intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Giáo trình Ngân sách nhà nước

Chia sẻ: Ha Trang | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:91

4
1.166
lượt xem
601
download

Giáo trình Ngân sách nhà nước

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bản chất của Ngân sách Nhà nước Ngân sách Nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước. Nhà nước bằng quyền lực chính trị và xuất phát từ nhu cầu về tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình đã đặt ra những khoản thu, chi của ngân sách nhà nước.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Ngân sách nhà nước

  1. Giáo trình Ngân sách nhà nước
  2. MỤC LỤC Giáo trình .................................................................................................................................................... 1 Ngân sách nhà nước.................................................................................................................................... 1 MỤC LỤC................................................................................................................................................... 2 Thu NSNN và các giải pháp thực hiện trong năm 2009.......................................................................... 29 Bội chi ngân sách Nhà nước: Nên để ở mức an toàn.............................................................................. 53 "Năm 2010, không có tỉnh, thành nào được phép không hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách nhà nước". 58 BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY............................................................................................................................................ 78
  3. NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC I. BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Bản chất của Ngân sách Nhà nước Ngân sách Nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà n ước. Nhà n ước b ằng quyền lực chính trị và xuất phát từ nhu cầu về tài chính để đảm bảo thực hiện ch ức năng, nhiệm vụ của mình đã đặt ra những khoản thu, chi của Ngân sách Nhà n ước. Điều này cho thấy chính sự tồn tại của Nhà nước, vai trò của Nhà nước đối với đời sống kinh tế xã hội là những yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và tính ch ất ho ạt động của Ngân sách Nhà nước. Trong thực tế nhìn bề ngoài hoạt động của Ngân sách Nhà n ước bi ểu hi ện đa dạng dưới hình thức các khoản thu và các khoản chi tài chính c ủa Nhà n ước ở các lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội. Các khoản thu chi này được tổng hợp trong một bảng dự toán thu chi tài chính được thực hiện trong một khoảng th ời gian nh ất đ ịnh. Các khoản thu mang tính chất bắt buộc của Ngân sách Nhà nước là một bộ ph ận các nguồn tài chính chủ yếu được tạo ra thông qua việc phân ph ối thu nh ập qu ốc dân được sáng tạo ra trong khu vực sản xuất kinh doanh và các khoản chi ch ủ y ếu c ủa Ngân sách mang tính chất cấp phát phục vụ cho đầu tư phát tri ển và tiêu dùng c ủa xã hội .Như vậy, về hình thức có thể hiểu: Ngân sách Nhà nước là toàn b ộ các kho ản thu chi của nhà nước có trong dự toán, đã được cơ quan nhà n ước có th ẩm quy ền phê duyệt và được thực hiện trong một năm để đảm bảo việc thực hi ện ch ức năng,nhi ệm vụ của nhà nước. Tuy nhiên, hoạt động của Ngân sách Nhà nước (NSNN) là hoạt động phân phối các nguồn tài chính của xã hội gắn liền với việc hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung là Ngân sách nhà nước. Trong quá trình phân phối đó đã làm nảy sinh các quan h ệ tài chính giữa một bên là nhà nuớc và một bên là các ch ủ th ể trong xã h ội. Nh ững quan hệ tài chính này bao gồm:
  4. *Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp: Các quan hệ kinh t ế này phát sinh trong quá trình hình thành nguồn thu của Ngân sách dưới hình th ức các loại thu ế mà doanh nghiệp phải nộp. Đồng thời, Ngân sách chi h ổ trợ cho s ự phát tri ển c ủa doanh nghiệp dưới hình thức xây dựng cơ sở hạ tầng, hổ trợ vốn… *Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các đơn vị hành chính sự nghiệp: Quan h ệ này phát sinh trong qúa trình phân phối lại các khoản thu nhập bằng vi ệc Ngân sách nhà nước cấp kinh phí cho các đơn vị quản lý nhà nước. Đồng thời, trong cơ chế kinh tế thị trường các đơn vị có hoạt động sự nghiệp có các khoản thu phí và lệ phí, nguồn thu này một phần các đơn vị làm nghĩa vụ tài chính đối với ngân sách, m ột ph ần trang tr ải các khoản chi tiêu của mình để giảm bớt gánh nặng cho ngân sách. *Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư: Quan h ệ này đ ược th ể hiện qua việc một bộ phận dân cư thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước bằng việc nộp các khoản thuế, phí, lệ phí. Một bộ ph ận dân cư khác nh ận t ừ ngân sách nhà nước các khoản trợ cấp theo chính sách qui định. *Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính: Quan h ệ này phát sinh khi nhà nước tham gia trên thị trường tài chính bằng việc phát hành các loại ch ứng khoán của kho bạc nhà nước nhằm huy động vốn của các chủ thể trong xã hội để đáp ứng yêu cầu cân đối vốn của ngân sách nhà nước. Như vậy, đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài của Ngân sách nhà n ước là m ột quỹ tiền tệ với các khoản thu và các khoản chi của nó thì Ngân sách nhà n ước l ại phản ảnh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối. Từ s ự phân tích trên cho th ấy: Ngân sách nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Ngân sách nhà nước, hay ngân sách chính phủ, là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính. Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đ ưa ra nhi ều đ ịnh nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh v ực nghiên c ứu. Các nhà kinh tế Nga quan niệm: Ngân sách nhà nước là bảng li ệt kê các kho ản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia. Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà n ước đã đ ược c ơ quan nhà n ước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước g ắn li ền với s ự xu ất hi ện và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xu ất c ủa cộng đồng và nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác, s ự ra đ ời c ủa nhà n ước, s ự t ồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, t ồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước.
