếu mang tính kiểm soát, kìm hãm doanh nghiệp. Do vậy, lực lượng

doanh nghiệp thời kỳ này chưa thực sự phát triển, đòi hỏi đối với công tác quản lý

nhà nước về doanh nghiệp không cao.

Sang đầu thế kỷ 21, cộng đồng doanh nghiệp đã có sự phát triển mạnh mẽ.

Tiếp theo Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực vào ngày

01/07/2006, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 15/4/2010

và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2010 đã tạo ra một bước tiến mới trong tiến

trình cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh, xoá bỏ cơ bản các rào cản đăng ký gia

nhập thị trường đối với doanh nghiệp. Kết quả là số lượng doanh nghiệp đăng ký

mới tăng đều qua các năm, nhờ vậy, trong 5 năm 2006 – 2010, đã có 343,8 nghìn

doanh nghiệp đăng ký thành lập (cao gấp 2,3 lần so với 5 năm 2001- 2005) với tổng

số vốn đăng ký đạt 2.600 nghìn tỷ đồng (cao gấp 8,4 lần so với cùng 5 năm 2001 -

2005); tính đến hết năm 2011, cả nước đã có 623,7 nghìn doanh nghiệp được đăng

ký thành lập. Năm 2012, số lượng doanh nghiệp đăng ký mới trong phạm vi cả

nước là 70 nghìn doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký mới là 467 nghìn tỷ đồng.

Trong năm 2013, cả nước đã có gần 80 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới.

Sự phát triển nhanh chóng về số lượng doanh nghiệp thành lập đã kéo theo sự gia

tăng nhanh chóng về khối lượng của công tác quản lý đối với doanh nghiệp. Do

vậy, công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp cần phải tăng cường

và đổi mới.

Trong những năm qua, mặc dù đã có nhiều cố gắng và đạt được một số kết

quả tích cực, song, về cơ bản, công tác quản lý đối với doanh nghiệp nói chung và

đăng ký doanh nghiệp nói riêng còn bộc lộ nhiều yếu kém. Trong các nội dung của

1

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

quản lý nhà nước về doanh nghiệp thì đăng ký kinh doanh có sự tiến bộ nhiều nhất.

Trong khi đó, công tác xây dựng pháp luật doanh nghiệp vẫn chậm đổi mới, tuyên

truyền và phổ biến pháp luật cho doanh nghiệp chưa được quan tâm, năng lực

thanh-kiểm tra của cơ quan quản lý còn yếu. Do đó, tình trạng vi phạm pháp luật

của doanh nghiệp như trốn thuế, mua bán hóa đơn trái phép, lừa đảo, vi phạm quyền

sở hữu trí tuệ, gây ô nhiễm môi trường, vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực

phẩm… diễn ra phổ biến. Ở một số lĩnh vực, quản lý nhà nước đã bị buông lỏng,

gây ra tình trạng doanh nghiệp “nhờn luật”, sẵn sàng vi phạm pháp luật, chịu xử

phạt để đạt được mục tiêu lợi nhuận.

Để khắc phục những mặt tiêu cực của doanh nghiệp, bắt kịp với sự phát triển

của cộng đồng doanh nghiệp thì quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp phải

được đổi mới, các nội dung quản lý phải được phát triển cân bằng hơn, trình độ,

năng lực của chủ thể quản lý cũng phải được nâng cao để phù hợp với đối tượng bị

quản lý.

Với những lý do trên, Đề tài “Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường

công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu

tư” được nghiên cứu dựa trên việc phân tích cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối

với đăng ký doanh nghiệp để khắc họa cụ thể thực trạng công tác quản lý nhà nước

đối với đăng ký doanh nghiệp, từ đó đánh giá đúng những mặt tích cực cũng như

hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, đồng thời trên cơ sở đó, đề xuất

một số giải pháp cụ thể nhằm khắc phục tình trạng này.

2. Mục đích nghiên cứu của Luận văn

Mục đích nghiên cứu của Luận văn là tổng hợp và hệ thống hóa cơ sở lý luận

về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư để

khắc họa cụ thể thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

tại đây, từ đó đánh giá đúng những mặt tích cực cũng như hạn chế và chỉ ra nguyên

nhân của những hạn chế, đồng thời trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp cụ thể

nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp.

2

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

3. Đối tượng nghiên cứu

Những nội dung cơ bản về quản lý của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đối với đăng

ký doanh nghiệp.

4. Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Quản lý của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đối với đăng ký doanh

nghiệp ở Việt Nam.

- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước

về đăng ký doanh nghiệp ở Việt Nam. Đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm quản lý

nhà nước về đăng ký doanh nghiệp của một số quốc gia trên thế giới.

- Về thời gian: Luận văn xem xét, đánh giá thực trạng đăng ký của các doanh

nghiệp và quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian từ

năm 1990 đến nay.

Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với

đăng ký doanh nghiệp ở Việt Nam

5. Phương pháp nghiên cứu

Về việc thu thập và xử lý số liệu, Luận văn sử dụng phương pháp thống kê;

cụ thể là tổng hợp, phân tích, so sánh các nguồn số liệu từ các báo cáo thống kê

trong nước của các cơ quan Chính phủ đặc biệt là Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch

và Đầu tư cũng như một số nguồn số liệu khác.

Bên cạnh đó, Luận văn cũng vận dụng một số kết quả nghiên cứu của các

công trình khoa học liên quan để làm phong phú và sâu sắc hơn các cơ sở khoa học

và thực tiễn của đề tài.

6. Những đóng góp của Luận văn

Từ khái niệm quản lý nhà nước và nội dung đăng ký kinh doanh, Luận văn

đã đưa ra khái niệm về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Luận văn đã đưa ra 02 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến công tác

quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, bao

gồm nhóm yếu tố bên trong cơ quan quản lý nhà nước như Hệ thống các văn bản

pháp luật và các quy định liên quan đến đăng ký doanh nghiệp; Năng lực, trình độ

3

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

của đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước làm việc trong lĩnh vực đăng ký doanh

nghiệp; Hệ thống quản lý thông tin đăng ký doanh nghiệp trong cơ quan quản lý

nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp; Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà

nước đối với đăng ký doanh nghiệp và nhóm yếu tố bên ngoài cơ quan quản lý nhà

nước như Nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cần có sự quản lý nhà nước chặt chẽ

hơn; Năng lực, trình độ phát triển của doanh nghiệp; Sự phát triển của hệ thống

công nghệ - thông tin; Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Bằng việc phân tích, đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng tới công tác

quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Luận

văn đã đưa ra những nguyên nhân chính ảnh hưởng không tốt đến công tác này.

Đồng thời, qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước được đánh giá có môi

trường kinh doanh thuận lợi, Luận văn đã đưa ra 03 giải pháp góp phần tăng cường

công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu

tư.

7. Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm 3 chương:

- Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

- Chương II: Thực trạng về công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh

nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

- Chương III: Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước

đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

4

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP

1.1 Khái niệm về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

1.1.1 Đăng ký doanh nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm về đăng ký doanh nghiệp

Việt Nam đã bắt đầu tiến hành cải cách toàn diện môi trường kinh doanh và

công tác đăng ký kinh doanh bằng việc ban hành và thực hiện Luật Doanh nghiệp

1999. Về cơ bản, Luật Doanh nghiệp đã thay đổi bản chất của việc đăng ký kinh

doanh từ “xin phép được tiến hành kinh doanh” sang “thông báo với các cơ quan có

thẩm quyền về sự hiện hữu của doanh nghiệp”. Hồ sơ, trình tự, thủ tục thực hiện

đăng ký kinh doanh đã được cải cách cơ bản, đơn giản hóa và rút ngắn nhiều lần so

với trước đây. Những thay đổi mà cải cách đem lại đã tạo nên sự phát triển mạnh

mẽ của khu vực tư nhân ở Việt Nam, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi hệ thống cơ

quan đăng ký kinh doanh phải khẩn trương được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu cải

cách.

Trước tình hình đó, để chỉ đạo kịp thời và quyết liệt công cuộc cải cách môi

trường kinh doanh, một số các văn bản hướng dẫn quan trọng đã được Quốc hội,

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành ban hành:

Ngày 31/12/2000, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 29/2000/CT-

TTg về việc đẩy mạnh thực hiện Luật Doanh nghiệp [7].

Ngày 02/8/2002, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 17/2002/CT-TTg về

việc tiếp tục đẩy mạnh thi hành Luật Doanh nghiệp [8].

Ngày 11/12/2003, Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 27/2003/CT-TTg về

việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Luật Doanh nghiệp, khuyến khích phát triển doanh

nghiệp nhỏ và vừa[9].

Ngày 29/11/2005, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã

thông qua Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 [6].

5

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Ngày 23/10/2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số

236/2006/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 5 năm

(2006-2010) [11].

Ngày 27/02/2007, liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Công an và Tài chính đã ban

hành Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA hướng dẫn cơ chế phối

hợp giữa các cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép

khắc dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp [1].

Ngày 30/11/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP về

một số giải pháp xử lý những vướng mắc trong hoạt động đầu tư xây dựng và cải

cách một số thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp [12].

Ngày 29/7/2008, Liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Công an và Tài chính ban

hành Thông tư liên tịch số 05/2008/TTLT/BKH-BTC-BCA hướng dẫn cơ chế phối

hợp giữa các cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép

khắc dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (Thay

thế Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA) [2].

Ngày 15/4/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng

ký doanh nghiệp [13].

Hiện nay, theo quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP thì khái niệm về

đăng ký doanh nghiệp được hiểu: “Đăng ký doanh nghiệp bao gồm nội dung về

đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp thành lập

theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký

thành lập mới doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh

nghiệp”[13].

Đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật là quyền của cá nhân, tổ

chức và được nhà nước bảo hộ.

1.1.1.2 Hình thức đăng ký doanh nghiệp

- Đăng ký thành lập mới doanh nghiệp: Đăng ký thành lập doanh nghiệp tư

nhân; Đăng ký thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn; Đăng ký thành lập công ty

cổ phần; Đăng ký thành lập công ty hợp danh.

6

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

- Đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp: Đăng ký thay đổi người

đại diện theo pháp luật của công ty TNHH, công ty CP; Đăng ký thay đổi chủ sở

hữu công ty; Đăng ký thay đổi cổ động sáng lập công ty CP; Đăng ký thay đổi nội

dung đăng ký thuế; Đăng ký giải thể doanh nghiệp...

1.1.1.3 Quy trình đăng ký doanh nghiệp

+ Nộp hồ sơ trực tiếp bằng bản giấy tại Phòng Đăng ký kinh doanh

Bước 1: Người thành lập doanh nghiệp hoặc người đại diện theo ủy quyền

nộp hồ sơ theo quy định tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính

phủ về đăng ký doanh nghiệp tại Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh

nghiệp đặt trụ sở chính.

Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được tiếp nhận để nhập thông tin vào Hệ thống

thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia khi:

- Có đủ giấy tờ theo quy định tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP;

- Tên doanh nghiệp đã được điền vào Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp

hoặc Giấy đề nghị chuyển đổi doanh nghiệp;

- Có địa chỉ liên lạc của người nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp;

- Đã nộp lệ phí đăng ký doanh nghiệp theo quy định.

Bước 2: Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Phòng Đăng ký kinh doanh phải trao Giấy

biên nhận về việc nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ.

Bước 3: Sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, Phòng đăng ký kinh

doanh kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và nhập đầy đủ, chính xác thông tin trong hồ

sơ đăng ký doanh nghiệp vào Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia.

Nếu hồ sơ hợp lệ, Phòng Đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký

doanh nghiệp cho doanh nghiệp trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày tiếp

nhận hồ sơ.

Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ hoặc tên doanh nghiệp yêu cầu đăng ký không

đúng theo quy định, Phòng Đăng ký kinh doanh phải thông báo rõ nội dung cần sửa

đổi, bổ sung bằng văn bản cho người thành lập doanh nghiệp trong thời hạn năm

ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ.

7

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Hình 1. Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tiếp bằng bản giấy

tại Phòng Đăng ký kinh doanh

+ Nộp hồ sơ qua mạng điện tử

- Không sử dụng chữ ký số công cộng

Bước 1: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp kê khai thông tin,

tải văn bản điện tử, xác thực hồ sơ và thanh toán lệ phí qua mạng điện tử theo quy

trình trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia.

Bước 2: Sau khi hoàn thành quy trình gửi hồ sơ đăng ký, người thành lập

doanh nghiệp sẽ nhận được Giấy biên nhận nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua

mạng điện tử từ Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia.

Bước 3: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ký tên vào Giấy

biên nhận nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử và gửi đến Phòng

đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.

Bước 4: Phòng Đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét, gửi thông báo

qua mạng điện tử cho doanh nghiệp để yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ trong trường

hợp hồ sơ chưa hợp lệ.

8

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Bước 5: Sau khi nhận được thông báo về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký

doanh nghiệp, người thành lập doanh nghiệp phải nộp một bộ hồ sơ đăng ký doanh

nghiệp bằng bản giấy kèm theo Giấy biên nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua

mạng điện tử đến Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở

chính.

Bước 6: Sau khi nhận được hồ sơ bằng bản giấy, Phòng Đăng ký kinh doanh

xem xét cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp.Doanh

nghiệp có thể nhận trực tiếp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tại Phòng

Đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký và trả phí để nhận qua đường bưu điện.

Hình 2. Quy trình đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử không sử

dụng chữ ký số công cộng

- Sử dụng chữ ký số công cộng

Bước 1: Người thành lập doanh nghiệp kê khai thông tin, tải văn bản điện tử,

ký số vào hồ sơ đăng ký điện tử và thanh toán lệ phí qua mạng điện tử theo quy

trình trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia.

9

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Bước 2: Sau khi hoàn thành quy trình gửi hồ sơ đăng ký, người thành lập

doanh nghiệp sẽ nhận được Giấy biên nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng

điện tử.

Bước 3: Phòng Đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét, gửi thông báo

qua mạng cho doanh nghiệp để yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ trong trường hợp hồ

sơ chưa hợp lệ.

Khi hồ sơ đã đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp,

Phòng Đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Doanh nghiệp có thể nhận trực tiếp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

tại Phòng Đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký và trả phí để nhận qua đường bưu điện.

Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp nộp qua Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp

quốc gia có giá trị pháp lý như hồ sơ nộp bằng bản giấy.

Hình 3. Quy trình đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử sử dụng

chữ ký số công cộng

1.1.2 Khái niệm về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “quản lý”. Có quan

niệm cho rằng quản lý là cai trị, cũng có quan điểm cho rằng quản lý là điều hành,

điều khiển, chỉ huy. Quan niệm chung nhất được nhiều giáo trình liên quan đến

khoa học quản lý, quản trị đưa ra như sau: “Quản lý là sự tác động có ý thức của

chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá

10

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù

hợp với quy luật khách quan” [5]. Quan niệm này không những phù hợp với hệ

thống máy móc thiết bị, cơ thể sống, mà còn phù hợp với một tập thể người, một tổ

chức hay một hệ thống tổ chức nằm trong xã hội.

Nếu xét theo góc độ đối tượng quản lý thì có thể chia hoạt động quản lý

thành 3 loại:

- Loại thứ nhất: là hoạt động của con người điều khiển các vật hữu sinh

không phải con người để bắt chúng phải thực hiện ý đồ điều khiển. Ví dụ như hoạt

động trồng trọt, chăn nuôi…

- Loại thứ hai: là hoạt động của con người điều khiển các vật vô tri vô giác

để bắt chúng thực hiện theo ý đồ của người điều khiển. Ví dụ như hoạt động điều

khiển máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải…

- Loại thứ ba: là hoạt động con người điều khiển con người. Loại hình này

được gọi là quản lý xã hội.

Quản lý xã hội được Mác coi là chức năng quản lý đặc biệt được sinh ra từ

tính chất xã hội hóa lao động [5]. Hiện nay, khi nói đến quản lý, thông thường

người ta nghĩ đến quản lý xã hội. Trong các chủ thể tham gia quản lý xã hội, Nhà

nước là chủ thể duy nhất quản lý xã hội một cách toàn diện, toàn dân bằng pháp

luật, thể hiện như sau:

- Thứ nhất, quản lý toàn dân là Nhà nước quản lý toàn bộ những người sinh

sống và đang có mặt trên lãnh thổ quốc gia, bao gồm cả những người không phải là

công dân.

- Thứ hai, quản lý toàn diện là Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của

đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo vùng

lãnh thổ. Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội có nghĩa là các cơ

quan điều chỉnh mọi khía cạnh hoạt động của xã hội trên cơ sở luật pháp quy định.

- Thứ ba, quản lý bằng pháp luật là việc Nhà nước đưa ra một hệ thống quy

định pháp luật buộc nhà nước, toàn dân phải tuân theo các quy định đó, nếu không

tuân thủ sẽ bị xử phạt.

11

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Như vậy, có thể hiểu quản lý nhà nước như sau: Quản lý nhà nước là sự chỉ

huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp)

để thực thi quyền lực Nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật.

Từ khái niệm về quản lý nhà nước và nội dung đăng ký kinh doanh, có thể

đưa ra khái niệm chung về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp như sau:

Quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp là một nội dung của quản lý

nhà nước đối với doanh nghiệp, trong đó, khách thể quản lý là doanh nghiệp. Quản

lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp là sự tác động có tổchức và bằng pháp

quyền của nhà nước đến công tác đăng ký doanh nghiệp nhằm quản lý, điều hành

và khai thác, sử dụng có hiệu quả nhất công tác đăng ký doanh nghiệp bảo đảm

thực hiện chiến lược, quy hoạch và kế hoạch định hướng phát triển kinh tế - xã hội

của đất nước.

1.2 Vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường năng lực cạnh tranh

của doanh nghiệp cũng như môi trường kinh doanh tại Việt Nam.

Sự chồng chéo của hệ thống luật pháp chính sách liên quan đến đăng ký kinh

doanh, thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp là một trong những yếu tố không nhỏ

gây ra khó khăn cho người dân và doanh nghiệp khi gia nhập thị trường. Càng nhiều

quy định pháp lý thì thì doanh nghiệp càng phải chi phí nhiều hơn nhưng đối với

các doanh nghiệp lớn chi phí tuân thủ quy phạm pháp luật được chia nhỏ cho từng

đơn vị sản phẩm và lợi ích đạt được từ việc hoạt động hợp pháp trên thị trường sẽ

đủ bù đắp cho những chi phí đó. Điều này đôi lúc các doanh nghiệp nhỏ và vừa

(DNNVV) không đạt được do vậy họ bắt buộc phải lựa chọn con đường không tuân

thủ đầy đủ các quy phạm pháp luật. Đây chính là lý do tại sao trong mọi nền kinh tế

luôn tồn tại một khu vực kinh doanh phi chính thức.

Bên cạnh đó, để cải thiện môi trường hành chính pháp lý thuận lợi cho doanh

nghiệp thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan thực thi pháp luật luôn

là một vấn đề cần được quan tâm. Ở nhiều quốc gia, luật pháp có thể được xây dựng

rất tốt, đưa ra những quy định thuận lợi cho doanh nghiệp song hệ thống cơ quan

12

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

thực thi chính sách, pháp luật không phải khi nào cũng triển khai hiệu quả các quy

định, chính sách đó.

Hồ sơ thủ tục nhiều khi được các cán bộ nhà nước hướng dẫn một cách phức

tạp, thông tin về quy định nhà nước thiếu minh bạch... tất cả những điều này chỉ để

gây sức ép cho doanh nghiệp phải chấp nhận trả một khoản chi phí phi chính thức.

Với hệ thống cơ quan thực thi pháp luật như vậy sẽ ngăn cản các nhà đầu tư tiềm

năng thực hiện việc bỏ vốn kinh doanh.

Có thể nói rằng vai trò của Nhà nước trong phát triển môi trường kinh doanh

tại Việt Nam và đặc biệt trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp bao gồm các nội

dung sau: Tạo một hành lang pháp lý bình đẳng cho doanh nghiệp trong và ngoài

nước trong thực hiện thủ tục gia nhập thị trường; Đẩy mạnh tính tuân thủ pháp luật

của doanh nghiệp; Cải thiện tính minh bạch của môi trường kinh doanh; Đơn giản

hóa các thủ tục hành chính, đặt trọng tâm hoạt động vào phục vụ người dân và nâng

cao chất lượng dịch vụ hành chính.

1.3 Nội dung của quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

Điều 12 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định

nội dung quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp [13], bao gồm:

- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đăng ký doanh nghiệp, văn bản

hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, biểu mẫu, chế độ báo cáo phục vụ công tác

đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh và việc đăng ký qua mạng điện tử.

- Hướng dẫn, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đăng ký doanh nghiệp cho cán bộ

làm công tác đăng ký doanh nghiệp.

- Tổ chức xây dựng, quản lý Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc

gia để hỗ trợ các nghiệp vụ về đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc; cung

cấp thông tin về đăng ký doanh nghiệp cho các cơ quan có liên quan của Chính phủ,

cho tổ chức, cá nhân có yêu cầu; hướng dẫn các cơ quan đăng ký kinh doanh cấp

tỉnh thực hiện việc chuyển đổi dữ liệu sang Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký

doanh nghiệp.

13

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

- Kết nối giữa hệ thống thông tin về đăng ký doanh nghiệp và hệ thống thông

tin về thuế.

- Phát hành ấn phẩm thông tin doanh nghiệp để thực hiện đăng thông tin về

đăng ký doanh nghiệp, thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp

trên toàn quốc.

- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ [13]

cũng quy định việc hợp nhất đăng ký kinh doanh và đăng ký mã số thuế thành đăng

ký doanh nghiệp, theo đó, đăng ký doanh nghiệp bao gồm: đăng ký thành lập doanh

nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp (như thay đổi tên, thay đổi

trụ sở chính, thay đổi người đại diện theo pháp luật…), tổ chức lại doanh nghiệp

(bao gồm chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp), tạm

ngừng kinh doanh (bao gồm thông báo tạm ngừng kinh doanh và yêu cầu tạm

ngừng kinh doanh), thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giải thể doanh

nghiệp.Đăng ký các đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp bao gồm: đăng ký hoạt

động, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, thu hồi giấy chứng nhận đăng

ký hoạt động, đăng ký chấm dứt hoạt động. Như vậy, quản lý nhà nước về đăng ký

doanh nghiệp sẽ bao gồm toàn bộ nội dungliên quan đến việc tổ chức và thực thi

đăng ký doanh nghiệp.

Có thể khái quát hóa các nội dung quản lý nhà nước về đăng ký doanh

nghiệp như sau:

- Xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật, các quy định về đăng ký doanh

nghiệp và phổ biến, hướng dẫn thực hiện pháp luật về đăng ký doanh nghiệp

Việc xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật nhằm tạo ra một môi

trường pháp lý thuận lợi phục vụ cho công tác đăng ký doanh nghiệp và dễ dàng,

thuận tiện cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động. Bên cạnh đó, để các văn bản

quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp thực sự đi vào

cuộc sống thì công tác phổ biến, hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký kinh doanh là vô

cùng cần thiết.

14

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

- Tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

Bộ máy cơ quan đăng ký kinh doanh hiện nay có ở ba cấp trung ương, cấp

tỉnh và cấp huyện, việc tổ chức bộ máy là hết sức quan trọng, nó đảm bảo qui trình

nghiệp vụ thống nhất và xuyên suốt từ cấp trung ương xuống địa phương.

- Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng để thực thi chính

sách

Hoạt động quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp có phạm vi rộng

và bao trùm nhiều cơ quan quản lý khác nhau, ở cấp địa phương bao gồm Uỷ ban

nhân dân các quận - huyện với các Sở, ngành chức năng, ở cấp Trung ương bao

gồm Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng Cục Thuế -

Bộ Tài chính, Bộ Công an. Tùy theo từng chức năng nhiệm vụ thì mỗi cơ quan có

yêu cầu quản lý khác nhau nhưng nhìn chung đều có sự giao thoa về việc theo dõi

và quản lý doanh nghiệp. Do đó, việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý là hết sức

cần thiết nhằm thống nhất cách thức thực hiện quản lý theo ngành, lĩnh vực, bên

cạnh đó, tránh được sự trùng chéo và chia sẻ thông tin một cách có hiệu quả.

- Kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm về đăng ký doanh nghiệp

Kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp là việc

làm quan trọng, đảm bảo cho việc tuân thủ một cách đầy đủ các quy định của nhà

nước đối với lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp. Trước đây việc kiểm tra được thực

hiện theo cơ chế “tiền kiểm” thì hiện nay được thực hiện theo cơ chế “hậu kiểm” đã

dần nâng cao được vai trò, trách nhiệm cá nhân của các tổ chức, công dân và thể

hiện rõ quyền tự do, tự chủ trong đăng ký doanh nghiệp.

1.4 Nguyên tắc quản lý về đăng ký doanh nghiệp

1.4.1 Tập trung dân chủ

Về mặt hoạt động, cơ quan nhà nước ở trung ương và cơ quan nhà nước cấp

trên như Cục quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyết định

những vấn đề cơ bản, quan trọng, ban hành pháp luật, đường lối, chủ trương, chính

sách, kế hoạch…liên quan đến đăng ký doanh nghiệp. Các cơ quan nhà nước ở cấp

địa phương và cấp dưới như Sở, ngành chức năng, Ủy ban nhân dân cấp quận -

15

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

huyện được quyền dân chủ trong đóng góp ý kiến với cơ quan cấp trên trong những

việc nêu trên nhưng phải thực hiện và phục tùng quyết định, chỉ thị của cơ quan cấp

trên.

Nguyên tắc tập trung dân chủ còn đòi hỏi cấp trên phải thường xuyên kiểm

tra cấp dưới trong việc thực hiện các quyết định và chỉ thị của cơ quan cấp trên,thực

hiện chế độ thông tin, báo cáo thường xuyên giữa cấp trên và cấp dưới; đảm bảo kỷ

luật nghiêm minh trong tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước.

1.4.2 Thu hút người dân, doanh nghiệp tham gia quản lý nhà nước

Điều 53, Hiến pháp 1992 quy định rõ: “Công dân có quyền tham gia quản lý

nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa

phương, kiến nghị tới các cơ quan nhà nước và biểu quyết khi Nhà nước tổ chức

trưng cầu ý dân” [5].

Nguyên tắc này thể hiện bản chất của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa là

của dân, do dân và vì dân. Thực hiện nguyên tắc này không những tạo ra khả năng

phát huy sức lực và trí tuệ của nhân dân trong việc thảo luận, góp ý đối với chủ

trương, chính sách của nhà nước liên quan đến đăng ký doanh nghiệp mà còn là một

trong những phương pháp tốt để ngăn chặn tệ quan liêu, cửa quyền trong quản lý

nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp; bên cạnh đó, đảm bảo sự cạnh tranh và

minh bạch của môi trường doanh nghiệp.

1.4.3 Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước

Pháp chế xã hội chủ nghĩa là việc đòi hỏi các cơ quan nhà nước, mọi tổ chức,

cá nhân phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa một cách tuyệt đối.

Điều 12, Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật,

không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” [5].

1.4.4 Kế hoạch hóa trong quản lý nhà nước

Kế hoạch hóa là việc đưa các hoạt động của quản lý nhà nước thành kế

hoạch. Chỉ khi các hoạt động quản lý được lập thành kế hoạch mới tránh được sự

tùy tiện. Trong quản lý nhà nước, kế hoạch hóa là nguyên tắc cơ bản và đặc trưng

của nhà nước xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở chỗ tất cả các cơ quan quản lý nhà nước

16

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

đều tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch ở các cấp. Đối với cấp quản lý trung

ương, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư là đơn vị chủ trì

xây dựng lộ trình thực hiện công tác quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp

trong phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, để xây dựng được lộ trình, kế hoạch phù hợp

với điều kiện về quy mô dân số, kinh tế, mức độ áp dụng công nghệ thông tin…của

các tỉnh thành khác nhau đòi hỏi phải có sự tham gia ý kiến của cấp quản lý địa

phương là các Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc các Sở Kế hoạch và Đầu tư của 63

tỉnh thành.

1.4.5 Quản lý nhà nước kết hợp theo ngành và theo lãnh thổ

Bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo 4 cấp hành chính là cấp

trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, trong đó, cấp dưới phải tuân thủ cấp trên.

Quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ phải có sự kết hợp chặt chẽ. Quản lý

theo ngành mà tách rời yếu tố lãnh thổ sẽ có nguy cơ phá vỡ sự thống nhất của các

quan hệ trên lãnh thổ như: sử dụng đồng bộ các nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên,

làm phát triển xu hướng tập trung, quan liêu. Quản lý theo lãnh thổ mà tách rời yếu

tố ngành sẽ dẫn đến tính cục bộ, phá vỡ tính hệ thống quốc gia.

1.5 Mục tiêu và tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh

nghiệp

1.5.1 Mục tiêu của quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

Doanh nghiệp, với vai trò là tế bào của nền kinh tế, có tác động rất lớn tới xã

hội: doanh nghiệp tạo ra nguồn của cải chủ yếu cho xã hội, tạo ra công ăn việc

làm… Tuy nhiên, song song với những lợi ích mà doanh nghiệp mang lại cho xã hội

thì vì mục tiêu lợi nhuận, doanh nghiệp cũng gây không ít ảnh hưởng tiêu cực tới xã

hội như: ô nhiễm môi trường, trốn thuế gây thất thu cho ngân sách nhà nước, vi

phạm pháp luật gây mất trật tự an toàn xã hội…

Do vậy, mục tiêu của quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp là:

Thứ nhất, nắm bắt được thực trạng của các doanh nghiệp từ đó đưa ra các

chính sách, giải pháp nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa, cân bằng của doanh

nghiệp với xã hội thông qua việc tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp gia

17

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

nhập thị trường để tiến hành sản xuất, kinh doanh nhưng cũng hạn chế những tác

động tiêu cực của doanh nghiệp tới xã hội.

Thứ hai, thông qua việc nắm bắt thực trạng của doanh nghiệp, tình hình hoạt

động của doanh nghiệp từ đó có phương án cân đối các mục tiêu vĩ mô của nền kinh

tế nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và hợp lý.

Thứ ba, nhằm phân bổ tối ưu các nguồn lực của nền kinh tế quốc dân, đó là

các nguồn lực về vốn, lao động cho sự phát triển của doanh nghiệp và nền kinh tế

nói chung.

1.5.2 Tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh

nghiệp

Hiện nay, theo quy định tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 [13]

thì hoạt động quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp bao gồm các hoạt

động cơ bản:

- Xây dựng, phổ biến và hướng dẫn thực hiện pháp luật về đăng ký doanh

nghiệp và pháp luật liên quan đến đăng ký doanh nghiệp;

- Tổ chức, thực hiện quản lý về đăng ký doanh nghiệp;

- Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan để quản lý về đăng ký doanh

nghiệp;

- Kiểm tra, giám sát các hoạt động quản lý nhà nước về đăng ký doanh

nghiệp.

Việc đưa ra các tiêu chí để đánh giá hiệu quả của các hoạt động trên là khá

phức tạp, thường mang tính định tính và rất khó thực hiên. Do vậy, đối với quản lý

nhà nước về đăng ký doanh nghiệp, việc đánh giá hiệu quả phải dựa trên kết quả

tổng hợp của việc thực hiện hoạt động quản lý nhà nước. Kết quả tổng hợp sẽ được

phản ánh thông qua tiêu chí mang tính định lượng về đăng ký doanh nghiệp và cụ

thể ở đây như sau:

- Số lượng văn bản trao đổi, góp ý và số lượng hội thảo, tập huấn về nghiệp

vụ đăng ký doanh nghiệp đối với các tổ chức, đơn vị trong và ngoài Bộ Kế hoạch và

Đầu tư;

18

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

- Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giai đoạn 2011 - 2013;

- Số lượng doanh nghiệp giải thể, dừng hoạt động giai đoạn 2011 - 2013;

- Thời gian trung bình cần cho việc thành lập doanh nghiệp theo đúng luật

qua các giai đoan từ năm 1991 đến nay;

- Tỷ lệ trả kết quả đúng hạn cho giao dịch đăng ký thành lập doanh nghiệp;

- Số lượng tỉnh, thành phố đã được chuẩn hóa dữ liệu để hoàn thiện cơ sở dữ

liệu về đăng ký doanh nghiệp.

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

1.6.1 Yếu tố bên trong cơ quan quản lý nhà nước

Hệ thống các văn bản pháp luật và các quy định liên quan đến đăng ký

doanh nghiệp

Hệ thống các văn bản pháp luật và các quy định liên quan đến đăng ký

doanh nghiệp là công cụ để nhà nước quản lý công tác đăng ký doanh nghiệp. Bộ

Kế hoạch và Đầu tư (Cục Quản lý đăng ký kinh doanh) với chức năng là cơ quan

chuyên môn của Chính phủ trong thời gian qua đã tham mưu cho Chính phủ ban

hành nhiều văn bản, chính sách quan trọng về đăng ký doanh nghiệp. Với cương vị

cơ quan đăng ký kinh doanh cấp trung ương, là cơ quan cấp trên, các văn bản Bộ Kế

hoạch và Đầu tư ban hành nhằm chỉ đạo và hướng dẫn kịp thời về công tác chuyên

môn, nghiệp vụ cho các cơ quan đăng ký kinh doanh địa phương, góp phần tăng

cường tính công khai minh bạch của các thông tin liên quan đến đăng ký doanh

nghiệp, nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát của cơ quan quản lý trong việc xử lý

các thủ tục hành chính cho công dân và doanh nghiệp, từng bước phù hợp với hệ

thống luật pháp và thông lệ của quốc tế.

Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước làm việc trong

lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp

Đội ngũ cán bộ công chức là chủ thể trực tiếp tham gia quản lý nhà nước về

đăng ký doanh nghiệp, vì vậy đòi hỏi phải có trình độ hiểu biết nhất định và am hiểu

các chính sách, pháp luật về doanh nghiệp. Kỹ năng và kiến thức của đội ngũ cán bộ

làm công tác đăng ký kinh doanh là yếu tố quyết định trong quản lý nhà nước đối

19

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

với đăng ký doanh nghiệp. Đội ngũ cán bộ hạn chế về trình độ chuyên môn, tính

chuyên nghiệp chưa cao, nhất là kiến thức quản lý hiện đại, chưa áp dụng được tin

học trong quản lý một cách đồng bộ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác

quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp.

Hệ thống quản lý thông tin đăng ký doanh nghiệp trong cơ quan quản lý nhà

nước đối với đăng ký doanh nghiệp

Hệ thống quản lý thông tin đăng ký doanh nghiệp đóng vai trò nền tảng trong

việc quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp. Đây là nơi lưu trữ toàn bộ

thông tin đăng ký doanh nghiệp trên toàn quốc. Cơ sở dữ liệu này cũng cho phép cơ

quan đăng ký kinh doanh triết xuất thông tin đăng ký doanh nghiệp theo nhiều tiêu

chí khác nhau để phục vụ cho công tác hoạch định chính sách.

Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh

nghiệp

Sự phối hợp giữa các cơ quan cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng

ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu cho doanh nghiệp có chặt chẽ, liên thông một cửa

mới có thể giảm thiểu tối đa các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp khi gia nhập

thị trường, tạo ra một hệ thống đăng ký minh bạch để ngăn chặn những hành vi tham

ô hoặc đưa ra những quyết định tư lợi.

1.6.2 Yếu tố bên ngoài cơ quan quản lý nhà nước

Nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội cần có sự quản lý nhà nước chặt chẽ hơn

Tại văn kiện Đại hội XI của Đảng, trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã

hội 2011-2020 của nước ta [5], đã nêu rõ quan điểm:

Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ

ngày càng cao; đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hoàn thiện thể chế để tháo gỡ mọi cản trở, tạo điều kiện thuận lợi để giải

phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng khoa học,

công nghệ; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển. Phát

triển nhanh, hài hòa các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp. Phải tăng

20

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

cường tiềm lực và nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước giữ

vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều

tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Phát triển kinh tế tập thể với nhiều

hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xã. Khuyến khích phát triển các

hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh với sở hữu hỗn hợp mà chủ yếu là các doanh

nghiệp cổ phần để loại hình kinh tế này trở thành phổ biến trong nền kinh tế, thúc

đẩy xã hội hóa sản xuất kinh doanh và sở hữu. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để

phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế.

Khuyến khích kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển theo quy hoạch.

Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch. Phát triển đồng bộ, hoàn

chỉnh và ngày càng hiện đại các loại thị trường. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý

và phân phối, bảo đảm công bằng lợi ích, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế -

xã hội.

Như vậy, có thể thấy, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là một hệ thống

các quan điểm, mục tiêu cần đạt được trong một thời kỳ dài. Việc quản lý nhà nước

về đăng ký doanh nghiệp cần phải tuân theo các quan điểm, đường lối trong chiến

lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt được mục tiêu chung của đất nước. Chiến

lược phát triển kinh tế -xã hội đưa ra định hướng để từ đó xây dựng các chính sách

về quản lý đăng ký doanh nghiệp một cách có trọng tâm, trọng điểm nhằm khai thác

và sử dụng dữ liệu đăng ký doanh nghiệp có hiệu quả phục vụ cho mục tiêu phát

triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Năng lực, trình độ phát triển của doanh nghiệp

Có thể nói năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam tăng lên sau 7

năm gia nhập WTO, nhiều doanh nghiệp đã năng động, nhạy bén, mạnh dạn hơn

trong việc xâm nhập vào thị trường thế giới. Kể từ khi Luật Doanh nghiệp 2005 ra

đời, doanh nghiệp có sự phát triển rất nhanh chóng cả về số lượng và nội dung hoạt

động. Trình độ quản lý, tay nghề của khối doanh nghiệp tăng lên; sản phẩm xuất

khẩu bắt đầu chiếm lĩnh thị trường thế giới. Nhiều doanh nghiệp đã trụ vững trước

những biến động, khó khăn của nền kinh tế trong nước và những tác động tiêu cực

21

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

từ khủng hoảng tài chính, suy thoái của nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, đối với các

doanh nghiệp vừa và nhỏ, do tăng nhanh về số lượng, trong khi chưa chuẩn bị đầy

đủ điều kiện cho sự ra đời và hoạt động, nên những hạn chế của doanh nghiệp như

thiếu hụt vốn (nguồn vốn chủ yếu từ vay ngân hàng); chất lượng lao động thấp, lao

động chủ yếu là thủ công, đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp ít đượcđào tạo;

công nghệ lạc hậu, năng suất thấp; trình độ am hiểu luật pháp, hệ thống thị trường

còn yếu... ngày càng bộc lộ rõ khi nền kinh tế thế giới trong tình trạng suy thoái.

Những hạn chế này đã gây tác động không nhỏ đến tính tuân thủ pháp luật của các

doanh nghiệp.

Sự phát triển của hệ thống công nghệ - thông tin

Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát

triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời

sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại. Với sự phát triển của công nghệ

thông tin như ngày nay, việc trao đổi thông tin diễn ra một cách nhanh chóng trên

phạm vi toàn cầu, con người có nhiều điều kiện tiếp cận với công nghệ tiên tiến

hơn. Hầu hết các ngành nghề, các lĩnh vực hay hoạt động trong xã hội hiện đại cũng

cần tới sự góp mặt của công nghệ thông tin. Bởi sự đa dạng ấy, đối tượng phục vụ

của công nghệ thông tin ngày càng phong phú. Do vậy, ứng dụng và phát triển công

nghệ thông tin là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội,

là phương tiện chủ lực đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các

nước đi trước.

Do vậy, công tác quản lý nhà nước về dữ liệu đăng ký doanh nghiệp cần phải

hướng đến yêu cầu của quá trình hội nhập, bắt kịp với công nghệ tiên tiến của thế

giới để xây dựng một hệ thống thông tin hiện đại để lưu trữ cơ sở dữ liệu quốc gia

về đăng ký doanh nghiệp thống nhất trong phạm vi toàn quốc.

Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và đây là một xu

hướng tất yếu khách quan, việc hội nhập đòi hỏi chúng ta phải cùng hợp tác và trao

đổi với các quốc gia nhằm cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng lực sản xuất đáp ứng các

22

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

yêu cầu mới trong quá trình hội nhập. Sự hợp nhất về kinh tế giữa các quốc gia có

tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến nền kinh tế, chính trị của các nước nói riêng và

của thế giới nói chung. Đây là vấn đề mang tính chất quyết định đối với nền kinh tế

của một quốc gia.

Để góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của môi trường kinh doanh Việt

Nam so với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam cần có những quyết sách đúng đắn,

phù hợp với yêu cầu thực tiễn và thông lệ quốc tế về đơn giản hóa thủ tục hành

chính; minh bạch hóa môi trường kinh doanh nói chung và công tác đăng ký kinh

doanh nói riêng.

Bảng 1. Các mốc quan trọng trong hội nhập kinh tế quốc tế

của Việt Nam

Thời điểm Sự kiện

1986 Đại hội Đảng VI mở đường cho chính sách mở cửa và hội nhập

1992 Quan sát viên của ASEAN

1995 Thành viên chính thức của ASEAN

1996-2006 Thực hiện lộ trình AFTA

1998 Thành viên của APEC

2000 Hiệp định thương mại Việt-Mỹ được ký kết

2006 Thành viên chính thức của WTO

23

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Tóm tắt nội dung Chương I

Chương I đã hệ thống các cơ sở lý thuyết quan trọng về quản lý nhà nước đối

với đăng ký doanh nghiệp như: Khái niệm về quản lý nhà nước đối với đăng ký

doanh nghiệp, vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp, nội dung

của quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp, nguyên tắc quản lý về đăng ký

doanh nghiệp.

Để từ đó đưa ra mục tiêu, tiêu chí đánh giá, xác định các yếu tổ ảnh hưởng

đến quản lý nhà nước nước đối với đăng ký doanh nghiệp, làm căn cứ và cơ sở cho

việc đánh giá thực trạng về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ

Kế hoạch và Đầu tư ở Chương II.

24

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐĂNG

KÝ DOANH NGHIỆP TẠI BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

2.1 Giới thiệu sơ bộ về Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Quản lý đăng ký kinh

doanh

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Quản lý

đăng ký kinh doanh

2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Ngày 8 tháng 10 năm 1955, ngày Hội đồng Chính phủ họp quyết định thành

lập Ủy ban Kế hoạch Quốc gia được xác định là ngày thành lập Ủy ban Kế hoạch

Nhà nước, nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Ngược trở lại lịch sử, ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới

được thành lập, ngày 31 tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính

phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Sắc lệnh số 78-SL thành lập

Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến thiết nhằm nghiên cứu, soạn thảo và trình Chính

phủ một kế hoạch kiến thiết quốc gia về các ngành kinh tế, tài chính, xã hội và văn

hóa. ủy ban gồm các ủy viên là tất cả các Bộ trưởng, Thứ trưởng, có các Tiểu ban

chuyên môn, được đặt dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Chính phủ.

Vì vậy, trong buổi lễ ngành Kế hoạch và Đầu tư đón nhận Huân chương Sao

Vàng được tổ chức tại Hội trường Ba Đình lịch sử ngày 4 tháng 11 năm 2000, Thủ

tướng Phan Văn Khải đã khẳng định lấy ngày 31 tháng 12 năm 1945 là ngày truyền

thống của ngành Kế hoạch và Đầu tư. Kể từ đây ngành Kế hoạch và Đầu tư và Bộ

Kế hoạch và Đầu tư coi ngày 31 tháng 12 hằng năm là ngày Lễ chính thức của

mình.

Theo dòng lịch sử, có thể điểm lại các mốc quan trọng trong quá trình xây

dựng và trưởng thành của ngành Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Kế hoạch và Đầu tư

như sau:

Ngày 14 tháng 5 năm 1950, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra

Sắc lệnh số 68-SL thành lập Ban Kinh tế Chính phủ (thay cho Ủy ban Nghiên cứu

25

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

kế hoạch kiến thiết). Ban Kinh tế Chính phủ có nhiệm vụ nghiên cứu, soạn thảo và

trình Chính phủ những đề án về chính sách, chương trình, kế hoạch kinh tế hoặc

những vấn đề quan trọng khác.

Trong phiên họp ngày 8 tháng 10 năm 1955, Hội đồng Chính phủ đã quyết

định thành lập Ủy ban Kế hoạch Quốc gia và ngày 14 tháng 10 năm 1955, Thủ

tướng Chính phủ đã ra Thông tư số 603-TTg thông báo quyết định này. Ủy ban Kế

hoạch Quốc gia và các Bộ phận kế hoạch của các Bộ ở Trung ương, Ban kế hoạch ở

các khu, tỉnh, huyện có nhiệm vụ xây dựng các dự án kế hoạch phát triển kinh tế,

văn hóa, và tiến hành thống kê kiểm tra việc thực hiện kế hoạch. Ngày 9-10-1961,

Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị định số 158-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ

chức bộ máy của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, trong đó xác định rõ Ủy ban Kế

hoạch Nhà nước là cơ quan của Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm xây dựng kế

hoạch hàng năm và kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế và văn hóa quốc dân theo

đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Cùng với thời gian, qua các thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,

Chính phủ đã có hàng loạt các Nghị định quy định và bổ sung chức năng cho Ủy

ban Kế hoạch Nhà nước (158/CP, 47/CP, 209/CP, 29/CP, 10/CP, 77/CP, 174/CP,

15/CP, 134/CP, 224/CP, 69/HĐBT, 66/HĐBT, 86/CP, v.v...).

Ngày 27 tháng 11 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng có Nghị định 151/HĐBT

giải thể Ủy ban Phân vùng kinh tế Trung ương, giao công tác phân vùng kinh tế cho

Ủy ban Kế hoạch Nhà nước.

Ngày 1 tháng 1 năm 1993, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước tiếp nhận Viện

Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương, đảm nhận nhiệm vụ xây dựng chính sách,

luật pháp kinh tế phục vụ công cuộc đổi mới. Ngày 1 tháng 11 năm 1995, Chính

phủ đã ra Nghị định số 75/CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức

bộ máy của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trên cơ sở hợp nhất Ủy ban Kế hoạch Nhà nước

và Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư.

26

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Ngày 17 tháng 8 năm 2000, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số

99/2000/TTg giao Ban Quản lý các khu công nghiệp Việt Nam về Bộ Kế hoạch và

Đầu tư.

Bộ máy tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo Nghị định 75/CP gồm 22

đơn vị giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và 6 tổ chức sự nghiệp

trực thuộc. Từ chỗ chỉ có 55 người khi mới thành lập năm 1955, năm 1988 biên chế

của Bộ đạt số lượng cao nhất 930 người; đến nay Bộ Kế hoạch và Đầu tư có 760

cán bộ công nhân viên, trong đó 420 cán bộ đang tham gia trực tiếp vào quá trình

xây dựng và điều hành kế hoạch. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Bộ cũng không

ngừng lớn mạnh, hiện nay có 2 giáo sư, 7 phó giáo sư, 126 tiến sĩ, 42 thạc sĩ, 479

người có trình độ đại học.

Chủ nhiệm đầu tiên của Ủy ban Kế hoạch Quốc gia - tiền thân của Ủy ban

Kế hoạch Nhà nước, sau này là Bộ Kế hoạch và Đầu tư - là cố Thủ tướng Phạm Văn

Đồng.