  5. Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương. Ngân sách địa ph ương bao gồm ngân sách c ủa đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân Quan niệm về ngân sách nhà nước 1. Ngân sách nhà nước là bản dự trù thu chi tài chính c ủa nhà n ước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. 2. Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của nhà nước. 3. Ngân sách nhà nước là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau. Thực chất, Ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh t ế phát sinh g ắn li ền với quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà n ước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm th ực hi ện các ch ức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định. Đặc điểm của ngân sách nhà nước Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt v ới quy ền l ực kinh t ế - chính trị của nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà n ước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định; Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lãnh vực thu và chi của nhà nước; Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn ch ứa đ ựng nh ững lợi ích chung, lợi ích công cộng; Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét khác biệt của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho những mục đích đã định; Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu. •Vai trò của Ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn b ộ ho ạt đ ộng kinh t ế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước. Cần hiểu rằng, vai trò c ủa ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định.
  6. Đối với nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội. Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã h ội, đ ịnh h ướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội. Bộ máy Nhà nước muốn thực hiện được sự hoạt động của mình một cách bình thường và ổn định để thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ là qu ản lý m ọi m ặt c ủa đời sống xã hội của một quốc gia thì nhất thiết phải có nguồn NSNN đảm bảo. Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nước sử dụng các công cụ, các biện pháp bắt buộc các thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính c ần thiết. Nhưng cơ sở để hình thành nguồn lực tài chính đó là t ừ sự phát tri ển kinh t ế, phát triển sản xuất kinh doanh. Vì vậy, muốn động viên được nguồn thu NSNN ngày càng tăng và có hiệu quả thì nền kinh tế nói chung, sản xu ất kinh doanh nói riêng ph ải được phát triển với tốc độ nhanh, bền vững và có hiệu quả cao. Vì v ậy, Nhà n ước trong quá trình quản lý kinh tế - xã hội phải nắm được quy luật kinh tế và tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan. Đồng thời phải bảo đảm hài hoà các quan h ệ l ợi ích của các chủ thể của nền kinh tế. Một NSNN vững mạnh là một ngân sách mà cơ chế phân phối của nó đảm bảo được sự cân đối trên cơ sở khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh nuôi dưỡng nguồn thu, trên cơ sở đó tăng được thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên. Mặt khác, một NSNN vững mạnh còn phải thể hiện việc phân phối và qu ản lý chi đúng đắn, hợp lý và hiệu quả. Nhà nước sử dụng khối lượng tài chính t ừ ngu ồn NSNN để chi tiêu vào mục đích phát triển kinh tế - xã h ội và chi tiêu cho s ự ho ạt đ ộng của bộ máy Nhà nước. Như vậy, chức năng của NSNN, ngoài việc động viên nguồn thu thì còn phải thực hiện quản lý và phân ph ối chi tiêu sao cho có hi ệu qu ả. Đó cũng là một tất yếu khách quan. 1.Điều tiết trong kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế Chúng ta biết rằng, trong cơ chế thị trường, mọi hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh chủ yếu của các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế ch ủ y ếu tuân theo s ự điều tiết của các quy luật vốn có của thị trường. Nh ận th ức đ ược đi ều đó, Nhà n ước ta đã có những cơ chế, chính sách hạn ch ế sự can thi ệp và ki ểm soát tr ực ti ếp đ ối v ới các hoạt động kinh tế, nhất là các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà n ước ta v ới chức năng của mình là thực hiện quản lý hành chính kinh tế bằng các công c ụ pháp luật, kế hoạch hoá và các chính sách do Nhà nước ban hành tuân theo pháp luật hi ện hành do cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc h ội ban hành. Đó chính là s ự đ ổi m ới c ơ bản về cơ chế quản lý của Nhà nước ta: từ chỗ quản lý, điều hành nên kinh tế một
  7. cách trực tiếp đến chỗ quản lý và điều hành mọi ho ạt đ ộng kinh t ế- xã h ội thông qua việc tạo mọi điều kiện, môi trường, hành lang (trong đó có cả hành lang pháp lý) để cho nền kinh tế phát triển vừa tuân theo qui lụt kinh tế khách quan, vừa bảo đảm s ự định hướng XHCN, nhằm nhanh chóng đạt được các mục tiêu mà Đảng ta đã đ ề ra trong các kỳ đại hội. Trong tất cả các công cụ để quản lý mọi hoạt động kinh t ế- xã h ội, Nhà n ước ta hết sức quan tâm đến công cụ NSNN, vì nó là y ếu t ố v ật ch ất vô cùng quan tr ọng trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Với cơ chế cũ trước đây, Nhà nước can thiệp sâu vào hoạt động kinh tế vi mô. Trong cơ chế mới- cơ chế thị trường các vấn đề của kinh tế sẽ đ ược giải quy ết theo qui luật của thị trường và các quan hệ cung- cầu. Nhà nước ch ỉ dùng các bi ện pháp v ề thuế, các khoản chi ngân sách để can thiệp nhằm ổn định nên kinh tế và phát triển theo mục tiêu đã định. Hoạt động của NSNN gắn với hoạt động của nền kinh tế th ị trường, do đó thu NSNN luôn luôn biến đổi và phụ thuộc vào nhịp độ phát triển kinh tế và hiệu quả kinh tế. Xu hướng chung là khi nền kinh tế tăng trưởng sẽ làm tăng kh ả năng tăng kh ối lượng thu và ngược lại. Tuy nhiên, điều cần lưu ý ở đây là mức thu NSNN phải gắn với nhịp độ tăng của nền kinh tế, nếu tận thu quá m ức s ẽ d ẫn t ới tình tr ạng suy thoái do không kích thích được sản xuất và đầu tư. Trong bất kỳ tình huống nào, sức ép chi luôn luôn là gánh nặng cho NSNN. Đ ặc biệt là trong giai đoạn đầu khi mà nền kinh tế chưa kịp phát triển, trong khi đó ph ải nhanh chóng giải quyết nhiều vấn đề bức xúc của xã hội. Bên c ạnh đó chi NSNN còn bị sức ép của tình trạng có lạm phát cao xẩy ra. Khi có lạm phát cao thì kh ối l ượng ngân sách tăng chậm hơn nhu cầu chi, vì vậy nếu xử lý không tốt sẽ dẫn đến rối loạn, gây thiệt hại về nhiều mặt cho nền kinh tế. Tóm lại, NSNN có vai trò vô cùng quan trọng. Bởi lẽ NSNN có ch ức năng huy động nguồn lực tài chính để hình thành các quỹ tiền tệ tập trung, đ ảm b ảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Đồng thời NSNN còn thực hiện cân đối bằng tiền giữa các khoản thu và các khoản chi tiêu của Nhà nước. Đây là vai trò cơ bản c ủa NSNN mà bất kỳ một quốc gia nào cũng phải thực hiện Về mặt kinh tế Nhằm đảm bảo cân đối hợp lý của cơ cấu kinh tế và s ự ổn đ ịnh c ủa chu kỳ kinh doanh. Trước xu thế phát triển mất cân đối của các ngành, lĩnh v ực trong n ền kinh t ế, thông qua quỹ ngân sách, Chính phủ có thể áp dụng các chính sách ưu đãi, đ ầu t ư vào các lĩnh vực mà tư nhân không muốn đầu tư vì hiệu quả đầu tư th ấp; hoặc qua các chính sách thuế bằng việc đánh thuế vào những hàng hoá, dịch vụ c ủa t ư nhân có kh ả năng thao túng trên thị trường; đồng thời, áp dụng mức thuế suất ưu đãi đối với nh ững hàng hoá mà Chính phủ khuyến dụng. Nhờ đó mà có th ể đảm bảo sự cân đ ối, công
  8. bằng trong nền kinh tế. Giá cả trên thị trường biến động dựa vào quy luật cung cầu của hàng hoá, dịch vụ. Ngân sách nhà nước cũng được sử dụng như là công cụ đảm bảo sự ổn định giá cả của thị trường. Chẳng hạn, khi Chính ph ủ mu ốn b ảo h ộ cho những người có thu nhập thấp, Chính phủ sẽ đặt giá trần là m ức giá cao nh ất mà người bán được phép đưa ra và mức này thường là thấp h ơn mức giá cân b ằng trên th ị trường, khi đó tất yếu sẽ dẫn đến sự thiếu hụt trên thị trường. để duy trì hiệu lực c ủa giá trần thì Chính phủ lại tiếp tục can thiệp b ằng cách cung ph ần thi ếu c ủa hàng hoá, lượng hàng hoá này được lấy từ quỹ dự trữ của Nhà nước thuộc ngân sách nhà n ước, tức là trong khoản chi ngân sách phải có khoản dự phòng này. Trái lại khi Chính phủ muốn bảo hộ cho người sản xuất, muốn hàng hoà của một ngành nào đó được khuyến khích thì sẽ đặt giá sàn là mức giá thầp nhất mà người bán đ ược phép đ ưa ra và m ức này thường lớn hơn giá cân bằng trên thị trường. Điều này s ẽ dẫn đ ến s ự d ư th ừa hàng hoá trên thị trường và khi đó là sự can thiệp của Chính ph ủ bằng cách mua h ết lượng hàng thừa. Khoản tiền sử dụng để thanh toán cho người bán cũng là từ ngân sách nhà nước. Về mặt xã hội Bất công, ô nhiễm môi trường…Chẳng hạn trước vấn đề công bằng xã hội. Chống lại sự bất công là cần thiết cho một xã hội văn minh và ổn đ ịnh, Chính ph ủ thường sử dụng các biện pháp tác động tới thu nhập để thiết lập lai s ự công bằng xã hội. Điều chỉnh thu nhập của các nhóm dân cư khác nhau bằng cách trợ cấp thu nh ập cho những người có thu nhập thấp hoặc hoàn toàn không có thu nh ập. M ột cách khác, Chính phủ có thể sử dụng biện pháp tác động gián tiếp đến thu nhập bằng cách t ạo khả năng tạo thu nhập cao hơn dựa vào năng lực của bản thân. theo đánh giá thì đây là biện pháp tích cực nhất, đồng thời làm tăng thu nh ập quốc dân; nói cách khác, nó làm cho một số người dân giàu lên mà không ai nghèo đi; hoặc qua chính sách thu ế thu nhập, sử dụng mức thuế suất cao đối với người có thu nhập cao và ngược lại. Về mặt thị trường Cơ chế thị trường kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và t ạo đI ều ki ện thuận lợi cho sự hoạt động tự do của họ. Do đó làm cho nền kinh tế phát tri ển năng động, phát huy được các nguồn lực của xã hội vào phát triển kinh tế. Cạnh tranh buộc nhà sản xuất phải hao phí lao động cá bi ệt đ ến m ức th ấp nh ất có thể được bằng cách áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, nhờ đó mà thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động, nâng cao ch ất lượng và số lượng hàng hoá. Sự tác động của cơ chế thị trường đưa đến sự thích ứng tự phát giữa kh ối lượng và cơ câú sản xuất với khối lượng và cơ cấu nhu cầu xã h ội, nh ờ đó có th ể tho ả mãn nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và sản xuất về hàng ngàn, hàng vạn loại sản phẩm khác nhau. Trong cơ chế thị trường tồn tại sự đa dạng của các th ị trường. Bên c ạnh th ị trường hàng hoá đã xuất hiện từ lâu là các th ị trường về vốn, lao đ ộng… ph ục v ụ cho