2.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

Tại Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/08/2006 của Chính phủ, Chính

phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện một số nhiệm vụ về quản lý nhà nước

đối với công tác đăng ký kinh doanh. Theo đó, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư

giao Cục Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa (nay là Cục Phát triển doanh nghiệp)

thực hiện các nhiệm vụ nêu trên cùng với các nhiệm vụ quản lý nhà nước khác như:

xúc tiến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà

nước.

Với số lượng các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tăng nhiều lên trong

những năm gần đây, ngày 09/9/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số

1659/QĐ-TTg thành lập Cục Quản lý đăng ký kinh doanh trực thuộc Bộ Kế hoạch

và Đầu tư để giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về đăng ký kinh doanh [20].

27

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Quản lý đăng ký

kinh doanh

2.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Theo Nghị định số 116/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008 của Thủ tướng Chính

phủ quy định về chức năng nhiệm vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư [19], Bộ Kế hoạch

và Đầu tư là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kế

hoạch, đầu tư phát triển và thống kê, bao gồm: tham mưu tổng hợp về chiến lược,

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; quy hoạch phát triển, cơ chế, chính

sách quản lý kinh tế chung và một số lĩnh vực cụ thể; đầu tư trong nước, đầu tư của

nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài; khu kinh tế (bao

gồm cả khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, khu công nghệ cao và các loại hình

khu kinh tế khác); quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi tắt ODA)

và viện trợ phi chính phủ nước ngoài; đấu thầu; thành lập, phát triển doanh nghiệp

và khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã; thống kê; quản lý nhà nước các dịch vụ công

trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo quy định của pháp

luật.

Theo Nghị định này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện các nhiệm vụ, quyền

hạn cụ thể như sau:

- Trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp

lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết, nghị

định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của

Bộ đã được phê duyệt và các dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ

tướng Chính phủ.

- Trình Chính phủ chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm năm

và hàng năm của cả nước cùng với các cân đối vĩ mô của nền kinh tế quốc dân; lộ

trình, kế hoạch xây dựng, sửa đổi các cơ chế, chính sách quản lý kinh tế vĩ mô; quy

hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển; tổng mức và cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã

hội và vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước theo ngành, lĩnh vực; tổng mức và

phân bổ chi tiết vốn đầu tư trong cân đối, vốn bổ sung có mục tiêu; tổng mức và

28

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

phân bổ chi tiết vốn trái phiếu Chính phủ, công trái quốc gia; chương trình của

Chính phủ thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội sau khi được Quốc hội

thông qua; chiến lược nợ dài hạn trong chiến lược tổng thể về huy động vốn đầu tư

cho nền kinh tế; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch thu hút và sử dụng các nguồn vốn

đầu tư nước ngoài, ODA và việc đàm phán, ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế

thuộc phạm vi quản lý của Bộ; chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển các loại

hình doanh nghiệp, kinh tế tập thể, hợp tác xã; các dự án khác theo sự phân công

của Chính phủ.

- Trình Thủ tướng Chính phủ:

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các vùng, lãnh thổ; quy hoạch

tổng thể phát triển các khu kinh tế; tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát

triển thuộc ngân sách nhà nước; danh mục các chương trình, dự án đầu tư quan

trọng bằng các nguồn vốn; các khoản chi dự phòng của ngân sách trung ương cho

đầu tư xây dựng cơ bản, bổ sung dự trữ nhà nước, hỗ trợ tín dụng nhà nước, góp

vốn cổ phần, liên doanh; chi ứng trước cho đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách

trung ương theo quy định của pháp luật; kết quả thẩm định các dự án quy hoạch,

thẩm định kế hoạch đấu thầu và kết quả đấu thầu các dự án thuộc thẩm quyền quyết

định của Thủ tướng Chính phủ; các cơ chế, chính sách, giải pháp nhằm phát triển

các loại hình doanh nghiệp, kinh tế tập thể, hợp tác xã;

Các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thống kê và các dự

thảo văn bản khác trong các ngành, lĩnh vực quản lý của Bộ thuộc thẩm quyền của

Thủ tướng Chính phủ theo quy định của pháp luật.

- Ban hành các quyết định, chỉ thị, thông tư trong các ngành, lĩnh vực thuộc

phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.

- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm

pháp luật về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đầu tư phát triển, thống kê đã được

cấp có thẩm quyền phê duyệt, ban hành và các văn bản quy phạm pháp luật khác

thuộc phạm vi quản lý của Bộ; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật

về các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

29

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

- Về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch:

Xây dựng chương trình hành động của Chính phủ thực hiện kế hoạch phát

triển kinh tế - xã hội sau khi được Quốc hội thông qua; điều hành thực hiện kế

hoạch về một số ngành, lĩnh vực được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao;

Xây dựng chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước trong

từng thời kỳ; tổng hợp quy hoạch, kế hoạch phát triển của các Bộ, ngành và tỉnh,

thành phố trực thuộc Trung ương; lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

các vùng, lãnh thổ, quy hoạch tổng thể phát triển các khu kinh tế; có ý kiến về các

quy hoạch thuộc thẩm quyền phê duyệt của các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh,

thành phố trực thuộc Trung ương khi được yêu cầu;

Tổ chức công bố chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch

tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ sau khi được phê duyệt; hướng

dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh,

thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng quy hoạch, kế hoạch hàng năm và năm

năm gắn phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh, phù hợp với

chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và vùng,

lãnh thổ đã được phê duyệt;

Tổng hợp chung các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân: cân đối tích

lũy và tiêu dùng; cân đối về tài chính, tiền tệ; vay và trả nợ nước ngoài; ngân sách

nhà nước; vốn đầu tư phát triển toàn xã hội và giám sát các cân đối này; đề xuất các

giải pháp lớn để giữ vững các cân đối theo mục tiêu chiến lược và kế hoạch; phối

hợp với Bộ Tài chính trong việc xây dựng và lập dự toán ngân sách nhà nước, bảo

đảm thực hiện mục tiêu kế hoạch;

Hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện

kế hoạch của Bộ, ngành, địa phương; tổ chức theo dõi, đánh giá và báo cáo tình

hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo định kỳ hàng tháng, quý,

năm.

30

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

- Về đầu tư phát triển và phân bổ ngân sách nhà nước:

Tổng hợp chung về đầu tư phát triển. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch về đầu

tư toàn xã hội năm năm, hàng năm; danh mục các chương trình, dự án ưu tiên thu

hút vốn đầu tư nước ngoài, vốn ODA; danh mục các chương trình, dự án đầu tư

nhóm A trở lên sử dụng nguồn vốn của Nhà nước và danh mục các chương trình

mục tiêu quốc gia, các chương trình mục tiêu, các dự án quan trọng;

Xây dựng tổng mức và cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội theo ngành,

lĩnh vực; tổng mức và cân đối vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước theo

ngành, lĩnh vực (bao gồm cơ cấu đầu tư của ngân sách trung ương và ngân sách địa

phương); tổng mức vốn dự trữ nhà nước, tổng mức vốn góp cổ phần và liên doanh

của nhà nước, vốn bổ sung cho các doanh nghiệp công ích, tổng mức vốn trái phiếu

Chính phủ và công trái theo ngành, lĩnh vực, tổng mức vốn chương trình mục tiêu

quốc gia.

Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính tổng hợp phân bổ chi tiết vốn đầu tư trong

cân đối ngân sách cho các Bộ, ngành, vốn bổ sung dự trữ nhà nước, vốn đối ứng

ODA và các dự án quan trọng, vốn đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ và công

trái theo ngành, lĩnh vực.

Tổng hợp phân bổ chi tiết vốn của từng chương trình mục tiêu quốc gia (bao

gồm cả vốn đầu tư và vốn sự nghiệp), các chương trình mục tiêu và các khoản bổ

sung có mục tiêu khác.

Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, các Bộ, ngành liên quan và các địa

phương xây dựng tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển; giám sát, đánh

giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển của Nhà nước, đặc biệt là vốn đầu tư phát

triển từ ngân sách nhà nước;

Thường trực Hội đồng thẩm định Nhà nước các dự án đầu tư quan trọng

quốc gia; thẩm định các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình mục tiêu

và các dự án khác do Thủ tướng Chính phủ giao; thẩm tra các dự án đầu tư khác

theo quy định của pháp luật về đầu tư.

31

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

- Về đầu tư trong nước, đầu tư của nước ngoài và đầu tư của Việt Nam ra

nước ngoài:

Làm đầu mối giúp Chính phủ quản lý đối với hoạt động đầu tư trong nước và

đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam, đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài;

tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư, hướng dẫn thủ tục đầu tư;

Thực hiện việc đăng ký hoặc thẩm tra, cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước

ngoài và chủ trì thẩm tra, cấp giấy chứng nhận đầu tư các dự án đầu tư theo hình

thức BOT, BTO, BT;

Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn, theo dõi, thanh

tra, kiểm tra hoạt động đầu tư, đề xuất hướng xử lý các vấn đề phát sinh trong quá

trình hình thành, triển khai và thực hiện dự án đầu tư; đánh giá kết quả và hiệu quả

kinh tế - xã hội của hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; kiểm tra,

giám sát, đánh giá tổng thể hoạt động đầu tư công. Báo cáo tình hình thực hiện

chương trình mục tiêu và dự án đầu tư do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư;

làm đầu mối tổ chức các cuộc tiếp xúc của Thủ tướng Chính phủ với các nhà đầu tư

ở trong nước và ở nước ngoài.

- Về quản lý ODA:

Là cơ quan đầu mối trong việc thu hút, điều phối và quản lý nhà nước về

ODA; chủ trì soạn thảo chiến lược, chính sách, định hướng thu hút và sử dụng

ODA; hướng dẫn các cơ quan chủ quản xây dựng danh mục các chương trình, dự án

ưu tiên vận động ODA; tổng hợp Danh mục các chương trình, dự án ODA yêu cầu

tài trợ;

Chủ trì việc chuẩn bị nội dung, tổ chức vận động và điều phối các nguồn

ODA phù hợp với chiến lược, định hướng thu hút, sử dụng ODA; đề xuất việc ký

kết điều ước quốc tế khung về ODA và điều ước quốc tế cụ thể về ODA không hoàn

lại theo quy định của pháp luật; hỗ trợ các Bộ, ngành và các địa phương chuẩn bị

nội dung và theo dõi quá trình đàm phán điều ước quốc tế cụ thể về ODA với các

nhà tài trợ.

32

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Hướng dẫn các đơn vị, tổ chức có liên quan chuẩn bị chương trình, dự án

ODA; chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính xác định cơ chế tài chính trong nước sử

dụng vốn ODA thuộc diện ngân sách nhà nước cấp phát hoặc cho vay lại;

Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính tổng hợp và lập kế hoạch giải ngân vốn

ODA, xây dựng kế hoạch vốn đối ứng hàng năm và xử lý các nhu cầu đột xuất đối

với các công trình, dự án ODA thuộc diện cấp phát từ nguồn ngân sách nhà nước;

Theo dõi, kiểm tra và đánh giá các chương trình, dự án ODA theo quy định

của pháp luật; làm đầu mối xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị Thủ tướng Chính

phủ xử lý các vấn đề có liên quan đến nhiều Bộ, ngành; định kỳ tổng hợp báo cáo

về tình hình và hiệu quả thu hút, sử dụng ODA.

- Về quản lý đấu thầu:

Thẩm định kế hoạch đấu thầu và kết quả lựa chọn nhà thầu các dự án thuộc

thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo quy định của pháp luật về

đấu thầu; phối hợp với các Bộ, ngành liên quan theo dõi việc tổ chức thực hiện công

tác đấu thầu đối với các dự án do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

Hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra, giám sát, tổng hợp việc thực hiện các quy

định của pháp luật về đấu thầu; tổ chức mạng lưới thông tin về đấu thầu theo cơ chế

phân cấp hiện hành.

- Về quản lý các khu kinh tế:

Xây dựng, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển các khu

kinh tế trong phạm vi cả nước;

Tổ chức thẩm định quy hoạch tổng thể các khu kinh tế, việc thành lập các

khu kinh tế; phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành

phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn triển khai quy hoạch, kế hoạch phát triển các

khu kinh tế sau khi được phê duyệt;

Làm đầu mối hướng dẫn, kiểm tra, tổng hợp, báo cáo tình hình đầu tư phát

triển và hoạt động của các khu kinh tế; chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên

quan đề xuất về mô hình và cơ chế quản lý đối với các khu kinh tế.

- Về thành lập và phát triển doanh nghiệp:

33

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng chiến lược, chương

trình, kế hoạch sắp xếp, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước; cơ chế quản lý

và chính sách hỗ trợ đối với sắp xếp doanh nghiệp nhà nước và phát triển doanh

nghiệp nhỏ và vừa thuộc các thành phần kinh tế.

Tham gia cùng các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc

Trung ương thẩm định đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước;

tổng hợp tình hình sắp xếp, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước và tình hình

phát triển doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác của cả nước;

Giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác đăng ký kinh

doanh; hướng dẫn thủ tục đăng ký kinh doanh; kiểm tra, theo dõi, tổng hợp tình

hình thực hiện đăng ký kinh doanh và sau đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp

trên phạm vi cả nước.

- Về kinh tế tập thể, hợp tác xã:

Xây dựng chiến lược, chương trình và kế hoạch phát triển khu vực kinh tế

tập thể, hợp tác xã; tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc và tổng kết việc thực hiện

các chương trình và kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã;

Tổ chức xây dựng các cơ chế quản lý và chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế

tập thể, hợp tác xã.

- Về lĩnh vực thống kê:

Giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lĩnh vực thống kê; thống

nhất quản lý việc công bố và cung cấp thông tin thống kê, niên giám thống kê theo

quy định của pháp luật;

Quy định thẩm quyền ban hành các bảng phân loại thống kê (trừ bảng phân

loại thống kê của ngành tòa án, kiểm sát) theo quy định của pháp luật;

Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, chế độ báo cáo thống kê cơ

sở, chế độ báo cáo thống kê tổng hợp, chương trình điều tra thống kê quốc gia dài

hạn, hàng năm và các cuộc điều tra thống kê theo quy định của pháp luật.

34

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

- Thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh

nghiệp có vốn nhà nước trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ,

bao gồm:

Xây dựng đề án sắp xếp, tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu để trình Thủ tướng

Chính phủ phê duyệt và chỉ đạo tổ chức thực hiện đề án sau khi được phê duyệt;

Trình Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bổ nhiệm, miễn

nhiệm theo thẩm quyền các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý, kế toán trưởng.

Phê duyệt theo thẩm quyền hoặc trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều

lệ tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp có vốn nhà nước trong các ngành, lĩnh

vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

- Tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến

bộ khoa học, công nghệ trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

- Thực hiện hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ

theo quy định của pháp luật.

- Quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản

lý của Bộ theo quy định pháp luật; quản lý và chỉ đạo hoạt động đối với các tổ chức

sự nghiệp thuộc Bộ.

- Quản lý nhà nước các hoạt động của hội, tổ chức phi chính phủ trong các

lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật

- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng,

tiêu cực và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi

quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật.

- Quyết định và chỉ đạo thực hiện chương trình cải cách hành chính của Bộ

theo mục tiêu và nội dung, chương trình cải cách hành chính nhà nước sau khi được

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

- Quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế; thực hiện chế độ tiền lương và các

chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên

chức nhà nước thuộc Bộ quản lý theo quy định của pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng về

35

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức trong các lĩnh vực

thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

- Quản lý tài chính, tài sản được giao và tổ chức thực hiện ngân sách được

phân bổ theo quy định của pháp luật.

- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính

phủ giao và theo quy định của pháp luật.

2.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

Ngày 08/11/2010, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ký Quyết định số

1899/QĐ-BKH quy định chức năng, nhiệm vụ của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

[20], bao gồm:

- Chủ trì hoặc tham gia xây dựng, soạn thảo cơ chế, chính sách và các văn

bản quy phạm pháp luật về đăng ký kinh doanh trình cấp có thẩm quyền ban hành;

- Ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn,

chỉ đạo về quy trình chuyên môn, nghiệp vụ, biểu mẫu, chế độ báo cáo phục vụ

công tác đăng ký kinh doanh đối với các cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh, cấp

huyện;

- Theo dõi, giám sát, tổng hợp tình hình thực hiện đăng ký kinh doanh của

doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc;

- Về thông tin đăng ký kinh doanh: Tổ chức xây dựng, quản lý, vận hành Hệ

thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cổng thông tin đăng ký doanh

nghiệp quốc gia; cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký kinh doanh;

Chủ trì, phối hợp với Tổng cục Thống kê, Cục Phát triển doanh nghiệp, các

đơn vị chức năng của Bộ Tài chính, Bộ Công an, các cơ quan có liên quan khác

trong việc kết nối và trao đổi thông tin về đăng ký doanh nghiệp;

Cung cấp thông tin về đăng ký doanh nghiệp cho các tổ chức, cá nhân khi có

yêucầu; Phát hành ấn phẩm thông tin về đăng ký doanh nghiệp, giải thể, phá sản

doanh nghiệp và các trường hợp vi phạm của doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc.

- Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ thuộc lĩnh vực phụ trách của

Cục;

36

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

- Thực hiện hợp tác quốc tế về các lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của

Cục;

- Quản lý tổ chức, biên chế, tài sản được giao theo quy định của pháp luật và

phân cấp của Bộ;

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao.

2.1.3 Bộ máy tổ chức, quản lý của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế

hoạch và Đầu tư

Về bộ máy tổ chức và quản lý, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế

hoạch và Đầu tư có Lãnh đạo Cục bao gồm 01 Cục trưởng, 03 Phó Cục trưởng,

ngoài ra còn có 06 đơn vị chức năng: 01 Phòng Tổng hợp chính sách và Hợp tác

quốc tế; 01 Phòng Nghiệp vụ đăng ký kinh doanh; 01 Phòng Giám sát nghiệp vụ

đăng ký kinh doanh, 01 Phòng Thông tin và Cơ sở dữ liệu; 01 Văn phòng; 01 Trung

tâm hỗ trợ Nghiệp vụ đăng ký kinh doanh.

Hình 4. Sơ đồ cơ cấu tổ chức Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

2.2 Đánh giá kết quả đã đạt được trong công tác quản lý nhà nước đối với đăng

ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Có được định hướng đúng đắn và sự quyết tâm của Chính phủ Việt Nam

trong việc cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục nhằm cải thiện môi

trường kinh doanh tại Việt Nam cùng với sự đồng thuận, phối hợp chặt chẽ giữa các

37

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

bộ, ngành liên quan, sự hỗ trợ và hợp tác của tổ chức quốc tế trong cải cách thủ tục

đăng ký kinh doanh ở Việt Nam, thời gian qua Cục Quản lý đăng ký kinh doanh -

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đạt được những thành công nhất định trong lĩnh vực

quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp.

Thứ nhất,cơ bản đạt được những mục tiêu của Chương trình cải cách đăng ký

kinh doanh quốc gia sau 5 năm triển khai thực hiện một cách triệt để và sâu rộng,

bao gồm: (i) hoàn thiện một bước khung khổ pháp lý về đăng ký doanh nghiệp

nhằm pháp lý hóa các nội dung cải cách được Chính phủ giao, tạo điều kiện thuận

lợi cho doanh nghiệp trong quá trình gia nhập và hoạt động trên thị trường; (ii) hoàn

thiện và nâng cấp Hệ thống Thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia với các tính

năng mới nhằm tin học hóa, thống nhất quy trình nghiệp vụ đăng ký kinh doanh trên

phạm vi toàn quốc và tăng hiệu suất công tác, giảm thời gian và chi phí cho người

dân và doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ công.

Thứ hai, xây dựng cơ chế và hệ thống công nghệ thông tin phục vụ công tác

trao đổi, chia sẻ thông tin với cơ quan Thuế, tích cực phối hợp để hoàn thiện, thống

nhất cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp giữa hai ngành nhằm nâng cao hiệu quả công tác

quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp; tiếp tục khẳng định vai trò là cơ quan đầu

mối tổng hợp thông tin về đăng ký doanh nghiệp để phản ánh kịp thời và đầy đủ

tình trạng tồn tại của doanh nghiệp trên thị trường, đáp ứng các yêu cầu thống kê

của các Đơn vị trong Bộ và phục vụ các báo cáo kinh tế xã hội của Bộ trình Quốc

hội và Chính phủ.

Thứ ba, hoàn thành tốt vai trò là cơ quan đầu mối cấp Trung ương trực tiếp

chỉ đạo, hướng dẫn, hỗ trợ cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh thông qua việc

hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đăng ký doanh nghiệp, cung

cấp các chương trình đào tạo chuyên môn, các hội thảo trao đổi về pháp lý, tổ chức

hỗ trợ trực tiếp nhằm tiếp tục chuẩn hóa và nâng cao hiệu suất công tác đăng ký

doanh nghiệp tại địa phương.

38

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Thứ tư, góp phần minh bạch hóa môi trường kinh doanh thông qua việc cung

cấp cho cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng xã hội một kênh thông tin có giá trị

pháp lý về doanh nghiệp mà tất cả các cá nhân, tổ chức đều có thể dễ dàng tiếp cận.

Trong những năm gần đây, mặc dù chịu tác động nhiều từ ảnh hưởng của suy

thoái kinh tế toàn cầu, các nỗ lực cải cách môi trường kinh doanh của Chính phủ

như cắt giảm thời gian thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh, áp dụng mô hình một

cửa liên thông trong đăng ký thành lập doanh nghiệp... đã tác động tích cực đến

niềm tin của các nhà đầu tư, nhờ đó số doanh nghiệp thành lập mới không ngừng

gia tăng ở khắp các vùng miền.

Bảng 2. Tình hình đăng ký doanh nghiệp chia theo địa phương

giai đoạn 2011 - 2013

Nội dung Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Tăng/Giảm 2011–2012 (%) Đơn vị: Doanh nghiệp Tăng/Giảm 2012–2013 (%)

Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới

25.606 21.546 -15,9 21.943 1,9 Đồng bằng Sông Hồng

3.117 2.309 -25,9 2.912 26,0 Trung Du và miền núi phía Bắc

10.033 8.630 -14,0 10.359 20,0 Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung

2.252 1.843 -18,2 2.678 45,4 Tây Nguyên

30.832 29.835 -3,2 31.818 6,6 Đông Nam Bộ

5.708 5.711 0,1 7.245 26,8 Đồng bằng Sông Cửu Long

77.548 69.874 -9,9 76.955 10,1 Tổng

54.261 53.972 0,5 60.737 11,9 Số lượng doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động Tổng

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

39

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Trong năm 2013, cả nước có 76.955 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới,

tăng 10,1% về số doanh nghiệp so với cùng kỳ năm 2012. Như vậy, ngược với sự

suy giảm của năm 2011, 2012 thì trong năm 2013 số lượng doanh nghiệp thành lập

mới đã có chiều hướng tăng trở lại.

So với năm 2012, năm 2013 các vùng kinh tế trong cả nước đều có sự gia

tăng về số doanh nghiệp thành lập: vùng Đồng bằng Sông Hồng có 21.943 doanh

nghiệp thành lập tăng 1,9%; vùng Trung du và miền núi phía Bắc có 2.912 doanh

nghiệp thành lập tăng 26%; vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có

10.359 doanh nghiệp thành lập tăng 20%; vùng Tây Nguyên có 2.678 doanh nghiệp

thành lập tăng 45,4%; vùng Đông Nam Bộ có 31.818 doanh nghiệp thành lập tăng

6,6%; vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có 7.245 doanh nghiệp thành lập tăng

26,8%.