  9. sản xuất kết hợp với hệ thống giá cả linh hoạt vận động theo quan hệ cung cầu của hàng hoá, dịch vụ. Vai trò huy động các nguồn Tài chính để đảm b ảo nhu c ầu chi tiêu c ủa Nhà nước Thực hiện chức năng này, Nhà nước thông qua NSNN để biết được nguồn thu - chi nào là cơ bản của từng thời kỳ, từng giai đoạn và do đó có nh ững gi ải pháp đ ể làm tốt thu - chi. Nhà nước định ra cơ cấu thu- chi h ợp lý ; theo dõi các phát sinh và nh ững nhân tố ảnh hưởng đến thu- chi... Tóm lại, NSNN có hai chức năng cơ bản- chức năng phân phối và chức năng giám đốc. NSNN không thể cân đối được nếu như không thực hiện đầy đủ hai chức năng đó, bởi vì: nếu không có sự giám đốc trong việc động viên khai thác h ợp lý các ngu ồn thu và do đó sẽ dẫn đến tình trạng th ất thu d ưới nhi ều hình th ức. N ếu không th ực hiện tốt chức năng phân phối thì cũng không thể động viên được nguồn thu cho NSNN. Chức năng phân phối và chức năng giám đốc của NSNN đều có vị trí và tầm quan trọng của nó. Do đó, cần phải coi trọng cả hai chức năng đó và t ổ chức ch ỉ đ ạo đ ể các cơ quan chức năng thực hiện tốt hai chức năng đó của NSNN. Quan điểm cơ bản về quản lý và sử dụng NSNN. Để thực hiện tốt công tác quản lý và sử dụng NSNN, tuỳ theo ch ức năng, nhi ệm vụ của từng cấp, từng ngành, cần phải quán triệt các quan điểm sau đây: + Trong chính sách tạo vốn của NSNN phải quán triệt tư t ưởng không t ận thu đ ể bao chi, mà phải động viên nguồn thu ngân sách một cách h ợp lý đ ể đáp ứng nhu c ầu chi trên cơ sở vừa bồi dưỡng và phát triển nguồn thu, vừa ki ểm soát và t ập trung khai thác một cách hợp lý và có hiệu quả các nguồn thu. + Thực hiện tốt công tác phân phối và sử dụng vốn NSNN theo nguyên t ắc ti ết kiệm, hiệu quả, chấm dứt tình trạng các khoản chi bao cấp tràn lan c ủa c ơ ch ế cũ trước đây. Thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm". + Thực hiện phương pháp cân đối ngân sách một cách khoa h ọc để vừa phát huy tốt các nguồn lực bên trong và tranh thủ cao độ, có hiệu quả nguồn lực tài chính bên ngoài; vừa phù hợp với pháp luật của Nhà nước ta, v ừa phù h ợp v ới thông l ệ qu ốc t ế và bảo đảm sự chủ động của NSNN. + Đổi mới chế độ phân cấp quản lý NSNN theo h ướng giảm bớt ch ức năng qu ản lý kinh tế của chính quyền địa phương, tránh để tình trạng phân tán và sử dụng kém hiệu quả nguồn vốn ngân sách.
  10. + Ban hành đồng bộ hoá và tiếp tục hoàn thiện luật NSNN. Đồng thời giáo dục, nâng cao trình độ cho toàn dân, cho các ch ủ th ể của nền kinh t ế cũng nh ư trình đ ộ chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chức năng trực tiếp làm công tác quản lý NSNN. Nghiêm chỉnh chấp hành luật NSNN. Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của Ngân sách nhà nước, để đảm bảo cho hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội đòi hỏi
  11. phải có những nguồn tài chính nhất định. Những nguồn tài chính này được hình thành từ các khoản thu thuế và các khoản thu ngoài thuế . Đây là vai trò l ịch s ử c ủa Ngân sách nhà nước mà trong bất kỳ chế độ xã h ội nào, c ơ ch ế kinh t ế nào ngân sách nhà nước đều phải thực hiện. Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận tối đa, các yếu tố cơ bản của th ị trường là cung c ầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động c ủa th ị tr ường. S ự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ làm cho giá cả tăng lên hoặc gi ảm đ ột bi ến và gây ra biến động trên thị trường, dẫn đến sự dịch chuyển vốn của các doanh nghiệp từ ngành này sang ngành khác, từ địa phương này sang địa phương khác. Việc dịch chuy ển vốn hàng loạt sẽ tác động tiêu cực đến cơ cấu kinh tế, nền kinh tế phát tri ển không cân đối. Do đó, để đảm bảo lợi ích cho nhà sản xuất cũng nh ư ng ười tiêu dùng nhà n ước phải sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị trường nhằm bình ổn giá cả thông qua công cụ thuế và các khoản chi từ ngân sách nhà nước dưới các hình th ức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ hàng hoá và dự trữ tài chính. Đồng thời , trong quá trình điều tiết thị trường ngân sách nhà nước còn tác động đến thị trường tiền t ệ và th ị trường vốn thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính như: phát hành trái phi ếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia mua bán ch ứng khoán trên th ị tr ường vốn… qua đó góp phần kiểm soát lạm phát. Vai trò của NSNN trong việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang. Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới, trình độ dân trí th ấp, đi ều ki ện đ ịa lý phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, lại có nhi ều dân t ộc cùng chung s ống. Sau chi ến tranh giải phóng dân tộc, tỉnh Hà Giang còn chịu hậu quả nặng nề của 10 năm chiến tranh bảo vệ biên giới. Hầu như các cơ sở kinh tế đều bị tàn phá nặng nề, đời s ống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc h ết sức khó khăn. Tháng 10/1991 khi tách tỉnh, kết cấu hạ tầng hầu như không có gì. Trong những năm qua được sự quan tâm giúp đỡ của Trung ương, nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang đã khắc phục khó khăn, từng bước ổn định đời sống, phát triển sản xuất. Đạt được nh ững thành tích đó, ngoài sự lãnh chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước từ Trung ướng đến cơ sở, còn có các nhân tố khác, trong đó có vai trò của NSNN. Nhờ có nguồn thu NSNN m ới đảm b ảo chi thường xuyên cho sự hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà n ước, các đoàn th ể và các cơ quan hành chính sự nghiệp, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng. Nhờ có NSNN mà phần nào đã đáp ứng được nhu cầu các khoản chi cấp bách, đặc bi ệt là chi cho đầu tư phát triển chiếm tỷ lệ khá cao trong chi ngân sách. Nh ờ đó mà hi ện nay ở Hà Giang nhiều cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hoá xã h ội đã và đang đ ược xây d ựng, tu bổ, nâng cấp và đưa vào sử dụng.