Ngoài ra, năm 2013, tổng số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể,

ngừng hoạt động là 60.737 doanh nghiệp tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước.

Hình 5. Số doanh nghiệp thành lập mới theo Quý năm 2012 - 2013

40

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

2.3 Phân tích thực trạng về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại

Bộ Kế hoạch và Đầu tư

2.3.1 Xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật, các quy định về đăng ký

doanh nghiệp

Đăng ký doanh nghiệp (trước đây là đăng ký kinh doanh) là một trong những

nội dung cốt yếu của việc cải cách hành chính nhằm đảm bảo quyền tự do kinh

doanh và phát huy hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể đầu tư và

khai thác hợp lý tiềm năng kinh tế - xã hội của đất nước. Từ khi Luật Công ty, Luật

Doanh nghiệp tư nhân 1990 ra đời, tiếp đến là Luật Doanh nghiệp 1999 và sau đó là

Luật Doanh nghiệp 2005 được ban hành đã tạo môi trường và vị thế cạnh tranh

cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước, đã đánh dấu một bước tiến quan trọng

trong hoạt động đăng ký doanh nghiệp cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Giai đoạn 1991-1999

Giai đoạn này việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được áp dụng

theo Luật Công ty 1990, Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990 và Luật sửa đổi, bổ sung

một số điều của Luật công ty, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật doanh

nghiệp tư nhân ngày 22 tháng 6 năm 1994. Thời kỳ này, thủ tục thành lập công ty

hoặc doanh nghiệp tư nhân để được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh rất

phức tạp và khó khăn.

Các công dân, tổ chức khi có nhu cầu thành lập công ty hoặc doanh nghiệp

tư nhân phải có đơn gửi Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

hoặc đơn vị hành chính tương đương, nơi dự định đặt trụ sở chính để xin phép thành

lập. Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận đơn, Uỷ ban nhân dân sẽ cấp

hoặc từ chối cấp giấy phép thành lập công ty và trong thời hạn ba mươi ngày đối

với doanh nghiệp tư nhân. Điều kiện để được cấp giấy phép thành lập công ty hoặc

doanh nghiệp tư nhân: a) Mục tiêu, ngành, nghề kinh doanh rõ ràng, có phương án

kinh doanh ban đầu; có trụ sở giao dịch; b) Có vốn điều lệ phù hợp với quy mô và

ngành, nghề kinh doanh. Vốn điều lệ không được thấp hơn vốn pháp định do Hội

đồng bộ trưởng quy định, có đủ vốn đầu tư ban đầu phù hợp với quy mô và ngành,

41

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

nghề kinh doanh. Vốn đầu tư ban đầu không được thấp hơn vốn pháp định do Hội

đồng bộ trưởng quy định; c) Người quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh phải

có trình độ chuyên môn tương ứng mà pháp luật đòi hỏi đối với một số ngành,

nghề/Bản thân hoặc người được thuê làm quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh

có trình độ chuyên môn tương ứng mà pháp luật đòi hỏi đối với một số ngành, nghề.

Sau khi được cấp giấy phép thành lập, công dân, tổ chức sẽ phải tiến hành thủ tục

đăng ký để được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tại Trọng tài kinh tế tỉnh,

thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương.

Tổng số doanh nghiệp đăng ký mới giai đoạn này là 46.770 doanh nghiệp.

Công tác cấp đăng ký kinh doanh trong thời kỳ này chưa được tổ chức thành hệ

thống thống nhất trong phạm vi cả nước, bộ máy cấp đăng ký kinh doanh phức tạp

bao gồm Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố và Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố.

Giai đoạn 2000-2010

Nước ta bắt đầu tiến hành cải cách môi trường kinh doanh và công tác đăng

ký kinh doanh với việc ban hành một loạt các văn bản Luật và Nghị định hướng dẫn

thi hành về công tác đăng ký kinh doanh. Đầu tiên phải kể đến là Luật Doanh

nghiệp năm 1999 được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2000 để

thay thế cho Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân ngày 21 tháng 12 năm 1990 và

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật công ty, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều

của Luật doanh nghiệp tư nhân ngày 22 tháng 6 năm 1994.

Có thể nói việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã đánh dấu một bước

ngoặt về công tác đăng ký kinh doanh. Lần đầu tiên, chúng ta thừa nhận 4 loại hình

doanh nghiệp là: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ

phần và công ty hợp danh của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, bên cạnh đó,

các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đã được mở rộng và thừa nhận là xu thế tất

yếu, khách quan của quy luật thị trường. Cùng với việc ban hành Luật Doanh

nghiệp năm 1999; Luật Doanh nghiệp 2005 thay thế Luật Doanh nghiệp năm 1999,

thì một số văn bản hướng dẫn khác cũng được ra đời như: Nghị định 02/2000/NĐ-

CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh; Nghị định

42

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh thay thế

Nghị định 02/2000/NĐ-CP; Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 của Chính

phủ về đăng ký kinh doanh thay thế Nghị định 109/2004/NĐ-CP và các Thông tư,

văn bản hướng dẫn khác.

Về thủ tục đăng ký kinh doanh, giai đoạn này cũng được cải cách một cách

rõ rệt, nếu như ở giai đoạn trước để được cấp đăng ký kinh doanh thì công dân, tổ

chức phải xin được giấy phép thành lập do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực

thuộc trung ương cấp trong thời hạn sáu mươi ngày, trước khi tiến hành đi đăng ký

kinh doanh, thì giai đoạn 2000-2010, thủ tục này đã được hủy bỏ và thay vào đó

công dân, tổ chức chỉ cần nộp một bộ hồ sơ gồm các giấy tờ

theo quy định: a) Đơn đăng ký kinh doanh; b) Điều lệ đối với công ty; c)

Danh sách thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, danh sách thành viên

hợp danh đối với công ty hợp danh, danh sách cổ đông sáng lập đối với công ty cổ

phần; d) Đối với doanh nghiệp kinh doanh các ngành, nghề đòi hỏi phải có vốn

pháp định thì phải có thêm xác nhận về vốn của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

theo quy định của pháp luật và cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm giải

quyết việc đăng ký kinh doanh trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được

hồ sơ.

Trong thời gian từ năm 1991 đến năm 2011, nhìn chung các quy định về

đăng ký doanh nghiệp đã được Luật Doanh nghiệp làm rõ hơn, cụ thể hơn. Để

hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp, Chính phủ đã ban hành hai hệ thống Nghị

định: về đăng ký kinh doanh và các quy định khác.

43

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Bảng 3. Số lượng điều và từ được quy định tại các Luật về doanh nghiệp

giai đoạn 1991-2011

Nhóm quy định Luật Doanh nghiệp 1999 Luật Doanh nghiệp 2005

Luật Công ty 1991 và Luật Doanh nghiệp tư nhân 1991

20 Điều (1674 từ) 8 Điều (1749 từ) 12 Điều (3203 từ) Quy định chung

21 Điều (2617 từ) 17 Điều (3581 từ) 25 Điều (5491 từ) Đăng ký doanh nghiệp

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Giai đoạn 2010 - 2013

Có thể nói giai đoạn từ năm 2010 đến nay, việc hoàn thiện khung khổ pháp

lý về đăng ký doanh nghiệp đã đạt được những kết quả nổi bật. Căn cứ trên tình

hình thu phí, lệ phí đăng ký doanh nghiệp ở địa phương còn thiếu cụ thể, chưa phù

hợp với thực tiễn và thiếu thống nhất ở các địa phương, thực hiện quy định tại Nghị

định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp

[15], Cục Quản lý đăng ký kinh doanh đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên

quan xây dựng Đề án Phí và Lệ phí đăng ký doanh nghiệp tạo cơ sở quan trọng cho

việc Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 176/2012/TT-BTC ngày 23/10/2012 hướng

dẫn về phí, lệ phí đăng ký doanh nghiệp. Sau đó, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

đã phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng Thông tư số 106/2013/TT-BTC ngày

09/8/2013 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 176/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính quy

định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký doanh nghiệp,

đăng ký hộ kinh doanh và phí cung cấp thông tin doanh nghiệp. Đây là cơ sở pháp

lý quan trọng để doanh nghiệp trên cả nước áp dụng thống nhất mức phí, lệ phí

đăng ký doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện để cơ quan đăng ký kinh doanh có

nguồn thu trang trải cho các hoạt động phục vụ công tác chuyên môn.

Về công tác rà soát thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp,

ngày 02/5/2013, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Quyết định số 543/QĐ-

44

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

BKHĐT công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ thuộc phạm vi,

chức năng quản lý của Bộ Kế hoạch và Đầu tư bao gồm 115 thủ tục; trong đó bổ

sung thêm 02 thủ tục và bãi bỏ 12 thủ tục so với Bộ thủ tục hành chính đã được ban

hành trước đây. Kết quả trên đã góp phần đơn giản hóa quy trình, thủ tục hành

chính đối với doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi và tiết kiệm thời gian, chi phí

cho doanh nghiệp khi gia nhập và hoạt động trên thị trường.

Bên cạnh đó, ngay từ đầu năm 2013, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành

Thông tư số 01/2013/TT-BKH hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp [19] để thay thế

Thông tư số 14/2010/TT-BKH trước đây. Thông tư số 01/2013/TT-BKH đã hướng

dẫn chi tiết về trình tự, thủ tục và hồ sơ đối với một số quy trình đăng ký chưa được

rõ ràng trước đây, đồng thời, tạo cơ sở cho việc cung cấp một số dịch vụ công qua

mạng điện tử như đăng ký doanh nghiệp qua mạng, cung cấp thông tin doanh

nghiệp tại Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia.

Với những tác động tích cực mà hệ thống pháp luật về doanh nghiệp nói

chung và trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp nói riêng trong thời gian qua, từng

bước đã góp phần đáng kể vào việc cải thiện môi trường kinh doanh cho cộng đồng

doanh nghiệp tại Việt Nam, đơn giản hóa thủ tục gia nhập thị trường, cụ thể có thể

thấy ở bảng dưới đây, thời gian thành lập doanh nghiệp đã rút ngắn nhiều qua từng

giai đoạn.

Bảng 4. Thời gian trung bình cần cho việc thành lập doanh nghiệp theo

đúng luật qua các giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2013

1991 - 1999 2000 - 2005

2006

2007

2008 - 2009

2010 - 2013

Thời gian

thành lập

5-10 15 22 50 Tối đa 5 6 - 12

doanh

(ngày) (ngày) (ngày) (ngày) (ngày) (tháng)

nghiệp

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

45

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

2.3.2 Phân tích công tác phổ biến, hướng dẫn thực hiện pháp luật về đăng ký

doanh nghiệp

Về cơ bản, các cơ quan nhà nước đã tổ chức được một hệ thống tuyên truyền,

phổ biến, hướng dẫn thực hiện pháp luật về doanh nghiệp nói chung và đăng ký

doanh nghiệp nói riêng. Cơ quan quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp ở các

cấp đều có bộ phận tiếp dân, là nơi hướng dẫn, giải đáp các vướng mắc về quy trình,

pháp luật liên quan đến đăng ký doanh nghiệp. Hướng dẫn người dân, doanh nghiệp

thực hiện pháp luật về đăng ký doanh nghiệp đã trở thành trách nhiệm của cơ quan

quản lý nhà nước các cấp. Bên cạnh đó, các cơ quan trung ương và cấp tỉnh đều xây

dựng cổng thông tin điện tử, công cụ để thực hiện tuyên truyền, phổ biến và hướng

dẫn pháp luật về đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp.

Trong những năm trở lại đây, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp Trung ương,

cụ thể là Cục Quản lý đăng ký kinh doanh đã đẩy mạnh công tác hướng dẫn nghiệp

vụ đăng ký doanh nghiệp cho các tổ chức, cơ quan ban ngành có liên quan. Hình

thức hướng dẫn không chỉ qua văn bản mà còn trực tiếp qua các buổi tập huấn, hội

thảo.

Bảng 5. Số lượng văn bản trảo đổi, góp ý và số lượng hội thảo, tập huấn

về nghiệp vụ đăng ký doanh nghiệp

Tăng/Giảm Tăng/Giảm

Nội dung 2011 2012 2013

2011-2012 (%) 2012-2013 (%)

Văn bản (VB) 750 876 873 - 0,3 17

33 6 50 Hội thảo (HT) 3 4

25 6 20 Khóa tập huấn 4 5

(K)

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Từ bảng 5, có thể thấy số lượng văn bản trao đổi, góp ý, giải đáp vướng mắc

gửi các đơn vị trong và ngoài Bộ, các tổ chức, cá nhân về nghiệp vụ đăng ký kinh

46

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

doanh có xu hướng không tăng lên, điều này cho thấy các văn bản pháp luật đã thực

sự đi vào cuộc sống, chính vì thế các yêu cầu trao đổi, giải đáp vướng mắc về đăng

ký doanh nghiệp đã ít hơn.

Cùng với hình thức hướng dẫn qua văn bản, Cục Quản lý đăng ký kinh

doanh đã tổ chức các cuộc hội thảo, khóa tập huấn một cách nghiêm túc để trao đổi

trực tiếp cũng như phổ biến, hướng dẫn pháp luật về đăng ký doanh nghiệp. Những

cuộc hội thảo, tập huấn này là vô cùng cần thiết, cần phải tăng cường tổ chức ở các

vùng, miền trên cả nước, vì đó là diễn đàn mở để các diễn giả và đại biểu chia sẻ,

thảo luận và đưa ra các kiến nghị xác đáng, thực tiễn nhằm xây dựng một hệ thống

quy định pháp lý về doanh nghiệp hoàn thiện, hiệu quả, phù hợp hơn với yêu cầu

hiện nay của doanh nghiệp và của các cơ quan quản lý nhà nước. Sau mỗi cuộc hội

thảo, tập huấn nghiệp vụ, những góp ý được trình bày và tổng hợp tại đây là cơ sở

thực tiễn quan trọng trong việc định hướng xây dựng, sửa đổi Luật Doanh nghiệp.

Mặc dù, số lượng hội thảo, khóa tập huấn có tăng lên qua từng năm nhưng

con số đó vẫn còn hạn chế, lý do ở đây là lực lượng cán bộ của Cục Quản lý đăng

ký kinh doanh vẫn thiếu, nguồn kinh phí cấp cho công tác tổ chức còn eo hẹp, vì

vậy các cuộc hội thảo, khóa tập huấn mới chỉ được tổ chức tại các tỉnh, thành phố

lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh…

2.3.3 Công tác tổ chức xây dựng, quản lý hệ thống thông tin phục vụ đăng ký

doanh nghiệp

Quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp liên quan trực tiếp và đồng

thời đến chức năng của nhiều cơ quan khác nhau. Để thực hiện tốt công tác quản lý

nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp, việc xây dựng và thực hiện cơ chế phối

hợp quản lý hệ thống thông tin giữa các cơ quan chức năng cấp Trung ương và

UBND cấp tỉnh, thành phố là rất quan trọng.

Từ năm 2011 trở lại đây, để chuẩn hóa chất lượng dữ liệu về doanh nghiệp

trên hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh

doanh đã tập trung thực hiện việc chuẩn hóa dữ liệu về doanh nghiệp (tình trạng

hoạt động; mã ngành, nghề kinh doanh; số điện thoại; địa chỉ trụ sở chính…).

47

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Bảng 6. Số lượng tỉnh, thành phố đã được chuẩn hóa dữ liệu

giai đoạn 2011 - 2013

Đơn vị: Tỉnh, thành phố

2011 2012 2013

Nội dung

Số lượng Tỷ trọng (%) Số lượng Tỷ trọng (%) Số lượng Tỷ trọng (%)

3 3/63 17 17/63 36 36/63 Địa phương được chuẩn hóa dữ liệu

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Qua bảng 6, có thể thấy mặc dù số lượng địa phương được chuẩn hóa dữ liệu

tăng lên qua từng năm nhưng tỷ trọng vẫn chưa cao, sở dĩ đến năm 2013 mà số

lượng địa phương được chuẩn hóa dữ liệu chiếm tỷ trọng hơn 50% trên cả nước là

do số lượng cán bộ thực hiện công tác hướng dẫn địa phương chuẩn hóa của Cục

Quản lý đăng ký kinh doanh còn thiếu, kinh phí thực hiện còn rất hạn chế.

Về cơ bản, quy chế phối hợp quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

của các địa phương thường tập trung vào một số nội dung chủ yếu như: xác lập cơ

chế phối hợp kiểm tra, báo cáo của Ủy ban nhân dân các quận - huyện với các Sở,

ngành chức năng; thiết lập cơ chế trao đổi thông tin giữa Sở Kế hoạch và Đầu tư,

Cục Thuế và các cơ quan chức năng; xác lập cơ chế phối hợp để thanh tra, kiểm tra

doanh nghiệp theo hướng tránh chồng chéo, gây phiền hà cho doanh nghiệp…

48

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Hình 6. Các cơ quan tham gia quản lý nhà nước đối với

đăng ký doanh nghiệp

2.3.4 Công tác kết nối hệ thống thông tin về đăng ký doanh nghiệp và hệ thống

thông tin thuế

Để nâng cao hiệu quả phối hợp quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, từ

năm 2006, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính phối hợp để

triển khai chủ trương hợp nhất mã số đăng ký thuế và mã số đăng ký kinh doanh

thành một mã số duy nhất (gọi là mã số doanh nghiệp) nhằm trao đổi thông tin giữa

hai ngành thuế và đăng ký kinh doanh hướng tới mục tiêu xây dựng một cơ sở dữ

liệu quốc gia lưu trữ thông tin về các doanh nghiệp đã đăng ký thành lập.

Thực hiện nhiệm vụ này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính đã ban hành

Thông tư liên tịch hướng dẫn việc thiết lập cơ chế “một cửa liên thông” để trao đổi

thông tin đăng ký doanh nghiệp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh và Cục

49

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Thuế. Ban đầu, việc trao đổi thông tin mang tính thủ công đã được tiến hành vào

đầu năm 2007, tạo tiền đề cho giai đoạn tin học hóa sau này.

Trên cơ sở thành công bước đầu của việc phối hợp trao đổi thông tin, đồng

thời thực hiện Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP của Chính phủ về việc hợp nhất mã số

đăng ký kinh doanh và mã số thuế, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký kinh

doanh, từ tháng 12/2008 đến 31/12/2010, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với

Phòng Đăng ký kinh doanh của 63 tỉnh, thành phố tiến hành nghiên cứu, xây dựng

12 phần mềm chuyển đổi dữ liệu và thực hiện việc chuyển đổi thủ công (đối với các

địa phương không có dữ liệu điện tử) toàn bộ dữ liệu đăng ký kinh doanh đang lưu

trữ riêng lẻ tại địa phương sang một tiêu chuẩn thống nhất để chuyển vào cơ sở dữ

liệu quốc gia.

Toàn bộ dữ liệu về đăng ký kinh doanh sau khi được chuyển đổi, đã được đối

chiếu, cập nhật mã số thuế theo đúng quy trình quy định tại Nghị định 43/2010/NĐ-

CP trước khi tải vào hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia. Tính đến

hết 31/12/2010, đã có 569.000 thông tin về doanh nghiệp được tải vào hệ thống, bao

gồm thông tin của 470.276 doanh nghiệp và 98.387 đơn vị phụ thuộc.

Từ ngày 01/01/2011, việc trao đổi, khớp nối thông tin đăng ký kinh doanh và

đăng ký thuế đã được tiến hành liên tục, tự động cả ở cấp Trung ương (giữa Cục

Quản lý đăng ký kinh doanh thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tổng cục Thuế) và ở

cấp địa phương (giữa Sở Kế hoạch và Đầu tư và Cục Thuế); nghiệp vụ cấp đăng ký

thành lập và giải thể doanh nghiệp được thực hiện hoàn toàn trên Hệ thống thông tin

đăng ký doanh nghiệp quốc gia và được lưu trữ tự động, theo thời gian thực vào Cơ

sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (tại Cục Quản lý đăng ký kinh doanh).

Do vậy, đối với các doanh nghiệp được thành lập từ năm 2011 trở đi, dữ liệu lưu trữ

tại cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế là hoàn toàn trùng khớp.

Nhờ vậy, bên cạnh việc có thông tin phục vụ công tác quản lý, hoạch định

chính sách, việc hợp nhất mã số doanh nghiệp và khớp nối thông tin đăng ký kinh

doanh - đăng ký thuế đã có tác động làm giảm mạnh số lượng hành vi vi phạm của

doanh nghiệp đã từng rất phổ biến như: chuyển trụ sở chính, tạm ngừng hoạt

50

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

động… nhưng không đăng ký hoặc thông báo với cơ quan quản lý nhà nước; doanh

nghiệp còn hoạt động nhưng không thực hiện nghĩa vụ thuế...Ngoài ra, theo thống

kê cho thấy, kể từ khi việc cấp đăng ký doanh nghiệp được liên thông giữa hệ thống

đăng ký kinh doanh và hệ thống thuế tỷ lệ trả kết quả cho giao dịch đăng ký mới

ngày càng được cải thiện.

Bảng 7. Tỷ lệ trả kết quả đúng hạn cho giao dịch đăng ký thành lập

doanh nghiệp

Đơn vị :%

Quá hạn STT Năm Trong ngày Sau 1 ngày Sau 2 ngày ( >2 ngày)

18,23 1 2011 38,77 28,78 14,22

17,27 2 2012 40,9 28,33 13,5

15,46 3 2013 27,51 11,6 45,43 Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại tỷ lệ trả kết quả quá hạn trong việc cấp mã số

doanh nghiệp cho doanh nghiệp thành lập mới là do hệ thống đăng ký doanh nghiệp

của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và hệ thống của Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính chưa

hoàn toàn đồng nhất dẫn đến việc khớp nối cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh

nghiệp và cơ sở dữ liệu của Tổng cục Thuế còn bị lỗi.

Ngoài ra, việc trả kết quả quá hạn còn xuất phát từ phía cơ quan đăng ký

kinh doanh cấp tỉnh, nơi cấp mã số doanh nghiệp cho doanh nghiệp. Lực lượng cán

bộ của một số Phòng đăng ký kinh doanh ở các tỉnh, thành phố lớn còn thiếu so với

khối lượng công việc được giao, ở một số vùng sâu vùng xa còn hạn chế về trình

độ, cơ sở vật chất. Và một nguyên nhân nữa không thể không nói đến là sự tắc trách

của một số cán bộ tại Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh, thiếu trách nhiệm và cố

tình gây phiền hà cho doanh nghiệp.

2.3.5 Công tác tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

Cơ quan đăng ký kinh doanh được tổ chức ở ba cấp, bao gồm: Cấp Trung

ương; cấp tỉnh và cấp huyện.

51

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp Trung ương

Cấp Trung ương ở đây là Cục Quản lý đăng ký kinh doanh thuộc Bộ Kế

hoạch và Đầu tư. Cục Quản lý đăng ký kinh doanh hiện nay có 06 đơn vị trực thuộc

là Phòng Tổng hợp chính sách và Hợp tác quốc tế; Phòng Nghiệp vụ đăng ký kinh

doanh; Phòng Giám sát Nghiệp vụ đăng ký kinh doanh; Phòng Thông tin và Cơ sở

dữ liệu; Văn phòng; Trung tâm Hỗ trợ nghiệp vụ đăng ký kinh doanh.