  12. Trong nông nghiệp, chi NSNN tập trung cho việc ứng dụng khoa h ọc- kỹ thuật vào sản xuất, đầu tư để tạo điều kiện thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng v ật nuôi và cơ cấu mùa vụ v.v... Chẳng hạn đầu tư cho việc lai t ạo gi ống cây con cho năng suất cao. Tuy lâm nghiệp đã chú ý đầu tư đ ể đẩy m ạnh tr ồng m ới r ừng, b ảo v ệ và tái sinh rừng, phát triển mô hình rừng trang trại, v ườn r ừng, theo ph ương th ức lâm- nông kết hợp. Trong lĩnh vực văn hoá- xã hội: NSNN đã dành một tỷ lệ thích đáng cho đ ầu tư xây dựng và phát triển các cơ sở vật chất- kỹ thuật cho lĩnh v ực giáo d ục đào t ạo, h ệ thống trường chuyên, lớp chọn, trường dân tộc nội trú, trường cao đ ẳng s ư ph ạm. Mặc dù nguồn thu ngân sách còn hạn chế, nhưng tỉnh cũng rất quan tâm đầu tư cho lĩnh vực y tế và dân số kế hoạch hoá gia đình. C ụ thể là đ ầu t ư nâng c ấp c ải t ạo các cơ sở khám chữa bệnh, tạo điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được tốt hơn. Ngoài ra NSNN còn thực hiện một loạt các chương trình khác như: củng cố mở rộng nâng cấp các đường giao thông liên huyện, liên xã, đầu tư để xây dựng đường dây, trạm biến áp để đưa điện lưới quốc gia về các huy ện vùng cao. Đ ầu t ư xây d ựng các cơ sở phát thanh, truyền hình, bưu điện... để đáp ứng nhu cầu đời sống văn hoá, tinh thần cho các dân tộc trong tỉnh. Đồng thời cũng nhằm tạo các ph ương tiện tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, để nhân dân các dân tộc hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, để họ có sự tin tưởng và tự giác thực hiện. Đối với lĩnh vực thu NSNN: thông qua các hình th ức hoạt đ ộng thu NSNN mà đã động viên được ngày càng nhiều hơn, tốt hơn nguồn lực tài chính cho đ ịa ph ương. S ự động viên đó, một mặt đảm bảo nguồn thu, tránh thất thu cho NSNN, nh ưng đồng thời cũng qua đó thực hiện sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đóng góp c ủa nhân dân, c ủa các chủ thể kinh tế, các TPKT trong tỉnh. Tóm lại, NSNN có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát tri ển kinh t ế - xã h ội nói chung. Đối với tỉnh Hà Giang thì vai trò NSNN lại càng đặc biệt quan trọng. Nh ờ có nguồn thu NSNN mà đã tạo điều kiện về nguồn tài chính để đáp ứng nhu c ầu xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo kinh phí chi tiêu cho các hoạt đ ộng c ủa bộ máy chính quyền và các tổ chức Đảng, đoàn thể, các lực lượng vũ trang an ninh... 2.3 Ngân sách Nhà nước là công cụ định huớng phát triển sản xuất Để định hướng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhà nước sử dụng công cụ thuế và chi ngân sách. Bằng công cụ thuế một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách, m ặt khác nhà nước sử dụng thuế với các loại thuế, các mức thuế suất khác nhau s ẽ góp ph ần kích thích sản xuất phát triển và hướng dẫn các nhà đ ầu t ư bỏ v ốn đ ầu t ư vào nh ững
  13. vùng những lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh t ế theo h ướng đã đ ịnh. Đ ồng thời, với các khoản chi phát triển kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ t ầng, vào các ngành kinh tế mũi nhọn… nhà nước có thể tạo điều kiện và h ướng dẫn các ngu ồn vốn đ ầu tư của xã hội vào những vùng, lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý.