Phòng Tổng hợp chính sách và Hợp tác quốc tế có nhiệm vụ tham mưu, giúp

Lãnh đạo Cục trong công tác kế hoạch, tổng hợp, xây dựng chính sách chung về

đăng ký kinh doanh và các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đăng ký kinh

doanh: (i) Chủ trì hoặc tham gia xây dựng các chính sách, chương trình, đề án về

môi trường kinh doanh có điều kiện, cải cách thủ tục hành chính; tổng hợp các báo

cáo chung hàng quý, sáu tháng và hàng năm liên quan đến công tác đăng ký kinh

doanh trên phạm vi toàn quốc; (ii) Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác của

Cục; theo dõi đôn đốc, tổng hợp tình hình thực hiện các kế hoạch, chương trình

công tác của Cục; (iii) Chủ trì, tổng hợp các ý kiến góp ý về chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch phát triển kinh tế xã hội liên quan đến lĩnh vực quản lý của Cục; phối hợp

với các đơn vị xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm về đăng ký kinh doanh; (iiii)

Chủ trì thực hiện các nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ

của Cục; theo dõi việc sử dụng các nguồn lực hỗ trợ kỹ thuật, các dự án, chương

trình do nước ngoài tài trợ.

Phòng Nghiệp vụ đăng ký kinh doanh có nhiệm vụ tham mưu, giúp Lãnh đạo

Cục trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nghiệp vụ, quy trình đăng

ký kinh doanh: (i) Chủ trì hoặc tham gia xây dựng, soạn thảo cơ chế, chính sách và

các văn bản quy phạm pháp luật về đăng ký kinh doanh trình cấp có thẩm quyền

ban hành; (ii) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị chức năng trong việc xây dựng, soạn

thảo các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ, biểu mẫu phục vụ

công tác đăng ký kinh doanh; (iii) Phối hợp với các đơn vị chức năng trong việc xây

dựng Hệ thống thông tin về đăng ký doanh nghiệp trong phạm vi cả nước; đề xuất

52

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

các cơ chế, chính sách quản lý nhà nước về môi trường kinh doanh; cải cách thủ tục

hành chính;

Phòng Giám sát nghiệp vụ đăng ký kinh doanh có nhiệm vụ tham mưu, giúp

Lãnh đạo Cục thực hiện công tác kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định pháp

luật về đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp và của các cơ quan đăng ký kinh

doanh cấp tỉnh, cấp huyện: (i) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị chức năng trong việc

xây dựng cơ chế, đề án, chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý

doanh nghiệp sau đăng ký thành lập; (ii) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị chức năng

trong việc xây dựng, soạn thảo các văn bản hướng dẫn về hệ thống báo cáo của

doanh nghiệp và của cơ quan đăng ký kinh doanh các cấp về việc tuân thủ các quy

định pháp luật sau đăng ký thành lập; (iii) Xây dựng kế hoạch và phối hợp tổ chức

thực hiện việc theo dõi, kiểm tra, giám sát các cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh,

cấp huyện trong việc tuân thủ các quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh; (iiii)

Đầu mối theo dõi và xử lý khiếu nại, tố cáo về đăng ký kinh doanh theo thẩm

quyền; báo cáo tình hình xử lý khiếu nại, tố cáo về đăng ký kinh doanh; (iiiii) Xây

dựng và phối hợp tổ chức thực hiện các kế hoạch kiểm tra doanh nghiệp trong việc

thực hiện các quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh.

Phòng Thông tin và Cơ sở dữ liệu có nhiệm vụ tham mưu, giúp Lãnh đạo

Cục thực hiện việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh

nghiệp: (i) Chủ trì hướng dẫn cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh thực hiện việc

xây dựng và hoàn thiện dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh

nghiệp; (ii) Tổng hợp, theo dõi tình hình thực hiện đăng ký kinh doanh trên phạm vi

cả nước; (iii) Tổ chức và thực hiện công tác thống kê, báo cáo và phân tích dự báo

về đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh; chủ trì xây dựng các báo cáo hàng tuần,

hàng tháng về công tác đăng ký kinh doanh; (iiii) Phối hợp xây dựng, triển khai

thực hiện các kế hoạch phát triển Hệ thống Thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc

gia và ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh; (iiiii) Làm

đầu mối phối hợp với Tổng cục Thuế, Tổng cục Thống kê và các cơ quan liên quan

khác trong việc kết nối và trao đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp.

53

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Văn phòng có nhiệm vụ tham mưu, giúp Lãnh đạo Cục trong công tác tổ

chức cán bộ; hành chính - văn thư - lưu trữ, công tác quản lý tài chính, tài sản; công

tác quản trị và lễ tân.

Trung tâm Hỗ trợ nghiệp vụ đăng ký kinh doanh có nhiệm vụ hỗ trợ đăng ký

doanh nghiệp cho các tổ chức, cá nhân trên phạm vi cả nước: (i) Thực hiện việc hỗ

trợ nghiệp vụ đăng ký doanh nghiệp, đào tạo pháp luật về doanh nghiệp, môi trường

kinh doanh cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu; (ii) Vận hành và phát triển các ứng

dụng Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia; (iii) Cung cấp dịch vụ

đăng bố cáo thông tin về đăng ký doanh nghiệp, giải thể, phá sản của doanh nghiệp

trên toàn quốc trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia; phát hành ấn

phẩm thông tin đăng ký doanh nghiệp; cung cấp dịch vụ thông tin về đăng ký doanh

nghiệp cho các tổ chức, cá nhân có yêu cầu; (iiii) Đào tạo, tập huấn nghiệp vụ cho

các cán bộ làm công tác đăng ký kinh doanh, pháp luật về doanh nghiệp và đăng ký

kinh doanh trên phạm vi cả nước.

Mỗi đơn vị thuộc Cục đều có Trưởng đơn vị, Trưởng đơn vị phụ trách chung

công việc của đơn vị và chịu trách nhiệm trước Phó Cục trưởng phụ trách. Các Phó

Cục trưởng chịu trách nhiệm trước Cục trưởng về lĩnh vực công tác được phân

công. Riêng Trung tâm Hỗ trợ nghiệp vụ đăng ký kinh doanh có người đứng đầu,

chịu trách nhiệm về lĩnh vực công tác thuộc chức năng nhiệm vụ của đơn vị trước

Cục trưởng là Giám đốc Trung tâm.

Trong thời gian qua, các đơn vị thuộc Cục luôn tích cực phối hợp với nhau

trong công tác chuyên môn để hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh

Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh ở đây là phòng đăng ký kinh doanh ở

cấp tỉnh.

Phòng đăng ký kinh doanh ở cấp tỉnh được thành lập trên cơ sở sắp xếp lại

cơ cấu tổ chức, đổi tên, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của các phòng đang thực

hiện nhiệm vụ đăng ký kinh doanh tại Sở Kế hoạch và Đầu tư.

54

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Phòng đăng ký kinh doanh trong Sở

kế hoạch và Đầu tư theo quy định tại Điều 4, Nghị định số 02/2000/NĐ-CP [1].

Đồng thời, tiếp nhận, thụ lý hồ sơ đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước,

hồ sơ đăng ký kinh doanh của hợp tác xã quy định tại Điều 18, Luật hợp tác xã và

thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Sở kế hoạch và Đầu tư giao [1].

Việc đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh

nghiệp sử dụng con dấu của Phòng đăng ký kinh doanh.

Trưởng phòng đăng ký kinh doanh chịu trách nhiệm trước pháp luật trong

việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Phòng.

Trưởng phòng đăng ký kinh doanh có thể do Giám đốc hoặc Phó Giám đốc

Sở kế hoạch và Đầu tư kiêm nhiệm.

Biên chế của Phòng đăng ký kinh doanh ở từng địa phương do Chủ tịch Uỷ

ban Nhân dân tỉnh quyết định trong tổng số biên chế quản lý Nhà nước giao cho

tỉnh, được xác định trên cơ sở khối lượng công tác đăng ký kinh doanh của các loại

hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trên địa bàn và các nhiệm vụ khác

được giao.

Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện

Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện ở đây là Phòng đăng ký kinh doanh ở

cấp huyện.

Tuỳ tình hình số lượng hộ kinh doanh cá thể và hợp tác xã trên địa bàn, Chủ

tịch Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập phòng đăng ký kinh doanh

riêng, hoặc giao nhiệm vụ đăng ký kinh doanh cho một phòng chuyên môn đã có

thuộc Uỷ ban Nhân dân cấp huyện (Phòng kế hoạch và Đầu tư hoặc Phòng Tài

chính - Kế hoạch). Việc thành lập Phòng đăng ký kinh doanh riêng chỉ áp dụng đối

với các cấp huyện có số lượng lớn hộ kinh doanh riêng chỉ áp dụng đối với cấp

huyện có số lượng lớn hộ kinh doanh cá thể và hợp tác xã, trên cơ sở sắp xếp lại số

cán bộ đang làm nhiệm vụ đăng ký kinh doanh thuộc các Phòng chuyên môn của

Uỷ ban Nhân dân cấp huyện.

55

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Phòng đăng ký kinh doanh hoặc

Phòng làm nhiệm vụ đăng ký kinh doanh ở cấp huyện theo quy định tại Điều 5,

Nghị định số 02/2000/NĐ-CP [1].

Việc đăng ký kinh doanh đối với hộ kinh doanh cá thể có thể sử dụng con

dấu của Uỷ ban Nhân dân cấp huyện hoặc dấu của Phòng đăng ký kinh doanh theo

quyết định của Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Biên chế của Phòng đăng ký kinh doanh hoặc bộ phận làm nhiệm vụ đăng ký

kinh doanh do Uỷ ban Nhân dân cấp huyện quyết định trong tổng biên chế quản lý

Nhà nước của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giao cho Uỷ ban Nhân dân cấp

huyện, được xác định trên cơ sở khối lượng đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh

cá thể và hợp tác xã trên địa bàn.

Nhìn chung, cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước đối đăng ký doanh nghiệp đã

được tổ chức thành hệ thống thống nhất trên phạm vi cả nước, tạo tiền đề tốt để tăng

cường hiệu quả quản lý của nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp.

2.3.6 Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm về đăng ký doanh nghiệp

Công tác kiểm tra, giám sát doanh nghiệp vẫn được thực hiện chủ yếu dựa

vào phương thức kiểm tra ngẫu nhiên, thiếu hẳn căn cứ, thông tin về doanh nghiệp

vi phạm pháp luật. Qua báo cáo của 45 tỉnh, thành phố có thể thấy hành vi vi phạm

của doanh nghiệp tập trung vào các nhóm sau:

Nhóm thứ nhất, các hành vi phạm các quy định về đăng ký kinh doanh. Các

hành vi vi phạm quy định chung đối với doanh nghiệp như: không đăng bố cáo

thành lập, không gắn biển tên, không lưu giữ tài liệu, sổ sách đúng quy định, tạm

ngừng kinh doanh không thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh… Có nơi, như

thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan nhà nước đến kiểm tra nơi doanh nghiệp đăng ký

trụ sở chính nhưng chỉ có biển tên, các hoạt động sản xuất-kinh doanh của doanh

nghiệp không diễn ra tại trụ sở chính. Thậm chí, một căn phòng được đăng ký là trụ

sở chính của nhiều doanh nghiệp. Các hành vi vi phạm này tuy không trực tiếp để

lại hậu quả lớn, nhưng gây ra tình trạng nhiễu loạn thông tin, gây khó khăn cho các

cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý doanh nghiệp.

56

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Ngược lại, vi phạm các quy định về quản trị nội bộ doanh nghiệp thường dẫn

đến nhiều tranh chấp nội bộ của doanh nghiệp, thường gây ra nhiều tác hại đối với

hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các chủ sở hữu doanh nghiệp

khiếu kiện lẫn nhau, doanh nghiệp không còn khả năng tập trung vào hoạt động

kinh doanh.

Bên cạnh các tác động tiêu cực đối với doanh nghiệp, tranh chấp nội bộ còn

làm tăng khối lượng lớn công việc cho các cơ quan quản lý nhà nước. Các hành vi

vi phạm phổ biến là: tổ chức họp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Đại hội

cổ đông không đúng trình tự, thủ tục; chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp trái

quy định, cam kết; lưu giữ các tài liệu của doanh nghiệp không đúng với quy định

của luật… Tranh chấp nội bộ doanh nghiệp thường liên quan đến 2 cơ quan quản lý

nhà nước là Cơ quan đăng ký kinh doanh và Tòa án nhân dân.

Theo quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP thì “Cơ quan đăng ký kinh

doanh chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp” và “Cơ

quan đăng ký kinh doanh không giải quyết tranh chấp giữa các thành viên, cổ đông

của công ty với nhau hoặc với tổ chức, cá nhân khác trong quá trình hoạt động”.

Tuy vậy, trong thực tế, đa phần trong các trường hợp có tranh chấp, Cơ quan đăng

ký kinh doanh đều rất dè dặt chờ ý kiến của cơ quan quản lý Trung ương hoặc ý

kiến của Tòa án. Cơ quan giải quyết tranh chấp nội bộ doanh nghiệp là Tòa án cũng

luôn trong tình trạng quá tải. Nhiều vụ tranh chấp kéo dài hàng năm không giải

quyết được, gây khó khăn cho cơ quan đăng ký kinh doanh trong thực hiện đăng ký

thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp.

Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có nhiều hành vi vi phạm quy định về đăng ký

kinh doanh như: giả mạo hồ sơ đăng ký kinh doanh, kê khai không trung thực,

không chính xác, không đăng ký hoặc đăng ký kịp thời nội dung thay đổi đăng ký

kinh doanh, không thông báo tạm ngừng kinh doanh... Trong thời gian qua, do có

nhiều cải tiến trong quy định về hồ sơ đăng ký kinh doanh theo hướng đơn giản,

gọn nhẹ, người khai tự chịu trách nhiệm nên vi phạm quy định đăng ký kinh doanh

ít hơn các vi phạm khác.

57

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Việc đánh giá hành vi vi phạm trong đăng ký kinh doanh của các cơ quan

nhà nước đôi khi chưa đúng. Nhiều doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả nên

đã chấm dứt hoạt động. Tuy nhiên, do quy định của pháp luật không chặt chẽ, thiếu

chế tài nên nhiều doanh nghiệp chấm dứt sản xuất-kinh doanh nhưng không tiến

hành thủ tục giải thể, nhiều địa phương, nhiều ngành gán cho cái tên là “doanh

nghiệp ma” hay “doanh nghiệp bỏ trốn”. Nhiều địa phương như Hải Phòng, thành

phố Hồ Chí Minh… xảy ra tình trạng người dân do tham, thiếu hiểu biết pháp luật

bị kẻ gian lừa đảo, thuê thành lập doanh nghiệp rồi thực hiện các hành vi vi phạm

pháp luật. Nhiều nơi cho hành vi lừa đảo này là giả mạo hồ sơ đăng ký doanh

nghiệp, yêu cầu cơ quan đăng ký kinh doanh phải thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký

doanh nghiệp.

Nhóm thứ hai là nhóm hành vi vi phạm các quy định đối với kinh doanh các

ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Các điều kiện cụ thể về việc kinh doanh

ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thường được quy định ở các văn bản luật

chuyên ngành như Luật Chứng khoán, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Các tổ

chức tín dụng, Luật Khám, chữa bệnh, Luật Kinh doanh bảo hiểm…Đây là các lĩnh

vực có ảnh hưởng lớn đến trật tự xã hội, đến tính mạng của khách hàng, có tác động

lớn trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề

kinh doanh có điều kiện chưa có ý thức tuân thủ pháp luật.

Giữa năm 2010, Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh tiến hành điều tra 3796 cơ

sở hành nghề y, dược thì có tới 816 cơ sở vi phạm, chiếm trên 20%. Mới đây, từ

ngày 4/8/2010 đến 14/1/2011, các đoàn thanh tra liên ngành đã kiểm tra 128 sàn

giao dịch bất động sản thì có gần một nửa là vi phạm quy định của Luật Kinh doanh

bất động sản với các vi phạm như: bán bất động sản chưa đủ điều kiện, bán bất động

sản không qua sàn giao dịch, khai khống vốn chủ sở hữu…

Trong số các doanh nghiệp vi phạm có tên các doanh nghiệp lớn, có tiếng

trong lĩnh vực bất động sản như Tập đoàn phát triển nhà và đô thị HUD, Công ty

CP Đầu tư An Lạc, Công ty CP Thương mại và Đầu tư Toàn Cầu… Điều đó cho

thấy, ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp chưa cao.

58

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Bên cạnh đó, nhận thức đối với quản lý nhà nước trong các lĩnh vực này

cũng còn hạn chế. Cơ quan quản lý nhà nước quản lý hoạt động kinh doanh các lĩnh

vực này thường là các cơ quan chuyên ngành. Song, do nhận thức chưa cao, nhiều

cơ quan cả ở cấp địa phương và trung ương đều “đổ lỗi” cho cơ quan đăng ký kinh

doanh khi doanh nghiệp vi phạm. Ở nhóm này, các hành vi vi phạm phổ biến của

doanh nghiệp là không có chứng chỉ hành nghề hoặc thuê, mượn chứng chỉ hành

nghề, không duy trì mức vốn pháp định, cơ sở vật chất không đảm bảo…

Nhóm thứ ba là các vi phạm quy định pháp luật khác như: trốn thuế, gây ô

nhiễm môi trường, không đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, không đáp ứng đủ

các yêu cầu về an toàn lao động, vi phạm về chất lượng sản phẩm, vi phạm về sở

hữu trí tuệ, vi phạm trong cạnh tranh… 45/45 UBND tỉnh, thành phố có báo cáo

cho rằng trốn thuế, nợ thuế, mua bán hóa đơn trái phép và các vi phạm khác về thuế

là phổ biến ở địa phương.

Hầu hết các tỉnh, thành phố có báo cáo cũng cho rằng việc cơ quan thuế

không có được thông tin chính xác về doanh nghiệp gây rất nhiều khó khăn cho

công tác thu thuế, xử lý hành vi vi phạm quy định về thuế tại địa phương. Bên cạnh

đó, việc vi phạm các quy định về lao động, bảo hiểm cho người lao động cũng là

một trong các hành vi mà doanh nghiệp hay mắc phải. Nhiều doanh nghiệp có hành

vi tăng ca vượt quá quy định, ngược đãi, thậm chí đánh đập, đe dọa đến sức khỏe,

an toàn của người lao động dẫn tới nhiều vụ đình công.

Như vậy, có thể thấy hành vi vi phạm của doanh nghiệp là hết sức đa dạng.

Mặt khác, ngoài chủ thể quản lý là nhà nước, doanh nghiệp còn chịu sự quản lý của

nhiều đối tượng bao gồm: người góp vốn thành lập doanh nghiệp, đối tác của doanh

nghiệp, đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp mà doanh

nghiệp tham gia với tư cách là hội viên, các tổ chức xã hội…

Trong các chủ thể tham gia quản lý doanh nghiệp, chỉ có cơ quan quản lý

nhà nước mới có thể dùng quyền lực nhà nước để xử phạt doanh nghiệp khi doanh

nghiệp vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp

cũng ảnh hưởng tới các chủ thể quản lý doanh nghiệp nêu trên và các chủ thể này

59

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

cũng sẵn sàng tham gia vào quá trình quản lý doanh nghiệp, phát hiện sai phạm của

doanh nghiệp và thông tin cho cơ quan chức năng.

Kinh nghiệm về quản lý ở nhiều nước phát triển cho thấy, công khai thông

tin về doanh nghiệp là cơ sở để các chủ thể tham gia quản lý doanh nghiệp cung cấp

thông tin vi phạm pháp luật của doanh nghiệp cho cơ quan quản lý nhà nước.

2.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước đối với đăng

ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư

2.4.1 Phân tích các yếu tố bên trong Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Hệ thống các văn bản pháp luật và các quy định liên quan đến đăng ký

doanh nghiệp

Bên cạnh sự tiến bộ đã nêu trên của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư,

khung pháp lý về chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp còn bộc lộ nhiều hạn chế, đặc

biệt là Luật Phá sản thiếu tính khả thi. Đến nay, trên toàn quốc còn tồn tại khoảng

85.000 doanh nghiệp không còn hoạt động song chưa tiến hành các thủ tục giải thể

doanh nghiệp. Nguyên nhân chính của tình trạng này là hệ thống quy định về giải

thể, phá sản doanh nghiệp còn nhiều điểm bất hợp lý, đặc biệt là thủ tục phá sản

doanh nghiệp. Do vậy, doanh nghiệp ngại hoặc muốn tuân thủ theo đúng quy định

cũng rất khó. Dẫn tới, có doanh nghiệp bản thân đã lâm vào tình trạng phá sản

nhưng không muốn tự làm đơn yêu cầu tòa án tiến hành thủ tục "chôn cất".

Theo quy định của Luật Phá sản 2004, các doanh nghiệp xin phá sản phải lập

hội nghị chủ nợ để trình phương án khắc phục và hội nghị này phải ra nghị quyết.

Nghị quyết của hội nghị chủ nợ sẽ là căn cứ để thẩm phán ra quyết định thanh lý tài

sản. Tuy nhiên, trên thực tế các doanh nghiệp thường không lập hội nghị chủ nợ

khiến thẩm phán không có căn cứ để ra phán quyết thanh lý tài sản.

Ngay cả khi có thể ra phán quyết thanh lý tài sản, thẩm phán cũng khó ra

quyết định phá sản bởi vì cũng theo quy định của Luật này, Tổ quản lý và thanh lý

tài sản cùng với thẩm phán phải có kết luận là doanh nghiệp đã hết tài sản cũng như

quyền sở hữu tài sản đó trước khi ra quyết định phá sản mà điều này không dễ thực

hiện trong thực tế.

60

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Với những vướng mắc như vậy, tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện thủ tục phá sản

rất thấp, số vụ phá sản được tòa án giải quyết còn thấp hơn nhiều. Ví dụ, tại thành

phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân thành phố đến nay mới chỉ thụ lý khoảng 22 vụ

yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của Luật Phá sản 2004, đã giải quyết

xong 2 vụ, 20 vụ còn lại vẫn đang trong quá trình xem xét.

Về việc cưỡng chế giải thể doanh nghiệp do không còn hoạt động hoặc vi

phạm pháp luật, hiện cũng tồn tại nhiều bất cập, cụ thể như sau:

Tại khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp và Điều 60 Nghị định số

43/2010/NĐ-CP chỉ quy định 08 trường hợp doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng

nhận đăng ký kinh doanh và không quy định Chính phủ được bổ sung việc thu hồi

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với các trường hợp vi phạm khác của

doanh nghiệp.

Tuy nhiên, hiện nay một số Nghị định quy định thêm trường hợp thu hồi

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh như Nghị định số 52/2008/NĐ-CP ngày

22/04/2008 của Chính phủ về quản lý kinh doanh dịch vụ bảo vệ, Nghị định số

117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong

lĩnh vực bảo vệ môi trường, đồng thời không quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục đã gây

khó khăn cho việc thực hiện. Ngoài ra, hiện nay cũng chưa có quy định về biện

pháp xử lý đối với những doanh nghiệp và cá nhân có liên quan không tiến hành

giải thể doanh nghiệp khi bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Về tạm ngừng kinh doanh (theo quy định tại Khoản 2 Điều 156 Luật Doanh

nghiệp): cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền

yêu cầu doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện

khi phát hiện doanh nghiệp không có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Tuy

nhiên, tại các văn bản xử lý vi phạm pháp luật hiện hành lại chưa quy định biện

pháp chế tài đối với trường hợp doanh nghiệp đã bị cơ quan có thẩm quyền yêu cầu

tạm ngừng kinh doanh nhưng vẫn tiếp tục hoạt động kinh doanh, do vậy đã gây khó

khăn cho việc thực hiện biện pháp chế tài.

61

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Tại điểm a Khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp quy định doanh nghiệp bị

thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và bị xóa tên trong sổ đăng ký kinh

doanh khi nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký kinh doanh là giả mạo. Tuy nhiên

việc xác định nội dung kê khai là giả mạo lại rất khó khăn vì chưa có văn bản pháp

lý quy định cụ thể thế nào là giả mạo và việc xác định trường hợp nào là giả mạo.