  14. 2.4 Ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các t ầng l ớp dân cư Nền kinh tế thị trường với những khuyết tật của nó sẽ dẫn đến s ự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, nhà nước phải có một chính sách phân ph ối l ại thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân c ư. Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính hữu hiệu được nhà nước sử dụng để đi ều ti ết thu nhập, với các sắc thuế như thuế thu nhập luỹ tiến, thuế tiêu th ụ đ ặc bi ệt … m ột m ặt tạo nguồn thu cho ngân sách mặt khác lại điều tiết một phần thu nhập của t ầng l ớp dân cư có thu nhập cao. Bên cạnh công cụ thuế, với các khoản chi của ngân sách nhà nước như chi trợ cấp, chi phúc lợi cho các chương trình phát triển xã hội: phòng chống dịch bệnh, phổ cập giáo dục tiểu học, dân số và kế hoạch hoá gia đình… là ngu ồn b ổ sung thu nhập cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp . Các vai trò trên của Ngân sách nhà nước cho thấy tính chất quan trọng của Ngân sách nhà nước, với các công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế . Từ sự phân tích trên đây, ta có th ể hiểu đ ược b ản ch ất c ủa NSNN - đó là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà n ước với các thành viên trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện trong các chức năng quản lý và đi ều hành n ền kinh tế - xã hội của Nhà nước. Hoạt động của NSNN luôn luôn gắn liền với thực hiện các chức năng của Nhà nước. Từ sự phân tích trên đây, ta có thể hiểu được bản ch ất c ủa NSNN - đó là h ệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các thành viên trong xã h ội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn l ực tài chính nh ằm đ ảm bảo yêu cầu thực hiện trong các chức năng quản lý và đi ều hành n ền kinh t ế - xã h ội của Nhà nước. Hoạt động của NSNN luôn luôn gắn li ền với th ực hi ện các ch ức năng của Nhà nước. NộI DUNG CƠ BảN CủA NGÂN SÁCH NHÀ NƯớC II. THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Thu Ngân sách nhà nước phản ảnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước sử dụng quyền lực chính trị để phân ph ối các nguồn tài chính c ủa xã h ội dưới hình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà n ước. Nh ư v ậy, thu ngân sách nhà nước bao gồm toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào tay nhà nước để hình thành quỹ ngân sách nhà nước đáp ứng cho các nhu c ầu chi tiêu c ủa nhà nước. Thu ngân sách nhà nước bao gồm: thu trong cân đối ngân sách và thu bù đ ắp thiếu hụt của ngân sách. Để có kinh phí chi cho mọi hoạt động của mình, nhà nước đã đặt ra các khoản thu (các khoản thuế khóa) do mọi công dân đóng góp để hình thành nên quỹ ti ền t ệ c ủa
  15. mình. Thực chất, thu ngân sách nhà nước là việc nhà nước dùng quy ền l ực c ủa mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách nhà n ước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước. Ở Việt Nam, Đứng về phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm nh ững khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà n ước. Về mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống nh ững quan h ệ kinh t ế gi ữa Nhà n ước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính đ ể hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu c ủa mình. Thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp. Đặc điểm thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước là tiền đề cần thi ết đ ể duy trì quy ền l ực chính tr ị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Mọi khoản thu của nhà nước đều được thể chế hóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của nhà nước; Thu ngân sách nhà nước phải căn cứ vào tình hình hi ện th ực c ủa n ền kinh t ế; biểu hiển ở các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội GDP, giá cả, thu nhập, lãi suất, v.v... Thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không tr ực tiếp là chủ yếu. 1. Thu trong cân đối ngân sách: gồm các khoản thu mang tính ch ất Thu ế (Thuế ,Phí , Lệ phí ) và thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước. 1.1 Thu Thuế 1.1.1 Khái niệm về thuế Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật pháp qui định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tượng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã h ội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Do đó, t ại th ời đi ểm n ộp thu ế, người nộp thuế không được hưởng bất kỳ một lợi ích nào mà xem như đó là
  16. trách nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà nước . Nh ư vậy , thu ế mang tính c ưỡng ch ế và được thiết lập theo nguyên tắc luật định. Bằng quyền lực chính trị của mình, nhà nước đã ban hành các loại thuế để tạo lập nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, các khoản thu này được bố trí sử dụng theo dự toán ngân sách nhà nước đã được phê duyệt cho tiêu dùng công cộng và đ ầu t ư phát triển nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Như vậy, thuế ph ản ảnh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội, thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội. Đặc điểm Thứ nhất, thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách. Tính bắt buộc thể hiện ở chỗ, đối với người nộp thuế, đây là nghĩa vụ chuy ển giao tài sản của họ cho nhà nước khi có đủ điều ki ện mà không ph ải là quan h ệ thanh toán dù trong hợp đồng hay ngoài hợpđồng. Đối với các cơ quan thu thuế, khi thay mặt nhà nước thực hiện các hành vi nhất định cũng không được phép lựa chọn thực hiện hay không thực hiện hành vi thu thuế, có sự phân biệt đôi xử đối với người nộp thuế. Đặc tính bắt buộc của thuế là một trong những dấu hiệu quan trọng đ ể phân bi ệt thuế với các khoản thu trên cơ sở tự nguyện hình thành nên ngân sách nhà n ước. Đi ều này có ý nghĩa pháp lý quan trọng khi ban hành pháp luật về thu ế và chi ph ối ph ương pháp thực hiện thu thuế của các ở quan nhà nước có thẩm quyền. Tính bắt buộc của thuế có mối quan hệ mật thiết với tínhkhông hoàn tr ả. Do thuế không có tính hoàn trả, về lý thuyết,khó tìm th ấy s ự tự nguy ện khi n ộp thu ế - hành vi chuyển giao một khối lượng tài sản cho nhà nước và ch ắc ch ắn s ẽ không nhận lại được chúng trong tương lai. Vì vậy, để thực hiện thu thuế ổn định, ph ải s ử dung biện pháp bắt buộc như là một thuộc tính cơ bản của thuế. Thứ hai, thuế gắn với yếu tố quyền lực. Tính quyền lực của thuế được xuất phát bởi lý do xuất hiện các khoản thu v ề thuế của nhà nước. Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, thực hiện việc cung cấp cơ sở vật chất cho nhà nước th ực hiện các ch ức năng và nhi ệm v ụ c ủa mình. Các nhà kinh tế, chính trị đều thống nhất cho rằng thuế là bi ện pháp ch ủ y ếu của nhà nước để nhà nước điều tiết hoặc can thiệp vào n ền kinh t ế. B ằng quy ền l ực chính trị, nhà nước tạo ra cho thuế tính cố định, sự tuân thủ của đối tượng nộp thuế. Các yếu tố như đối tượng nộp thuế, thuế suất . . . đ ược quy đ ịnh tr ước và mang tính ổn định trong một khoảng thời gian nhấtđịnh. Ch ỉ gắn với yếu tố quy ền l ực, thu ế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn thu nhập tài chính cho nhà nước. Để gắn được yếu tố quyền lực nhà nước cho thuế, các quốc gia, không phân bi ệt mức độ phát triển, đều có xu hướng ghi nhận thuế ở văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất - các luật thuế. Điều đó cũng gián tiếp đảm bảo tính ổn đ ịnh trong việc xác định nguồn thu nhập tài chính của nhà nước và đảm bảo tính ổn đ ịnh c ủa thuế. Thứ ba, thuế không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp.
  17. Thuế không phải là khoản phải trả khi các đối tượng nộp thu ế đã nh ận đ ược một lợi ích hay quyền lợi cụthể nào từ phía nhà nước. Bất kỳ "ai", khi đủ đi ều ki ện đều phải hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, không phân biệt họđã nhận được những lợi ích công cộng nào. Điều này cho phép phân bi ệt thu ế v ới các kho ản thu n ộp do đối tượng nộp chỉ thực hiện nghĩa vụ của mình đã nhận được một lợi ích nhất định từ phía nhà nước. Đó là các khoản thu từ phí, lệ phí. Thuế xuất hiện do nhu cầu chi tiêu của nhà nước, của các ch ủ th ể qu ản lý xã hội. Kết quả của việc sử dụng các khoản thu từ thuế chủ yếu là các sản ph ẩm công (những lợi ích không thể xác định chính xác được theo giá trị vật chất). Điều đó lý giải vì sao thuế phải là các khoản thu không cótính hoàn tr ả. Tuy v ậy, kết quả những sản phẩm do nhà nướcsử dụng các khoản thu từ thu ế l ại được th ụ hưởng bởi chính những đối tượng nộp thuế, đó là s ự yên bình xã h ội, s ự phát tri ển và thịnh vượng, chế độ phúc lợi công cộng. . . Nói khác đi người nộp thu ế đ ược hoàn tr ả một cách gián tiếp những khoản tiền nộp cho nhà nước. 1.1.2. Phân loại thuế Để phục vụ cho công tác nghiên cứu, đánh giá phân tích quá trình vận d ụng và quản lý các loại thuế đòi hỏi phải phân loại thu ế. Nghiên cứu về thuế không chỉ có ý nghĩa về lý thuyết mà còn có ý nghĩa quan trọng trong th ực tiễn. Hệ thống thu ế m ột quốc gia thường do nhiều loại thuế hợp thành. Mỗi loại thuế có đ ặc đi ểm và ch ức năng riêng, nhưng nếu phân tích cân nhắc theo những tiêu chí nh ất đ ịnh thì m ột s ố lo ại thuế lại có chức năng, đặc điểm tương tự, có thể gộp thành một"loại". Vi ệc tìm ra những loại thuế với những đặc tính chung sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà lập pháp, hànhpháp; với chính những đối tượng có liên quan đến hoạt động về thuế. Điều này lý giải sự cần thiết phải tiến hành phânloại thuế theo các tiêu chí khác nhau. * Phân loại thuế theo tính chất: Với cách phân loại này thuế được chia thành hai nhóm lớn: - Nhóm thuế trực thu: là những loại thuế mà nhà n ước thu tr ực ti ếp vào các pháp nhân hay thể nhân khi có tài sản hoặc thu nhập được qui định nộp thuế.. Ví d ụ nh ư: thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà đất … Chúng được gọi là thuế trực thu vì người có nghĩa v ụ nộp thu ế th ường là ng ười gánh chịu thuế. Nói cách khấc, người nộp thuế không thể chuyển nghĩa vụ thuế sang cho các đốitượng khác. Thuế trực thu có ưu điểm đảm bảo sự công bằng trongviệc điều tiết thu nh ập thặng dư của người nộp thuế nhưng thường gây ra sự phản ứng về thuế của người nộp thuế do không có sự chuyển dịch về thuế và có m ột sự đ ảm bảo ch ắc ch ắn r ằng phải thực hiện một nghĩa vụ nộp tiền
  18. - Nhóm thuế gián thu bao gồm các loại thuế như thuế xuất nhập khẩu, thuế gắn với sản xuất và bán hàng hoá. . Ví dụ như: V.A.T, thuế tiêu thụ đặc biệt… Gọichúng là thuế gián thu vì người gánh chịu thuế là khách hàng, nh ưng ng ười nộp thuế lại là người bán hàng, nhà nhập khẩu. Nói khác đi, đã có s ự chuy ển nghĩa v ụ thuế từ khách hàng sang người kinh doanh. Thuế gián thu có ưu điểm thường hạn chế sự phản ứng thuế t ừ người gánh ch ịu thuế nhưng lại không tạo ra sự bình đẳng về điều tiết thu nh ập c ủa nh ững đ ối t ượng có thu nhập chênh lệch. Xác định thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa pháp lý quan trọng. Để đ ảm bảo tính công bằng trong điều tiết thu nhập cần gia tăng (ban hành luật đi ều ch ỉnh) các loại thuế trực thu. Tuy vậy, việc tăng các loại thuế trực thu lại đứng trước nguy cơ không thu hút, khuyến khích việc công khai thu nhập và gây ra s ự ph ản ứng t ừ người nộp thuế. Để đảmbảo nguồn thu cho nhà nước, cần gia tăng. (ban hành luậtđiều chỉnh) các loại thuế gián thu nhưng sẽ làm tăng khoảng cách thu nh ập và trong chừng mực nào đó, sẽ hạn chế tiêu dùng xã hội. Cho dù v ậy, thực t ế ở các qu ốc gia (trong đó cóViệt Nam), các loại thuế trực thu thường không phổ bi ếnbằng thu ế gián thu do sự dễ dàng chấp nhận hơn từ phía khách hàng đối với các lo ại thu ế gián thu. Cách phân loại thuế theo tính chất cho th ấy được vai trò c ủa t ừng lo ại thu ế trong phân phối và điều tiết thu nhập của các chủ thể trong xã hội, ph ản ảnh m ối t ương quan giữa thuế trực thu và thuế gián thu trong tổng thu nh ập v ề thu ế c ủa ngân sách nhà nước và có ý nghĩa trong việc hệ thống hóa một cách khoa h ọc các s ắc thu ế ph ục vụ cho việc nghiên cứu và thiết kế các chính sách thuế. * Phân loại thuế theo đối tượng đánh thuế: theo cách phân l ọai này h ệ th ống thu ế được chia thành: - Thuế đánh vào các hoạt động sản xuất kinh doanh. Ví dụ: thuế giá trị gia tăng (V.A.T)