Trong thực tế, nhiều trường hợp vi phạm như: kê khai đăng ký địa chỉ trụ sở

chính không thuộc quyền sử dụng hợp pháp của doanh nghiệp; kê khai khống vốn

đăng ký; giả chữ ký của thành viên, cổ đông; sử dụng chứng chỉ hành nghề để đăng

ký doanh nghiệp mà chưa được sự đồng ý của người đứng tên chứng chỉ hành nghề;

thuê người đứng tên thành lập doanh nghiệp; sử dụng chứng minh thư nhân dân giả

để thành lập doanh nghiệp nhằm mua bán hóa đơn chuộc lợi… Tuy nhiên việc xác

định các hành vi trên có phải là giả mạo hay không thì lại gặp rất nhiều khó khăn cả

từ khía cạnh pháp lý lẫn công cụ, phương pháp phát hiện hành vi giả mạo.

Doanh nghiệp không hoạt động tại trụ sở đăng ký trong thời hạn sáu tháng

liên tục, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc chứng

nhận thay đổi trụ sở chính cũng thuộc trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh. Tuy nhiên việc xác định hành vi trên của doanh nghiệp lại rất khó

khăn, không phù hợp với tình hình thực tế hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp nếu không báo cáo về hoạt động sản xuất kinh doanh của

mình với cơ quan đăng ký kinh doanh trong mười hai tháng liên tục cũng nằm trong

diện bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Nhưng việc áp dụng quy định

này cũng không hề dễ dàng do thiếu các quy định về trình tự, thủ tục, nội dung và

thời điểm nộp báo cáo hàng năm của doanh nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh

doanh.

Trong thời gian qua, công tác xây dựng khung pháp luật về ngành, nghề kinh

doanh có điều kiện không ngừng đổi mới. Về cơ bản, các ngành, nghề có khả năng

ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội đã được Nhà nước chú trọng trong quản lý. Các loại

hình điều kiện kinh doanh cũng rất đa dạng, có thể là chứng chỉ hành nghề, giấy

phép hoạt động, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, giấy xác nhận đủ vốn

62

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

pháp định v.v… Trong đó, giấy phép hoạt động là loại hình điều kiện xuất hiện

nhiều nhất, với khoảng hơn 150 loại giấy phép, giấy chứng nhận khoảng hơn 60

loại, chứng chỉ khoảng 25 loại…

Hiện nay, cơ sở pháp lý của các loại Giấy phép cũng rất đa dạng, có thể quy

định trong Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, Quyết định… và do nhiều cơ quan

nhà nước thuộc nhiều cấp ban hành. Tuy nhiên, từ khi ra đời Luật doanh nghiệp

1999 đến Luật Doanh nghiệp 2005 thay thế đều có quy định về các cơ quan có thẩm

quyền ban hành các điều kiện kinh doanh và các loại giấy phép kinh doanh. Như

vậy, một số loại giấy phép đang được cấp với cơ sở pháp lý không hợp pháp, trái

với quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành.

Một số văn bản quy phạm do cấp Bộ ban hành, mặc dù không trực tiếp quy

định việc cấp phép nhưng đưa ra các điều kiện hoạt động kinh doanh không phù

hợp, những quy định không rõ ràng để thiết lập lại cơ chế xin cho. Chẳng hạn, tại

điểm 10 Điều 14 của Quyết định số 17/2007/QĐ-BGTVT ngày 26/03/2007 của Bộ

trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành quy định vận chuyển hành khách bằng taxi

quy định : lái xe taxi được tập huấn chuyên môn nghiệp vụ theo giáo trình thống

nhất do Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam tổ chức và được cấp “Giấy chứng nhận tập

huấn lái xe taxi”. Quy định này không có nhiều ý nghĩa, gây phiền hà cho doanh

nghiệp kinh doanh taxi và góp phần tạo nên cơ chế xin cho.

Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ công chức tại Cục Quản lý đăng ký

kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

đa số là các cán bộ trẻ nhưng đều được đào tạo trình độ chuyên môn nghiệp vụ và

kỹ năng làm việc nên vẫn đảm bảo được khối lượng công việc theo chức năng,

nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, so với khối lượng và tính chất công việc được giao

của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh thì lực lượng cán bộ làm công tác chuyên môn

còn thiếu nên trong quá trình giải quyết công việc còn gặp nhiều khó khăn, các cán

bộ công chức, viên chức trong Cục phải kiêm nhiệm nhiều vị trí, công việc.

63

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Cụ thể, thời điểm tháng 1/2013, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh được Lãnh

đạo Bộ giao là đơn vị chủ trì thực hiện việc soạn thảo Thông tư hướng dẫn về đăng

ký doanh nghiệp, trong đó Phòng Nghiệp vụ đăng ký kinh doanh thuộc Cục Quản lý

đăng ký kinh doanh là đơn vị đầu mối thực hiện. Với số lượng biên chế được giao là

03 cán bộ, Phòng Nghiệp vụ vừa thực hiện xây dựng Dự thảo Thông tư vừa thực

hiện trả lời các vướng mắc liên quan đến nghiệp vụ đăng ký kinh doanh của các đơn

vị trong và ngoài Bộ, do đó không thể đảm bảo các công văn được trả lời đúng hạn.

Thời điểm tháng 6/2013, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh làm Hội thảo xin

ý kiến về việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh trong 3 ngày,

mỗi phòng cần cử ít nhất 01 cán bộ đại diện tham gia, riêng phòng Nghiệp vụ và

phòng Tổng hợp chính sách, mỗi phòng cử 01 lãnh đạo phòng và 01 chuyên viên,

với số lượng cán bộ còn lại ở phòng Nghiệp vụ là 01 người, Phòng Tổng hợp là 02

người như vậy, dẫn đến có nhiều công việc cần giải quyết bị tồn lại sau đợt Hội

thảo.

Ngoài những phòng chuyên môn như phòng Nghiệp vụ, phòng Tổng hợp,

Văn phòng với chức năng hỗ trợ cũng bị hạn chế về số lượng nhân sự, cán bộ làm

công tác văn thư phải kiêm công tác làm báo cáo, cán bộ kế toán kiêm quản

trị…dẫn đến các công việc nhiều lúc còn bị chồng chéo, không được giải quyết kịp

thời.

Hệ thống quản lý thông tin đăng ký doanh nghiệp trong cơ quan quản lý nhà

nước đối với đăng ký doanh nghiệp

Hệ thống quản lý thông tin đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư

trong thời gian qua đã phát huy tốt vai trò là cơ sở lưu trữ thông tin chính thống, có

giá trị pháp lý về tình hình đăng ký doanh nghiệp tại Việt Nam. Những thông tin

này giúp Nhà nước nắm được một cách có hệ thống các thông tin về số lượng doanh

nghiệp, các loại hình doanh nghiệp, về ngành nghề kinh doanh, về số vốn đầu tư, về

tình hình tài chính và tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, biết được

địa bàn nào, ngành nghề nào được đầu tư nhiều, địa bàn nào, ngành nghề nào được

64

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

đầu tư ít...Đây là căn cứ rất cần thiết giúp Nhà nước có thêm cơ sở thực tiễn để đề ra

các chính sách quản lý kinh tế cho phù hợp.

Tuy nhiên, hệ thống quản lý thông tin đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch

và Đầu tư vẫn còn một số tồn tại nhất định. Dữ liệu về tình hình đăng ký doanh

nghiệp được quản lý trên hệ thống vẫn còn thiếu thông tin, thông tin còn có chỗ sai

khác. Công tác kiểm tra, đối chiếu, chuẩn hóa dữ liệu tính đến hết năm 2013 mới

được thực hiện ở 38/63 địa phương. Công tác số hóa tài liệu, tức là chuyển hồ sơ

bản giấy sang bản điện tử mới được thực hiện ở 36/63 địa phương.

Do đó, tỷ lệ thông tin doanh nghiệp cần rà soát và hiệu đính còn lớn so với

tổng số dữ liệu về doanh nghiệp mà hệ thống có được. Bên cạnh đó, công tác trao

đổi, cung cấp thông tin về doanh nghiệp giữa Hệ thống của Cục Quản lý đăng ký

kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính mới được

triển khai nên vẫn còn những vướng mắc trong quá trình nhận và trao đổi dữ liệu.

2.4.2 Phân tích các yếu tố bên ngoài Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan trong lĩnh vực

đăng ký doanh nghiệp

Kể từ khi Thông tư liên tịch số 05/2008/TTLT/BKH-BTC-BCA được ban

hành, việc triển khai thực hiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giải quyết đăng ký

kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu đã tạo tiền lệ tốt về sự phối

hợp giữa các cơ quan chức năng Nhà nước trong việc xử lý các thủ tục hành chính

cho công dân và doanh nghiệp. Trước đây, sự thiếu phối hợp hoặc phối hợp không

đồng bộ giữa các cơ quan hành chính nhà nước nói chung và các cơ quan giải quyết

đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu cho doanh nghiệp nói

riêng đã gây nhiều khó khăn, làm lãng phí về thời gian và tiền bạc của doanh nghiệp

khi gia nhập thị trường. Hiện nay, việc trao đổi thông tin giữa cơ quan đăng ký kinh

doanh và cơ quan thuế đã xóa bỏ được nhiều khâu công việc, thủ tục bất hợp lý,

giảm bớt các giấy tờ cần thiết để rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục gia nhập thị

trường cho doanh nghiệp còn dưới 5 ngày.

65

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Tuy nhiên, sự phối hợp của các cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh và cấp

huyện vẫn còn kém hiệu quả làm cho việc giám sát và quản lý doanh nghiệp theo

nội dung đăng ký kinh doanh trên phạm vi cả nước nói chung và địa phương nói

riêng còn nhiều hạn chế. Hạn chế là do lực lượng cán bộ làm đăng ký doanh nghiệp

ở địa phương còn thiếu, trình độ kiến thức, kinh nghiệm không đồng đều. Ở một số

tỉnh, thành phố lớn, cơ quan đăng ký kinh doanh đã “quá tải”, cán bộ nghiệp vụ

thường phải làm việc thêm ngoài giờ mới có thể hoàn thành công việc được giao.

Đối với Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện, nhìn chung, bộ máy tổ chức chưa

ổn định, phân tán và không chuyên nghiệp.

Nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cần có sự quản lý nhà nước chặt chẽ hơn

Cùng với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, số lượng doanh

nghiệp gia nhập thị trường Việt Nam đã tăng lên một cách nhanh chóng và đa dạng

về loại hình. Tính đến hết Quý III/2013, cả nước đã có 530 ngàn doanh nghiệp và 4

triệu hộ kinh doanh được đăng ký thành lập. Trong các năm tới, trung bình mỗi năm

nước ta sẽ có khoảng 80 ngàn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới. Bên cạnh sự gia

tăng về số lượng, các tình huống pháp lý trong đăng ký kinh doanh cũng xuất hiện

ngày càng nhiều và phức tạp hơn. Điều đó đòi hỏi sự chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ

thường xuyên, quản lý nhà nước đối với đăng ký kinh doanh một cách tập trung,

chặt chẽ hơn nữa từ cơ quan cấpTrung ương.

Năng lực, trình độ phát triển của doanh nghiệp

Như đã nói ở trên, năng lực, trình độ phát triển của doanh nghiệp Việt Nam

đã tăng lên sau 7 năm gia nhập WTO để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội

của đất nước. Nhiều doanh nghiệp đã trụ vững trước những biến động, khó khăn

của nền kinh tế trong nước và những tác động tiêu cực từ khủng hoảng tài chính,

suy thoái của nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ,

với tốc độ gia tăng nhanh chóng trong khi chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện cho sự ra

đời và hoạt động nên vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Một trong những hạn chế lớn

nhất là trình độ hiểu biết luật pháp và ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận

chủ sở hữu và người quản lý chưa cao; một số doanh nghiệp còn làm ăn không

66

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

trung thực, cố tình vi phạm quy định pháp luật; quản trị nội Bộ doanh nghiệp còn

yếu, chưa minh bạch. Tình trạng doanh nghiệp không chú ý tới việc tìm hiểu và

thực hiện pháp luật là phổ biến. Nhiều doanh nghiệp chưa có thói quen sử dụng tư

vấn pháp luật để áp dụng, thi hành pháp luật và phòng, chống rủi ro pháp lý trong

kinh doanh. Có những doanh nghiệp còn lợi dụng sơ hở của pháp luật để thực hiện

hoạt động kinh doanh, đầu tư trục lợi, trốn thuế bất hợp pháp.

Sự phát triển của hệ thống công nghệ - thông tin

Nhờ có sự phát triển của hệ thống công nghệ - thông tin, Hệ thống Thông tin

đăng ký doanh nghiệp quốc gia được chính thức đưa vào vận hành trên phạm vi

toàn quốc từ 01/01/2011 cho phép hơn 600 cán bộ đăng ký kinh doanh tại 63 tỉnh,

thành phố tác nghiệp cùng lúc để thực hiện nghiệp vụ đăng ký doanh nghiệp. Một

trong những ứng dụng lớn nhất của Hệ thống là cho phép thực hiện đăng ký doanh

nghiệp qua mạng điện tử với các hợp phần chữ ký điện tử, thanh toán điện

tử…Ngoài ra, Hệ thống còn có ứng dụng hiệu đính dữ liệu hiện tại và xây dựng

phần mềm tải tài liệu đính kèm phục vụ cho chương trình số hóa thông tin và chuẩn

hóa dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp. Đây là những lợi ích to lớn mà sự phát triển

của hệ thống công nghệ - thông tin mang lại cho công tác quản lý nhà nước đối với

đăng ký doanh nghiệp

Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế là một yêu cầu tất yếu khách quan và vô

cùng cần thiết của Việt Nam trong thời kỳ đất nước đổi mới.Môi trường kinh doanh

thuận lợi thông thoáng chính là nhân tố quan trọng nhất để thu hút các nhà đầu tư

trong nước và quốc tế, mang lại lợi ích to lớn cho quốc gia.Những nỗ lực của các cơ

quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế đã góp

phần không nhỏ vào việc cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam. Theo đánh

giá của Ngân hàng Thế giới tại Báo cáo về môi trường kinh doanh (Doing Business)

năm 2011, tác động của các biện pháp cải cách trong đăng ký kinh doanh đã đưa

Việt Nam tăng lên 14 bậc trong bảng xếp hạng về sự thuận tiện của thủ tục thành

lập doanh nghiệp. Cải thiện về thủ tục thành lập doanh nghiệp đã góp phần quan

67

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

trọng trong việc đưa chỉ số tổng thể về môi trường kinh doanh của nước ta tiến bộ

10 bậc so với năm 2009, đứng thứ 78/183 nước, trên Trung Quốc 01 bậc và đứng

thứ 4 trong số 10 nền kinh tế cải cách nhiều nhất về mức độ thuận lợi của môi

trường kinh doanh 2011.

2.4.3 Các nguyên nhân chính ảnh hưởng chưa tốt đến quản lý nhà nước đối với

đăng ký doanh nghịêp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Về mặt chủ quan, những hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý nhà nước

đối với đăng ký doanh nghiệp xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản sau:

Một là, hệ thống pháp luật liên quan đến đăng ký doanh nghiệp vẫn còn

những điểm bất hợp lý, chồng chéo, thiếu nhất quán.

Hai là, thiếu dữ liệu về doanh nghiệp có chất lượng, có giá trị pháp lý để các

cơ quan nhà nước căn cứ, làm cơ sở cho công tác xây dựng khung pháp lý, ban hành

cơ chế, chính sách quản lý doanh nghiệp, phối hợp trong hoạt động thanh tra, kiểm

tra, xử lý vi phạm, đồng thời, làm cơ sở để các bên thứ ba có liên quan tham gia vào

quá trình giám sát hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Ba là, nguồn lực để thực hiện quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế, chậm đổi

mới, cụ thể là: đội ngũ cán bộ nhà nước còn yếu về trình độ chuyên môn, tính

chuyên nghiệp và phẩm chất đạo đức; cơ sở vật chất, phương tiện, công cụ quản lý

ở các địa phương còn lạc hậu, chưa được đầu tư đúng mức làm giảm năng suất, hiệu

quảphối hợp trao đổi thông tin một cách cập nhật về tình hình đăng ký doanh

nghiệp, làm giảm hiệu lực của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.

68

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Tóm tắt nội dung Chương II

Chương II đã giới thiệu sơ bộ về Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Quản lý đăng

ký kinh doanh để người đọc nắm được chức năng quản lý đăng ký doanh nghiệp của

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cụ thể là của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh.

Đồng thời, Chương II đã phác thảo bức tranh toàn cảnh về thực trạng công

tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Qua

phân tích thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà

nước đối đăng ký doanh nghiệp tại Bộ, Chương II đã đưa ra những nguyên nhân

chính gây ảnh hưởng chưa tốt đến công tác quản lý này. Đây là căn cứ để xây dựng

các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh

nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư ở Chương III.

69

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

CHƯƠNG III - ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP TẠI BỘ KẾ

HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

3.1 Quan điểm quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp ở Việt Nam

3.1.1 Quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp ở Việt

Nam

Đại hội Đảng toàn quốc lần XI vừa qua đã xác định chức năng cơ bản của

Nhà nước trong giai đoạn tới là:

Đổi mới, nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước phù hợp

với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động,

tích cực hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới trên cơ sở tôn trọng và vận dụng đầy

đủ, đúng đắn các quy luật và cơ chế vận hành của kinh tế thị trường;

Vận dụng và phát huy mặt tích cực; hạn chế, ngăn ngừa mặt trái của cơ chế

thị trường; tạo ra những tiền đề để nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ

nghĩa;

Nhà nước tập trung duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng phát triển, tạo

điều kiện để nền kinh tế phát triểnh nhanh, bền vững;

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách kinh tế; đổi mới công tác

xây dựng, thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội;

Nâng cao vai trò của các cơ quan dân cử, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ

chức xã hội - nghề nghiệp và của nhân dân trong phát triển kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa;

Nhà nước tiếp tục hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách tạo điều kiện để

nhân dân và các tổ chức này tham gia có hiệu quả vào quá trình hoạch định, thực thi

và giám sát việc thực hiện luật pháp, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã

hội, ngăn ngừa, khắc phục những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường.

Trên cơ sở chức năng cơ bản của Nhà nước, có thể đề cập đến quan điểm

hoàn thiện quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp như sau:

70

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Một là, thống nhất, đồng bộ và liên thông công tác quản lý nhà nước về đăng

ký doanh nghiệp giữa cấp trung ương và địa phương, giữa quản lý doanh nghiệp

theo ngành và theo lãnh thổ, trong đó chú trọng công tác tăng cường xây dựng và

kết nối trực tuyến cơ sở dữ liệu thông tin có tính pháp lý, chuẩn xác về doanh

nghiệp;

Hai là, đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với dữ liệu đăng ký doanh

nghiệp dần từng bước và đồng bộ với các giải pháp có liên quan như cải cách hành

chính, cải cách luật pháp, đổi mới nguồn nhân lực, cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp

thực hiện cam kết quốc tế… theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh

tranh của nền kinh tế;

Ba là, hoàn thiện bộ máy thực hiện chức năng quản lý nhà nước về dữ liệu

đăng ký doanh nghiệp trên cơ sở kế thừa, nâng cao hiệu quả hoạt động và không

làm gián đoạn hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước;

Bốn là, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Nhà

nước phải song hành với phát huy vai trò kiểm tra giám sát trong nội bộ doanh

nghiệp, kiểm tra giám sát của bạn hàng, đối thủ cạnh tranh, chủ nợ của doanh

nghiệp, kiểm tra, giám sát của người tiêu dùng, của các hiệp hội, kiểm tra giám sát

của xã hội và công luận.

3.1.2 Mục tiêu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về quản lý đăng ký doanh nghiệp ở

Việt Nam

Từ các quan điểm nêu trên, Bộ Kế họach và Đầu tư đưa ra mục tiêu về quản

lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp đến năm 2020 như sau:

Hoàn thiện nghiệp vụ đăng ký kinh doanh theo hướng tạo môi trường kinh

doanh tiên tiến, hiệu quả và minh bạch cho cộng đồng doanh nghịêp, các nhà đầu tư

trong nước và quốc tế khi ra nhập thị trường Việt Nam;

Đưa hệ thống thông tin doanh nghiệp quốc gia ngày càng hoàn thiện trong

tiến trình tin học hoá các thông tin kinh tế - xã hội để sẵn sàng cho một Chính phủ

điện tử trong tương lai gần của Việt Nam;

71

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Thực thi tốt vai trò là một đối tác thứ ba tin cậy để cung cấp các thông tin

pháp lý về đăng ký doanh nghiệp tới các cá nhân và tổ chức có nhu cầu, không chỉ

hạn chế ở thời điểm thành lập, mà còn kéo dài suốt thời gian hoạt động của một

doanh nghiệp.

3.2 Định hướng phát triển về công tác quản lý đăng ký doanh nghiệp của Cục

Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Thứ nhất, tiếp tục triển khai các hoạt động hướng tới việc đưa toàn bộ các

pháp nhân hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế tập trung vào một hệ thống thông

tin duy nhất là Hệ thống Thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, cụ thể là đưa

các loại hình như ngân hàng, tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh

nghiệp khoa học công nghệ, hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,...

thực hiện quy trình đăng ký kinh doanh như các doanh nghiệp thông thường khác.

Thứ hai, tăng cường chuẩn hóa dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp nhằm sớm

cung cấp cho cộng đồng những thông tin chính xác, cập nhật, có giá trị pháp lý về

doanh nghiệp, góp phần minh bạch hóa thị trường và tăng tỷ lệ số hóa hồ sơ đăng

ký doanh nghiệp để từng bước kiện toàn việc tin học hóa nghiệp vụ trên phạm vi cả

nước.

Thứ ba, nâng cao chất lượng công tác đăng ký kinh doanh tại địa phương để

đảm bảo cho người dân và doanh nghiệp có thể tiếp cận được các dịch vụ công một

cách thuận lợi theo hướng triệt để thực hiện nguyên tắc “tiền đăng, hậu kiểm” trong

quản lý doanh nghiệp.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác hợp tác quốc tế và thông tin truyền thông trong

lĩnh vực đăng ký kinh doanh để tiếp tục học hỏi kinh nghiệm tiên tiến của quốc tế

và mở rộng các hình thức trao đổi thông tin hai chiều giữa cơ quan quản lý nhà

nước và cộng đồng.

3.3 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp

Việc cải cách môi trường kinh doanh ở mỗi quốc gia thường là khác nhau.

Dù phải thừa nhận rằng không có một công thức chung cho tất cả các trường hợp

nhưng những kinh nghiệm và bài học thực tiễn ở những đất nước khác nhau bao

72

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

gồm cả những nước phát triển và những nước đang phát triển đều có thể gợi mở

hướng mới cho quy trình cải cách tại các quốc gia khác nơi đang diễn ra công cuộc

cải cách môi trường kinh doanh.

3.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Sau cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997, để thực hiện mục tiêu thu

hút vốn đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh xuất khẩu, giải phóng nền kinh tế trong nước

khỏi các quy định hành chính rườm rà, chính phủ Hàn Quốc tập trung cải cách hệ

thống pháp lý điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng

như việc cấp giấy phép kinh doanh. Bốn lĩnh vực chính được cải cách là: tài chính –

ngân hàng, thị trường lao động, tập đoàn kinh tế và khu vực kinh tế tư nhân. Tổng

thống Hàn quốc đã ra Sắc lệnh bãi bỏ 50% các quy định về điều kiện kinh doanh

khi đó và có hiệu lực đối với mọi cơ quan nhà nước.

Chính phủ Hàn Quốc giao một cơ quan làm đầu mối trong việc ban hành các

nguyên tắc cơ bản về chính sách, xây dựng và thực hiện kế hoạch cải cách hành

chính một cách tổng thể; rà soát, đánh giá toàn bộ quy định, giấy phép đang tồn tại;

nghiên cứu, đánh giá tất cả các quy định, giấy phép mới dự định ban hành; có quyền

phủ quyết hoặc thông qua các quy định mới hoặc duy trì các quy định hiện có do

các cơ quan nhà nước ban hành.

Sự khác biệt lớn của cuộc cải cách từ năm 1998 so với giai đoạn trước là

phương pháp cải cách được thực hiện từ trên xuống. Các cơ quan nhà nước tiến

hành rà soát lại tất cả các quy định, giấy phép và phải chứng minh được tính cần

thiết và hợp lý của từng quy định, giấy phép hiện hành. Hơn nữa, đối với các quy

định và giấy phép mới dự định ban hành thì phải đi kèm “bản phân tích tác động”

nhằm đảm bảo tính khả thi cũng như chất lượng của quy định mới. Việc bãi bỏ các

quy định, giấy phép không cần thiết được tiến hành triệt để cũng như việc ban hành

các quy định, giấy phép mới được kiểm soát chặt chẽ.

Một trong những thành tựu của Giai đoạn cải cách thứ II này là Hàn Quốc đã

xây dựng được mạng lưới hạ tầng thông tin, đã hoàn tất việc kết nối mạng trung

ương - địa phương, thiết lập được hệ thống xử lý công việc hành chính trong nội bộ

73

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

các cơ quan hành chính thông qua mạng điện tử. Việc công khai hoá quá trình xử lý

công việc trên mạng đã tiết kiệm được rất nhiều thời gian, vì người dân có thể nộp

đơn qua mạng 24 giờ/ngày, đồng thời làm cho người dân quan tâm hơn đến hoạt

động của cơ quan nhà nước, hạn chế được những chi phí không cần thiết mà người

dân và doanh nghiệp phải bỏ thêm.

3.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Giai đoạn 1995-1998: Nhiệm vụ chủ yếu của cuộc đổi mới là tách dần quản

lý hành chính nhà nước và quản lý doanh nghiệp, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước;

điều chỉnh chức năng quản lý của bộ máy hành chính nhà nước, nhất là trong quan

hệ với doanh nghiệp. Trọng tâm của cuộc đổi mới là tăng cường sự điều tiết, giám

sát tầm vĩ mô của các cơ quan, ban, ngành, nâng cao khả năng quản lý xã hội của

các cơ quan chức năng, giảm thiểu sự phê duyệt và quản lý trực tiếp đối với các xí

nghiệp và các đoàn thể.

Giai đoạn 1998-2002: Cải cách bộ máy hành chính nhà nước các cấp được

tiến hành trên quy mô lớn, phương thức hoạt động của các đoàn thể, cải cách các cơ

quan lập pháp và tư pháp. Trọng tâm cuộc cải cách lần này là điều chỉnh và xóa bỏ

sự quản lý trực tiếp của các cơ quan chuyên môn, tăng cường khả năng điều khiển,

giám sát tầm vĩ mô của các ban, ngành. Dựa trên nhu cầu thống nhất về quyền lực

để điều chỉnh quyền hạn, phân công rõ ràng chức trách của các cơ quan ban, ngành

và giữa các cơ quan ban, ngành. Trong giai đoạn này toàn Trung Quốc đã giảm 900

trên tổng số 2000 cơ cấu tổ chức ở 4 cấp chính quyền; giảm 50% biên chế bộ máy

hành chính.

Giai đoạn từ cuối 2003 trở đi: Phát huy kết quả các giai đoạn trước, đưa cải

cách đi vào chiều sâu để thực sự thay đổi chức năng của chính quyền theo phương

châm: biến từ chính quyền vô hạn (cái gì cũng làm) sang chính quyền hữu hạn

(quản lý bằng pháp luật, chỉ làm những việc thuộc chức năng đích thực là quản lý

hành chính nhà nước).

74

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

3.3.3 Kinh nghiệm của Singapore

Công cuộc cải cách của Singapore hướng đến mục tiêu cải thiện môi trường

kinh doanh, giảm thiểu chi phí và gánh nặng của các thủ tục hành chính đối với

người dân và doanh nghiệp, phát huy vai trò giám sát doanh nghiệp của người dân

và công luận. Điều này sẽ phát huy tối đa mọi nguồn lực của thị trường, thúc đẩy

doanh nghiệp phát triển, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh và cạnh tranh công

bằng.

Singapore là một kinh nghiệm tốt trong việc phát huy vai trò giám sát của

người tiêu dùng đối với doanh nghiệp. Để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng,

Chính phủ Singapore đã coi trọng việc phát huy vai trò giám sát của người tiêu

dùng đối với doanh nghiệp. Chính phủ Singapore lập ra nhiều tổ chức để thiết lập

hệ thống tiêu chuẩn dịch vụ mà doanh nghiệp cam kết phải áp dụng, tiến hành các

chương trình giáo dục khách hàng rộng rãi, nâng cao nhận thức chung về các tiêu

chuẩn dịch vụ và quyền lợi của người tiêu dùng, tiến hành các cuộc điều tra để thu

thập ý kiến từ người tiêu dùng, thông tin phản hồi về chất lượng dịch vụ đối với

từng doanh nghiệp. Do vậy, các doanh nghiệp luôn chịu sức ép từ các khiếu nại,

phản ánh của khách hàng, các bình luận về chất lượng dịch vụ của công luận… Hơn

nữa, luôn có sự cạnh tranh mạnh mẽ trong cộng đồng doanh nghiệp để chứng tỏ

rằng mình là doanh nghiệp tiếp thu ý kiến phản hồi từ người tiêu dùng và giải quyết

những ý kiến đó một cách nhanh chóng và thỏa đáng nhất. Chính phủ Singapore

còn thiết lập một khung hình phạt để đảm bảo sự tuân thủ từ các doanh nghiệp.

Năm 2004, Chính phủ Singapore triển khai chính sách “Không sai cửa”

nhằm giúp đỡ người tiêu dùng gửi các khiếu nại, tố cáo liên quan đến doanh nghiệp

tới các cơ quan hành chính. Những cơ quan của Chính phủ khi nhận được các khiếu

nại, tố cáo trên thì phải có trách nhiệm giải quyết ngay. Nếu các vấn đề này liên

quan đến nhiều cơ quan, thì cơ quan nhận được các yêu cầu chịu trách nhiệm chủ trì

phối hợp giữa các cơ quan liên quan nhằm đưa ra câu trả lời kịp thời cho người dân.

Thông qua hệ thống Chính phủ điện tử, người dân có thể trực tiếp theo dõi quá trình

xử lý của các cơ quan chính phủ. Chính việc minh bạch hóa thông tin trên đã

75

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

khuyến khích người tiêu dùng và công luận Singapore tích cực tham gia vào quá

trình giám sát doanh nghiệp.

Kết quả đạt được là cộng đồng doanh nghiệp của Singapore phát triển mạnh

mẽ, và là một trong những thị trường có sự minh bạch về thông tin doanh nghiệp

hàng đầu trên thế giới.

3.3.4 Kinh nghiệm của Na Uy

Quy trình cải cách hành chính bắt đầu từ những năm 80 tại Na Uy đã mang

lại nhiều thành tựu quan trọng. Hiện nay, Na Uylà một trong những nước đứng đầu

trong bảng xếp hạng của Doing Business về mức độ dễ dàng trong việc đăng ký

thành lập doanh nghiệp.

Tại Na-Uy, Cục Đăng ký kinh doanh chịu trách nhiệm đăng ký cho tất cả các

doanh nghiệp của Na Uy và doanh nghiệp nước ngoài tại Na Uy. Việc đăng ký

nhằm đảm bảo sự bảo hộ pháp lý đối với tên gọi của doanh nghiệp, địa vị pháp lý

của doanh nghiệp và cung cấp thông tin về tổng quan tài chính của một doanh

nghiệp. Đây cũng là một nguồn quan trọng cung cấp thông tin cho bất cứ ai cần

thông tin chính xác về những đối tượng tham gia vào cộng đồng doanh nghiệp và

ngành nghề ở Na Uy.

Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của Cục Đăng ký kinh doanh Na

Uy là xác định một cách chính xác ai chịu trách nhiệm gì trong một doanh nghiệp.

Các thành viên của ban giám đốc, tổng giám đốc và kiểm toán viên phải ký xác

nhận về những trách nhiệm của mình trong doanh nghiệp. Bất kỳ thay đổi nào về sự

phân công nhiệm vụ trong một doanh nghiệp đều phải được báo cáo kịp thời cho

Cục Đăng ký kinh doanh để tiến hành đăng ký. Nếu sao lãng nghĩa vụ này, doanh

nghiệp sẽ bị yêu cầu phải điều chỉnh. Nhờ đó, Cục Đăng ký kinh doanh luôn có khả

năng cung cấp thông tin cập nhật về người nắm các vị trí khác nhau trong một

doanh nghiệp, những thay đổi về vốn góp, và thông tin về việc doanh nghiệp đã bị

đưa ra tòa án để cưỡng chế giải thể hoặc đang trong quá trình thực hiện các thủ tục

phá sản hay chưa…

76

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Bên cạnh đó, để triệt để quyền và nghĩa vụ của công dân liên quan đến quá

trình đăng ký gia nhập thị trường, pháp luật của Na Uy quy định người thành lập

doanh nghiệp và nhà đầu tư chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi thông tin họ

đăng ký và cơ quan đăng ký thực sự là người thư ký của Nhà nước để ghi lại thông

tin theo quy định của pháp luật. Trường hợp người thành lập doanh nghiệp chưa

hiểu biết hoặc chưa nhận thức rõ các quy định trong hệ thống quy phạm về doanh

nghiệp nói chung và đăng ký kinh doanh nói riêng thì liên hệ với cơ quan tư pháp

hoặc tổ chức tư vấn dịch vụ pháp lý để được giải đáp, chứ không yêu cầu cơ quan

hành chính nhà nước thực hiện việc này như một nghĩa vụ đương nhiên. Nếu doanh

nghiệp yêu cầu cơ quan hành chính nhà nước cung cấp dịch vụ tư vấn thì phải trả

phí tư vấn.

Ngoài ra, yếu tố then chốt mang lại thành công trong cải cách đăng ký kinh

doanh của Na Uy phải kể đến là Cổng thông tin về đăng ký doanh nghiệp

(www.altinn.no). Thông qua cổng thông tin này, doanh nghiệp, nhà đầu tư dễ dàng

nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh qua mạng, nộp các báo cáo cho cơ quan đăng ký kinh

doanh và dễ dàng tra cứu, mua các thông tin về tình trạng pháp lý, báo cáo tài chính

của các doanh nghiệp.Atinn chính là cốt lõi của Chính phủ điện tử Na Uy và được

coi là công cụ giao tiếp quan trọng và chủ yếu giữa Chính phủ và người dân cũng

như cộng đồng doanh nghiệp. Hầu hết thông tin mà Chính phủ cần từ người dân

thông qua việc thực hiện các nghĩa vụ báo cáo đều được thực hiện qua Altinn, đồng

thời người dân cũng có thể khai thác các thông tin hiện đang lưu giữ trong Cơ sở dữ

liệu dùng chung trong Altinn. Altinn là nơi mà các doanh nghiệp và công dân Na

Uy có thể tìm được và sử dụng các biểu mẫu điện tử và các dịch vụ trực tuyến khác

từ các cơ quan Chính phủ. Chính vì vậy, có khoảng 90% hồ sơ đăng ký doanh

nghiệp, 74% dữ liệu báo cáo tài chính của doanh nghiệp, 72% dữ liệu tờ khai thuế,

97% dữ liệu thanh toán thuế và khấu trừ thuế được kê khai điện tử và gửi tới hệ

thống Altinn.

77

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

3.4 Bài học kinh nghiệm cho đổi mới quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh

nghiệp ở Việt Nam

Qua nghiên cứu thực tiễn triển khai thực hiện công tác quản lý nhà nước đối

với doanh nghiệp ở Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore và Na Uy có thể rút ra một

số bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh

nghiệp ở nước ta như sau:

Thứ nhất, Chính phủ cần pháp lý hóa triệt để quyền và nghĩa vụ của công

dân liên quan đến quá trình đăng ký gia nhập thị trường theo hướng người thành lập

tự chịu trách nhiệm về các thông tin đăng ký. Tạo môi trường thuận lợi khuyến

khích người dân và các thành phần kinh tế tham gia giám sát hoạt động của doanh

nghiệp cũng như việc thực hiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.

Thứ hai, mọi ý kiến, vướng mắc của cá nhân, tổ chức đối với đăng ký doanh

nghiệp khi chuyển đến các cơ quan nhà nước phải được tiếp thu, trả lời công khai,

minh bạch, đảm bảo nguyên tắc luôn có một cơ quan nhà nước cụ thể chịu trách

nhiệm giải quyết vấn đề

Thứ ba, ứng dụng triệt để công nghệ thông tin trong việc quản lý hành chính

nhà nước, đẩy mạnh xây dựng chính phủ điện tử là công cụ hữu hiệuđể nâng cao

hiệu quả quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.

Thứ tư, đổi mới công tác xây dựng pháp luật theo hướng tiếp tục thực hiện

xóa bỏ tiền kiểm, đặt trọng tâm của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp vào giai

đoạn sau khi thành lập nhằm nâng cao ý thức của doanh nghiệp.

3.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối

với đăng ký doanh nghiệp tại Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch

và Đầu tư

3.5.1 Giải pháp cải cách hành chính tại Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 áp

dụng cho các cơ quan hành chính nhà nước sẽ giúp Cục Quản lý đăng ký kinh

78

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

doanh thiết lập được các quy trình chuẩn để kiểm soát các hoạt động, đồng thời

phân định rõ việc, rõ người trong quản lý, điều hành công việc, đảm bảo kịp thời,

chính xác và hợp pháp của các văn bản giải quyết. Hệ thống quản lý chất lượng sẽ

giúp cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

thực hiện công việc đúng ngay từ đầu và thường xuyên cải tiến công việc thông qua

các hoạt động theo dõi và giám sát. Một hệ thống quản lý chất lượng tốt không

những giúp nâng cao chất lượng, đạt hiệu quả cao trong công tác mà còn giúp đào

tạo cho nhân viên mới tiếp cận công việc nhanh chóng hơn.

Cụ thể, Cục nên xây dựng các quy trình sau:

- Quy trình cung cấp thông tin về đăng ký doanh nghiệp cho tổ chức và

cá nhân có yêu cầu

Để cung cấp thông tin về đăng ký doanh nghiệp cho tổ chức và cá nhân có

yêu cầu một cách minh bạch;

Căn cứ Nghị định số 116/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008 của Chính phủ quy

định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu

tư; Quyết định số 1899/QĐ-BKH ngày 08/11/2010 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và

Đầu tư về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý đăng ký kinh

doanh; Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp;

Luận văn xin xây dựng quy trình cung cấp thông tin về đăng ký doanh

nghiệp cho tổ chức và cá nhân có yêu cầu với mục đích quy định việc cung cấp

thông tin về đăng ký doanh nghiệp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của Phòng

Thông tin và Cơ sở dữ liệu thuộc Cục Quản lý đăng ký kinh doanh cho tổ chức, cá

nhân có yêu cầu.

Phạm vi áp dụng: Quy trình cung cấp thông tin về đăng ký doanh nghiệp

được áp dụng tại Phòng Thông tin và Cơ sở dữ liệu thuộc Cục Quản lý đăng ký kinh

doanh và các tổ chức, cá nhân có yêu cầu.

79

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Giải thích từ viết tắt:

- Thông tin về đăng ký doanh nghiệp: Là thông tin về nội dung đăng ký kinh

doanh và đăng ký thuế đối với loại hình doanh nghiệp thành lập theo quy định của

Luật doanh nghiệp, qua đó có thể gửi, nhận, lưu trữ, hiển thị dữ liệu phục vụ công

tác đăng ký doanh nghiệp.

- Đăng ký doanh nghiệp: bao gồm đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và

đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp.

- Phòng TT &CSDL: Phòng Thông tin và Cơ sở dữ liệu

Hình 7. Quy trình cung cấp thông tin về đăng ký doanh nghiệp

80

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Mô tả quy trình:

Bước 1: Nhận công văn/Giấy giới thiệu

Văn thư Cục nhận Công văn/Giấy giới thiệu của tổ chức, cá nhân cần được

cung cấp thông tin từ tổ chức, cá nhân.

Bước 2: Cục trưởng phân công xử lý

Văn thư trình Lãnh đạo Cục Công văn/Giấy giới thiệu. Lãnh đạo xem xét,

phân công phòng chuyên môn (Phòng TT&CSDL) xử lý và có ý kiến chỉ đạo (nếu

cần). Văn thư Cục vào sổ Công văn đến và chuyển cho phòng chuyên môn.

Bước 3: Phòng TH&CSDL phân công cán bộ xử lý

Căn cứ vào nhiệm vụ, công việc của phòng, Trưởng phòng TT&CSDL phân

cán bộ xử lý.

Bước 4: Cán bộ xử lý nhận xem xét Công văn

Căn cứ yêu cầu được cung cấp thông tin theo Công văn/ Giấy giới thiệu và

chỉ đạo của Lãnh đạo Cục (nếu có), cán bộ xử lý dự thảo Công văn cung cấp thông

tin.

Bước 5: Phòng TT&CSDL thông qua

Sau khi Trưởng phòng duyệt dự thảo Công văn cung cấp thông tin do cán bộ

xử lý chuẩn bị, cán bộ xử lý trình Lãnh đạo Cục phê duyệt kèm theo phiếu trình giải

quyết công việc.

Bước 6: Phê duyệt

Lãnh đạo Cục duyệt nội dung thông tin cung cấp.

Bước 7: Phát hành văn bản

Văn thư Cục chuyển Công văn cung cấp thông tin đã được Lãnh đạo Cục

duyệt phát hành theo quy định.

Bước 8: Lưu hồ sơ

Sau khi ghi vào Sổ công văn, cán bộ xử lý lưu theo hồ sơ của phòng.

81

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

- Quy trình hướng dẫn các vướng mắc liên quan đến nghiệp vụ đăng ký

doanh nghiệp.

Hiện nay ở Cục Quản lý đăng ký kinh doanh vẫn còn tồn tại một số trường

hợp văn bản trả lời, hướng dẫn các vướng mắc liên quan đến nghiệp vụ đăng ký

doanh nghiệp của địa phương chưa kịp thời, vẫn còn văn bản bị quá hạn.

Căn cứ Luật Doanh nghiệp 2005; Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày

01/10/2010 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp; Thông

tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về

đăng ký doanh nghiệp; QĐ số 456/QĐ-BKH ngày 12/5/2004 của Bộ trưởng Bộ Kế

hoạch và Đầu tư quy định về tiếp nhận xử lý và ban hành văn bản.

Luận văn xin xây dựng quy trình hướng dẫn các vướng mắc liên quan đến

nghiệp vụ đăng ký doanh nghiệp, với mục đích quy định trách nhiệm, thời gian

trong việc tiếp nhận hồ sơ, dự thảo văn bản, triển khai thực hiện hướng dẫn và tháo

gỡ những khó khăn, vướng mắc của địa phương trong công tác đăng ký doanh

nghiệp.

Phạm vi áp dụng: Quy trình hướng dẫn các vướng mắc liên quan đến

nghiệp vụ đăng ký doanh nghiệp tại các địa phương được áp dụng tại Cục Quản lý

đăng ký kinh doanh – Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Phòng Đăng ký kinh doanh

thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Trách nhiệm và quyền hạn:

Phòng Đăng ký kinh doanh: gửi công văn tới Cục Quản lý đăng ký kinh

doanh, cung cấp các thông tin cần thiết đối với các trường hợp vướng mắc, yêu cầu

hướng dẫn nghiệp vụ đối với các trường hợp vướng mắc.

Cục Quản lý đăng ký kinh doanh: tiếp nhận, lưu trữ các văn bản, từ đó đưa ra

đánh giá và hướng dẫn địa phương các vướng mắc về nghiệp vụ.

Trách nhiệm của các bộ phận:

- Văn thư Phòng: tiếp nhận, phân loại, lưu trữ , thống kê văn bản.

- Chuyên viên: xử lý văn bản theo chỉ đạo, dự thảo văn bản trả lời.

82

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

- Lãnh đạo Phòng: xem xét, xử lý, phân công cán bộ xử lý, phê duyệt công

văn trả lời.

Giải thích từ viết tắt:

- Văn thư Phòng: là chuyên viên do Trưởng phòng phân công, có những

nhiệm vụ sau: i) nhận hồ sơ từ văn thư Văn phòng Cục và vào sổ công văn đến; ii)

chuyển hồ sơ cho Trưởng phòng; iii) nhận công văn từ Trưởng phòng chuyển cho

chuyên viên xử lý; iv) nhận công văn trả lời đã được phê duyệt từ Văn phòng Cục;

văn thư Phòng là người kiêm nhiệm.

- Cán bộ xử lý: là cán bộ của Phòng Nghiệp vụ đăng ký kinh doanh trực tiếp

đề xuất phương hướng xử lý, dự thảo văn bản trả lời theo phân công, chỉ đạo của

Lãnh đạo Phòng.

- Công văn đến: là công văn yêu cầu hướng dẫn các vướng mắc về nghiệp vụ

đăng ký doanh nghiệp tại các Phòng Đăng ký kinh doanh địa phương.

- Công văn trả lời: là công văn do Phòng Nghiệp vụ đăng ký kinh doanh chủ

trì thực hiện để giải đáp các vướng mắc của địa phương về nghiệp vụ đăng ký

doanh nghiệp.

- Đơn vị trong Cục: là các phòng chuyên môn, Văn phòng Cục, Trung tâm

hỗ trợ nghiệp vụ đăng ký kinh doanh

- Đơn vị ngoài Cục: là cơ quan, tổ chức khác.

83

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Hình 8. Quy trình hướng dẫn các vướng mắc liên quan đến nghiệp vụ

đăng ký doanh nghiệp

Mô tả quy trình:

Bước 1: Nhận công văn đến

Văn thư Phòng nhận công văn đến từ văn phòng Cục, vào sổ công văn đến

với các nội dung sau:

- Ngày nhận công văn

- Cơ quan phát hành công văn

- Số công văn, ngày phát hành

- Trích lục công văn (nội dung chính)

84

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Sau đó, văn thư Phòng tiến hành phân loại:

- Trong trường hợp là công văn khẩn, hỏa tốc lập tức trình Trưởng phòng

- Trong trường hợp khác, trình công văn cho Trưởng phòng vào 15h hàng

ngày

Bước 2: Phân công xử lý

Trưởng phòng phân công cán bộ có trách nhiệm xử lý công văn và chuyển

cho văn thư Phòng trong ngày kể từ khi nhận được công văn đến. Văn thư Phòng có

trách nhiệm chuyển công văn tới cho cán bộ xử lý.

Bước 3: Dự thảo công văn trả lời

Cán bộ xử lý thực hiện dự thảo công văn trả lời. Trong trường hợp cần xin ý

kiến các đơn vị trong và ngoài Cục, cán bộ xử lý dự thảo công văn xin ý kiến các

đơn vị khác.

Sau khi hoàn thành dự thảo công văn trả lời, cán bộ xử lý trình Trưởng

phòng, thực hiện tổng hợp ý kiến các đơn vị khác (nếu có) và chỉnh sửa công văn

theo chỉ đạo của Trưởng phòng.

Cán bộ xử lý trình Lãnh đạo Cục (Phó Cục trưởng phụ trách, Cục trưởng) dự

thảo công văn đã chỉnh sửa theo chỉ đạo của Trưởng phòng.

Cán bộ xử lý tiếp thu ý kiến của Lãnh đạo Cục, báo cáo với Trưởng phòng

các nội dung chỉnh sửa của Lãnh đạo Cục và thực hiện hoàn thiện công văn trả lời

theo chỉ đạo của Lãnh đạo Cục.

Thời hạn xử lý công văn yêu cầu hướng dẫn các vướng mắc của địa phương

không quá 05 ngày kể từ khi nhận được công văn đến.

Trường hợp cần xin ý kiến các đơn vị trong và ngoài Cục, thời hạn xử lý

công văn không quá 07 ngày kể từ khi nhận được công văn đến.

Bước 4: Phát hành và lưu công văn hướng dẫn

Nếu là công văn do Bộ phát hành, cán bộ xử lý chuyển dự thảo công văn trả

lời cho Văn phòng Cục để trình Lãnh đạo Bộ ký (thời gian xem xét, quyết định của

Lãnh đạo Bộ đối với trường hợp vướng mắc không quá 2 ngày kể từ khi nhận được

85

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

dự thảo công văn trả lời). Văn phòng Bộ phát hành sau đó chuyển lại cho Văn

phòng Cục.

Nếu là công văn do Cục phát hành, cán bộ xử lý trình Lãnh đạo Cục ký (thời

gian xem xét, quyết định của Lãnh đạo Cục đối với trường hợp vướng mắc không

quá 2 ngày kể từ khi nhận được dự thảo công văn trả lời) rồi chuyển cho Văn phòng

Cục phát hành.

Văn thư Phòng nhận công văn trả lời từ Văn phòng Cục, thực hiện lưu sổ

công văn đi như quy định (kèm các tài liệu, nếu có).

Kết quả dự tính đạt được:

Việc xây dựng, hoàn thiện, áp dụng các quy trình nêu trên không chỉ không

phải sử dụng ngân sách nhà nước mà còn giúp Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

thiết lập được các quy trình chuẩn để kiểm soát các hoạt động, đồng thời phân định

rõ việc, rõ người trong quản lý, điều hành công việc, đảm bảo kịp thời, chính xác và

hợp pháp của các văn bản giải quyết.

Đồng thời, các quy trình nêu trên sẽ giúp cán bộ, công chức, viên chức, nhân

viên của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh thực hiện công việc không bị chồng chéo,

vượt cấp nhằm đảm bảo tính minh bạch của việc cung cấp thông tin về đăng ký

doanh nghiệp cho các tổ chức, cá nhân có yêu cầu.

- Một số quy trình định hướng khác

• Quy trình chung

- Quy trình Kiểm soát tài liệu;

Mục đích: Quy định cách thức kiểm soát tài liệu, đề xuất ban hành, sửa đổi,

xem xét, phê duyệt, cập nhật - thuộc Hệ thống quản lý chất lượng của cơ quan.

- Quy trình Kiểm soát hồ sơ;

Mục đích: Quy định cách thức kiểm soát hồ sơ trong việc nhận biết, truy

xuất, bảo quản, hủy bỏ các hồ sơ thuộc Hệ thống quản lý chất lượng của Cơ quan.

- Quy trình Đánh giá chất lượng nội bộ;

Mục đích: Quy trình này quy định các bước lập kế hoạch, tiến hành đánh giá

chất lượng nội bộ Hệ thống quản lý chất lượng của Cơ quan.

86

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

- Quy trình Kiểm soát sự không phù hợp và Hành động khắc phục phòng

ngừa sai lỗi;

Mục đích: Quy trình này quy định các bước ghi nhận, xử lý vấn đề không

phù hợp và cách thức thực hiện hành động khắc phục và phòng ngừa để cải tiến Hệ

thống quản lý chất lượng của Cơ quan.

- Quy trình Xem xét của lãnh đạo đối với hệ thống quản lý chất lượng.

Mục đích: Quy định cách thức tiến hành cuộc họp xem xét của Lãnh đạo Cục

đối với Hệ thống quản lý chất lượng nhằm xem xét tính hiệu lực, hiệu quả của hệ

thống và tìm ra các cơ hội cải tiến cần thiết.

• Quy trình tác nghiệp

- Quy trình quản lý văn bản đi và đến;

Mục đích: Nhằm quy định thống nhất về thủ tục tiếp nhận, xử lý, phân phối

văn bản đến và ban hành văn bản đi tại Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế

hoạch và Đầu tư.

- Quy trình mua sắm tài sản;

Mục đích: Quy trình này nhằm đảm bảo các tài sản mua vào cho Cục Quản

lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư phù hợp với các yêu cầu sử dụng,

quy định nội bộ cơ quan.

- Quy trình thanh toán, tạm ứng;

Mục đích: Quy trình này nhằm thống nhất trình tự, thủ tục và hướng dẫn cho

cán bộ trong Cục Quản lý đăng ký kinh doanh thực hiện thuận tiện và đúng quy

định việc thanh toán - tạm ứng cho công tác quản lý tài chính của Cục.

- Quy trình theo dõi, tổng hợp tình hình thực hiện đăng ký kinh doanh của

doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc;

Mục đích: Xây dựng một quy trình chuẩn cho công tác tổng hợp tình hình

đăng ký kinh doanh trên phạm vi toàn quốc nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác

quản lý nhà nước về đăng ký kinh doanh cũng như cung cấp đầu vào cho quá trình

hoạch định chính sách.

87

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

- Quy trình dự thảo và trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản về quản lý

đăng ký kinh doanh.

Mục đích: Quy trình này quy định trách nhiệm trong việc tiếp nhận hồ sơ, dự

thảo văn bản xử lý và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt văn bản về đăng ký kinh

doanh của cán bộ Phòng Nghiệp vụ đăng ký kinh doanh.

3.5.2 Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện

quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp

Bên cạnh những thuận lợi mà Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nói chung

mang lại cho doanh nghiệp trong thời gian qua như cải cách thủ tục hành chính, rút

ngắn thời gian gia nhập thị trường…, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập chưa phù hợp

với thực tiễn mà chưa được giải quyết. Doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn khi

thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, thay đổi, bổ sung hồ sơ, cũng như giải thể

doanh nghiệp. Việc thực hiện hỗ trợ các doanh nghiệp gia nhập vào thị trường theo

chứng năng và nhiệm vụ của các Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh hiện nay chưa

được giám sát, đánh giá đúng mực.

Căn cứ Luật doanh nghiệp 2005; Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày

15/04/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp: Nhiệm vụ, quyền hạn, trách

nhiệm của Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh.

Luận văn xin xây dựng bộ chỉ số xếp hạng các phòng đăng ký kinh doanh

cấp tỉnh để đánh giá chất lượng điều hành, quản lý của hệ thống đăng ký kinh

doanh trên cả nước, qua đó thúc đẩy sự phát triển năng lực, sự cạnh tranh, phấn đấu

trong nội bộ ngành. Kết quả xếp hạng này sẽ đại diện cho tiếng nói chung của

doanh nghiệp về chất lượng điều hành, quản lý ngành của các Phòng Đăng ký kinh

doanh cấp tỉnh. Nội dung bộ chỉ số có thể bao gồm các chỉ số sau:

• Chỉ số về xử lý hồ sơ

Quy định về thời gian thụ lý, xử lý, quyết định/ngày;

Số lượng hồ sơ quá hạn/tổng số hồ sơ;

Số lần bổ sung hồ sơ/bộ hồ sơ/ tổng số hồ sơ.

88

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

• Chỉ số về ứng dụng cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia

Quy định về cấp giấy phép trên hệ thống đăng ký kinh doanh quốc gia;

Số lượng cán bộ đạt chứng chỉ đào tạo trên tổng số cán bộ của Phòng.

• Chỉ số về nội dung hồ sơ

Quy định về tính đầy đủ của hồ sơ (số lượng hồ sơ đã số hóa/số lượng hồ sơ

thực tế).

• Chỉ số về khiếu nại, tố cáo

Số lượng hồ sơ khiếu nại, tố cáo/năm.

• Chỉ số về ứng dụng công nghệ thông tin

Quy định về công bố thông tin trên công thông tin sở kế hoạch đầu tư.

• Chỉ số về hiệu suất công việc

Số lượng doanh nghiệp/ số lượng cán bộ của Phòng đăng ký kinh doanh cấp

tỉnh.

Nội dung thực hiện việc xây dựng bộ chỉ số đánh giá:

Áp dụng những chỉ số thực trạng trích xuất từ hệ thống đăng ký kinh doanh

quốc gia.

Phối hợp với các phòng chuyên môn như Phòng Thông tin, cơ sở dữ liệu để

trích xuất thông số trên hệ thống; Trung tâm Hỗ trợ nghiệp vụ đăng ký kinh doanh

để rà soát các nội dung yêu cầu hỗ trợ từ Phòng Đăng ký kinh doanh; Phòng Nghiệp

vụ đăng ký kinh doanh để phối hợp trích xuất những nội dung liên quan đến khiếu

nại tố tụng.

Đơn vị chủ trì trong việc đánh giá và xếp hạng là Cục Quản lý đăng ký kinh

doanh.

Sau khi thực hiện việc đánh giá, xếp hạng Phòng đăng ký kinh doanh, Cục

Quản lý đăng ký kinh doanh công bố báo cáo chỉ tiêu đánh giá năng lực Phòng đăng

ký kinh doanh hàng năm, gửi Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố và trên Cổng

thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia.

89

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Kết quả dự tính đạt được:

Bộ chỉ số này sẽ là một công cụ hữu hiệu giúp cho cơ quan chủ trì quản lý

nhà nước về đăng ký kinh doanh có căn cứ đánh giá thực trạng hoạt động, năng lực

chuyên môn và hiệu quả công tác của các Phòng Đăng ký kinh doanh tại địa

phương để đưa ra các giải pháp quản lý, hướng dẫn hoạt động đăng ký kinh doanh

trên toàn quốc.

Bên cạnh đó, bảng xếp hạng sẽ giúp cho Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh

và các cơ quan quản lý nhà nước có đánh giá đúng về chất lượng công tác chuyên

môn của Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh, để từ đó nâng cao, cải cách chất

lượng.

3.5.3 Giải pháp định hướng khác

3.5.3.1 Giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về đăng ký doanh nghiệp

- Tiếp tục cải cách một số thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp theo Nghị

quyết số 59/2007/NQ-CP ngày 30/11/2007 Chính phủ, trong thời gian tới cần pháp

lý hóa triệt để quyền và nghĩa vụ của công dân liên quan đến quá trình đăng ký gia

nhập thị trường theo hướng người thành lập tự chịu trách nhiệm về các thông tin

đăng ký.

- Hoàn thiện khung pháp lý về phát huy vai trò của xã hội và của các chủ thể

khác nhằm hỗ trợ Nhà nước trong quản lý, giám sát doanh nghiệp bằng việc phát

triển hệ thống thông tin về doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc. Quy định cụ thể

việc khớp nối, trao đổi trực tuyến thông tin về đăng ký doanh nghiệp giữa các cơ

quan đăng ký kinh doanh, quản lý thị trường, thuế, hải quan, thống kê, thanh

tra…để làm công cụ quản lý, giám sát dữ liệu doanh nghiệp.

- Xây dựng các văn bản quy định về việc thông tin, tuyên truyền về quản lý

nhà nước đối với dữ liệu doanh nghiệp, nâng cao năng lực phổ biến, tuyên truyền

pháp luật về quản lý nhà nước đối với dữ liệu doanh nghiệp. Tổ chức thường xuyên

các buổi hội thảo đối thoại giữa cơ quan nhà nước với doanh nghiệp; tổ chức các

khóa bồi dưỡng, đào tạo kiến thức cho doanh nghiệp; tư vấn trực tiếp cho doanh

nghiệp tại cơ quan quản lý nhà nước, qua điện thoại, qua mạng internet… nhằm

90

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

nâng cao hiểu biết và ý thức tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp đối với thông tin

đăng ký.

3.5.3.2 Giải pháp hoàn thiện cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về đăng ký

doanh nghiệp

Ứng dụng triệt để công nghệ thông tin vào công tác đăng ký doanh nghiệp,

trao đổi thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước; tập trung hoàn thiện Cơ sở dữ

liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, tiến tới kết nối trực tuyến và chia sẻ đầy đủ

dữ liệu pháp lý về doanh nghiệp từ Cơ sở dữ liệu này cho mọi cơ quan quản lý nhà

nước khác.

- Hoàn thiện Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia để công bố rộng

rãi dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp ra cộng đồng theo quy định của pháp luật nhằm

giảm bớt rủi ro cho doanh nghiệp trong các giao dịch về kinh tế, hoạt động minh

bạch hơn và an toàn hơn.

- Xây dựng các kế hoạch triển khai về chuẩn hóa dữ liệu và số hóa tài liệu hồ

sơ đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi cả nước nhằm mục đích hoàn thiện và đồng

bộ dữ liệu về doanh nghiệp, phát hiện và đính chính, bổ sung, cập nhật các thông tin

còn sai lệch hoặc còn thiếu về doanh nghiệp trong Cơ dữ liệu quốc gia về đăng ký

doanh nghiệp.

3.5.3.3 Giải pháp hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan để

thực thi chính sách

- Ban hành quy chế phối hợp cụ thể giữa các cơ quan nhà nước các cấp từ

Trung ương đến địa phương trong thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với dữ

liệu doanh nghiệp theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với quy định

pháp luật và không gây phiền hà cho doanh nghiệp.

- Xây dựng văn bản pháp luật có quy định rõ về quyền hạn, trách nhiệm của

cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan quản lý nhà nước khác có liên quan

khác trong quản lý dữ liệu đăng ký doanh nghiệp.

- Xây dựng quy định cụ thể về việc trao đổi thông tin đăng ký kinh doanh và

đăng ký thuế giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính.

91

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

- Xây dựng quy chế phối hợp mẫu trong công tác quản lý nhà nước đối với

doanh nghiệp sau đăng ký thành lập.

3.5.3.4 Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện

quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp

- Nâng cao năng lực và kiện toàn tổ chức của hệ thống các cơ quan, đơn vị

làm nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp tại các cấp, các ngành, để

đảm bảo sự tuân thủ của doanh nghiệp đối với các chính sách pháp luật.

- Ngoài vai trò kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước, cần tăng cường hoạt

động kiểm tra, giám sát của cộng đồng và các chủ thể khác đối với hoạt động của

doanh nghiệp. Khuyến khích, phát huy vai trò tự kiểm tra, giám sát trong nội bộ

doanh nghiệp.

- Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về quản lý nhà nước đối với

doanh nghiệp và dữ liệu doanh nghiệp nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành

pháp luật của doanh nghiệp; tổ chức thường xuyên các buổi đối thoại giữa cơ quan

quản lý nhà nước với doanh nghiệp; tăng cường tổ chức các khóa bồi dưỡng, đào

tạo kiến thức chuyên đề về Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư và pháp luật về các

ngành, nghề kinh doanh có điều kiện cho doanh nghiệp.

- Tăng cường chế tài và biện pháp xử lý hành chính đối với cán bộ không

tuân thủ quy định pháp luật về doanh nghiệp, lợi dụng quyền lực nhà nước để gây

khó khăn cho doanh nghiệp.

Ngoài ra, Luận văn còn một số giải pháp khác như:

- Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm kêu gọi sự hỗ trợ tài chính

của các tổ chức quốc tế và các Chính phủ nước ngoài đối với mục tiêu cải cách đăng

ký kinh doanh quốc gia.

- Tổ chức các hoạt động truyền thông về Cổng Thông tin đăng ký doanh

nghiệp quốc gia nhằm đưa các dịch vụ công trên Cổng Thông tin đến gần hơn với

cộng đồng; nâng cao hiểu biết của các cá nhân, tổ chức về lợi ích mà các dịch vụ

này đem lại; khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng dịch vụ đăng ký doanh

nghiệp qua mạng điện tử để tiết kiệm thời gian, chi phí.

92

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

- Mở rộng Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, cho phép thực

hiện đăng ký doanh nghiệp thông qua Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp

quốc gia đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), doanh

nghiệp nhà nước, các loại hình khác như tổ chức tín dụng, công ty bảo hiểm, văn

phòng luật sư, tổ chức khoa học và công nghệ nhằm thống nhất một cơ sở dữ liệu về

đăng ký doanh nghiệp trên toàn quốc, đảm bảo tính chính xác của thông tin về các

doanh nghiệp hiện đang hoạt động trong nền kinh tế.

93

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

Tóm tắt nội dung Chương III

Chương III đã chỉ ra các cơ sở căn cứ, các quan điểm, để từ đó có mục tiêu,

định hướng phát triển công tác quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại

Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Từ các căn cứ đó, quan điểm đó, cùng với kinh nghiệm đã đem lại thành

công trong việc cải cách môi trường kinh doanh nói chung và cải cách đăng ký

doanh nghiệp nói riêng của các quốc gia trên thế giới, Chương III đã đưa ra 3 giải

pháp, cụ thể như sau:

- Giải pháp cải cách hành chính tại Cục Quản lý đăng ký kinh doanh;

- Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện quản lý nhà

nước về đăng ký doanh nghiệp;

- Giải pháp định hướng khác.

94

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

I. Một số kiến nghị:

• Đối với các cơ quan Trung ương

- Xây dựng lộ trình về hoàn thiện khung pháp luật như sửa đổi, bổ sung các

luật, văn bản hướng dẫn, nghị định, thông tư cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà

nước về dữ liệu doanh nghiệp;

- Đẩy mạnh việc phổ biến, tuyên truyền và từng bước công khai hóa thông

tin cơ bản của doanh nghiệp. Thực hiện việc triển khai chuẩn hóa dữ liệu và số hóa

tài liệu hồ sơ đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi cả nước nhằm mục đích hoàn

thiện và đồng bộ dữ liệu về doanh nghiệp;

- Ban hành quy chế phối hợp cụ thể giữa các cơ quan nhà nước các cấp từ

Trung ương đến địa phương trong thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với dữ

liệu doanh nghiệp;

- Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Hệ thống Thông tin đăng ký doanh

nghiệp quốc gia đi đôi với việc bồi dưỡng, đào tạo nguồn cán bộ và dần hoàn thiện

tổ chức bộ máy đăng ký kinh doanh nhằm quản lý và khai thác tốt nguồn dữ liệu.

• Đối với các cơ quan địa phương

Tăng cường việc xử phạt các vi phạm về nghĩa vụ đăng ký và nghĩa vụ báo

cáo của doanh nghiệp từ đó sẽ góp phần quan trọng trong việc minh bạch hóa môi

trường kinh doanh.

• Đối với Doanh nghiệp

Doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về các thông tin đăng ký liên quan đến

quá trình đăng ký gia nhập thị trường và có trách nhiệm tự đối chiếu, kiểm tra thông

tin của mình có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp so với thông

tin hiện tại của doanh nghiệp và thực hiện phản hồi lại cơ quan đăng ký kinh doanh

để rà soát, cập nhật bổ sung thông tin, đồng thời thực hiện các thủ tục đăng ký

doanh nghiệp theo các quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên tham

vấn các chuyên gia tư vấn pháp lý, tài chính… để nắm được các thủ tục cấp phép

cũng như hoạt động của các dự án đầu tư tại Việt Nam.

95

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

II. Kết luận

Doanh nghiệp được ví như tế bào của nền kinh tế, sự phát triển của lực lượng

này có vai trò quyết định đối với phát triển kinh tế-xã hội. Sau hơn 20 năm thực

hiện đường lối đổi mới, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đã đạt được nhiều

thành tựu đáng kể. Về cơ bản, Nhà nước đã tạo ra một môi trường tương đối thuận

lợi cho doanh nghiệp hoạt động và phát triển. Nhờ đó, số lượng doanh nghiệp đã

tăng lên nhanh chóng, đến tháng 12/2013 đã có gần 800.000 doanh nghiệp đăng ký

thành lập. Chính sự phát triển mạnh của cộng đồng doanh nghiệp đã gây áp lực

buộc quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp phải đổi mới, tăng cường để nâng

cao hiệu quả, hiệu lực.

Qua việc phân tích thực trạng để tìm ra những nguyên nhân chính gây ảnh

hưởng chưa tốt đến quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế

hoạch và Đầu tư, Luận văn mạnh dạn đưa ra 3 giải pháp nhằm tăng cường công tác

quản lý nhà nước đối với đăng ký doanh nghiệp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ lý luận, kinh nghiệm thực tiễn

của tôi vẫn còn hạn chế nên số liệu, dẫn chứng về quản lý nhà nước đối với đăng ký

doanh nghiệp đưa ra chưa toàn diện trên các lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh.

Ngoài ra, ở nội dung tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, Luận văn chỉ tham khảo kinh

nghiệm của một số nước được đánh giá có môi trường kinh doanh thuận lợi, chưa

nghiên cứu được kinh nghiệm của các nước phát triển khác. Những điểm hạn chế

của Luận văn như đã phân tích ở trên cũng gợi ý cho việc đề xuất những hướng

nghiên cứu sâu hơn ở các đề tài tiếp theo.

96

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công an và Bộ Tài chính (2007), Thông tư liên

tịch số 02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa các cơ

quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu đối

với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

2. Liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công an và Bộ Tài chính (2008), Thông tư liên

tịch số 05/2008/TTLT/BKH-BTC-BCA hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa các cơ

quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu đối

với doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (Thay thế Thông tư

liên tịch số 02/2007/TTLT/BKH-BTC-BCA).

3. Cục Phát triển Doanh nghiệp (2012), Sách trắng: Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt

Nam 2011, NXB Thống Kê, Hà Nội.

4. Lê Quang Mạnh (2007), Nâng cao hiệu quả cơ chế phối hợp giữa các cơ quan

giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu đối với

doanh nghiệp theo mô hình một cửa liên thông, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Kế

hoạch và Đầu tư.

5. Lê Quang Mạnh (2011), Phát huy vai trò của Nhà nước trong phát triển doanh

nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế

quốc dân.

6. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2005), Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11.

7. Thủ tướng Chính phủ (2000), Chỉ thị số 29/2000/CT-TTg về việc đẩy mạnh thực

hiện Luật Doanh nghiệp.

8. Thủ tướng Chính phủ (2002), Chỉ thị số 17/2002/CT-TTg về việc tiếp tục đẩy

mạnh thi hành Luật Doanh nghiệp.

Tăng Nguyệt Ánh QTKD - CH2012B

9. Thủ tướng Chính phủ (2003), Chỉ thị số 27/2003/CT-TTg về việc tiếp tục đẩy

mạnh thực hiện Luật Doanh nghiệp, khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và

vừa.

10. Thủ tướng Chính phủ (2006), Chỉ thị số 29/2000/CT-TTg về việc đẩy mạnh

thực hiện Luật Doanh nghiệp.

11. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định số 236/2006/QĐ-TTg phê duyệt Kế

hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 5 năm (2006-2010).

12. Thủ tướng Chính phủ (2007), Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP về một số giải

pháp xử lý những vướng mắc trong hoạt động đầu tư xây dựng và cải cách một số

thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp

13. Thủ tướng Chính phủ (2010), Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh

nghiệp.

14. Tổng cục Thống kê (2010), Doanh nghiệp Việt Nam 9 năm đầu thế kỷ 21, NXB

Thống kê, Hà Nội.

15. Trung tâm Thông tin và Dự báo KTXH quốc gia (2005), Tìm hiểu vai trò của

Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, Báo cáo chuyên đề, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

Hà Nội.

16. Bùi Anh Tuấn (2012), Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng

ký thành lập, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

17. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (2000), Báo cáo nghiên cứu

DNNVV: Hiện trạng và những kiến nghị giải pháp, NXB Giao thông vận tải, Hà

Nội.

18. Website: http://baodientu.chinhphu.vn

19. Website: http://chinhphu.vn

20. Website: http://dangkykinhdoanh.gov.vn