  19. - Thuế đánh vào sản phẩm. Ví dụ: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu. - Thuế đánh vào thu nhập. Ví dụ: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nh ập cá nhân. Thuế đánh vào thu nhập: chỉ thực hiện đối với những đốitượng có giá trị thặng dư phát sinh từ tài sản của họ. Các loại thuế như thuế thu nhập doanh nghi ệp, thu ế thu nhập cá nhâncó đối tượng tính thuế là những ph ần thu nh ập phát sinhtrong quá trình sử dụng tài sản của mình hay do kết quả củalao động... Ví dụ: thu ế thu nh ập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân - Thuế đánh vào tài sản.:là thuế đánh vào bản thân tài sản chứ không phải đánh vào phần thu nhập phát sinh từ tài sản đó. Ví dụ: thuế nhà đất, thuế trước bạ. Các loại thuế như thuế nhà đất, thuế vốn, thuế chuy ểnnhượng: tài s ản, chuyển nhượng vốn là loại thuế tài sản. Các quốc gia có thể dựa vào đối t ượng tài s ản đ ể tách hoặc gộp thuế phù hợp với điều kiện cụ the. - Thuế đánh vào các tài sản thuộc sở hữu nhà nước. Ví dụ: thuế tài nguyên. Nếu căn cứ vào đối tượng nộp thuế, thuế bao gồm thuế đánh vào các ch ủ th ể có yếu tố nước ngoài, thuế đối với các tổ chức và cá nhân trong nước. Cách phân chia này có ý nghĩa pháp lý quan trọng khi nhà nước cần th ể hiện chính sách đối v ới các nhà đầu tư trong từng thời kỳ. Chẳng h ạn,đối với trường h ợp c ần thi ết ph ải h ạn ch ế sự tham gia của các chủ thể có vốn đầu tư nước ngoài tại một quốc gia, chính sách thuế khá ngặt nghèo có thể xác định là một trong những rào cản quan trọng đối với đầu tư nước ngoài. Ngược lại chính sách mở cửa cũng đồng nghĩa với s ự nới rộng đến tối đa ưu đãi về thuế đối với các đối tượng này. Tuy nhiên,cũng ph ải th ừa nh ận rằng cách phân biệt thuế theo đối tượng nộp nếu không được giải quy ết h ợp lý, những tác động ngược chiều của chúng hoàn toàn không nh ỏ đối v ới n ền kinh t ế, đ ối với tình hình xã hội. Việc phân loại thuế theo đối tượng như trên vừa phát huy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hỗ trợ cho nhau để bảo đảm th ực hi ện ch ức năng toàn di ện c ủa c ả h ệ thống thuế. 1.1.3. Vai trò của thuế Thuế không chỉ đơn thuần là một nguồn thu ch ủ yếu của ngân sách nhà n ước mà thuế còn gắn liền với các vấn đề về sự tăng trưởng kinh tế, về sự công bằng trong phân phối và sự ổn định xã hội. Trong phạm vi nghiên cứu các vấn đ ề c ủa tài chính và ngân sách nhà nước, chúng ta sẽ xem xét thuế với các vai trò cơ bản c ủa nó là: t ạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, kích thích tăng trưởng kinh t ế và đi ều ch ỉnh thu nhập. *Tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước: Là vai trò đầu tiên của thuế. Mỗi m ột loại thuế mà nhà nước ban hành đều nhằm vào mục đích là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường vai trò này của thuế càng n ổi b ậc b ởi thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước.
  20. Vai trò tạo nguồn thu của thuế xuất phát từ yêu cầu và quy ền l ực c ủa nhà n ước đối với xã hội. Nhà nước với quyền lực chính trị có th ể ban hành các loại thu ế v ới các mức thuế suất tuỳ ý. Tuy nhiên, khi xét về mục đích lâu dài khi định ra các lo ại thu ế, thuế suất, đối tượng chịu thuế chính phủ không ch ỉ đơn thuần th ỏa mãn nhu c ầu tăng thu của ngân sách nhà nước, mà phải thỏa mãn đồng th ời yêu c ầu tăng tr ưởng kinh t ế và điều chỉnh thu nhập. Việc đáp ứng cả ba yêu cầu đó đòi hỏi chính ph ủ ph ải tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng khi ban hành các loại thuế, bởi vì ngu ồn thu c ủa thu ế b ắt nguồn từ thu nhập quốc dân, khả năng động viên của thuế phụ thu ộc ch ủ y ếu vào phát triển của sản xuất, hiệu quả của sản xuất. Như vậy, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước là vai trò cơ bản của thuế. Tuy nhiên để phát huy tốt vai trò này cần phải đặt thuế trong mối quan hệ với tăng

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản