
GIỚI THIỆU MỘT SỐ MÔ HÌNH NUÔI THỦY ĐẶC
SẢN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ có quần thể các
loài tôm cá nước ngọt tự nhiên phong phú, đa dạng và có
sinh khối lớn mà còn là vùng sản xuất nguyên liệu thủy sản
đứng đầu trong cả nước. Bên cạnh các đối tượng nuôi chủ
lực như Cá Tra, Tôm Sú và nhiều loài cá nước ngọt truyền
thống khác, nhiều đối tượng thủy đặc sản cũng đã và đang
được phát triển nuôi như Cá Chình, Bống tượng, Cua, …
1. Làng Cá Chình
- Địa điểm: ấp 2,3, phường Tân Thành, tp. Cà Mau, tỉnh Cà
Mau.
- Tổng diện tích: khoảng 60 ha.
Hệ thống ao nuôi Cá Chình

- Hệ thống nuôi: nuôi ao đất, các ao được xây dựng từ vùng
trồng lúa trước đây. Ao nuôi Cá Chình có diện tích khá
nhỏ: 200 – 300 m2/ao, độ sâu ao: 1 – 1,4 m, hình chữ nhật:
4 - 6 m x 40 - 50 m. Mỗi hộ thường có nhiều ao để đáp
ứng quy trình nuôi: san cá khi lọc cở và điều trị bệnh.
- Phương thức nuôi: mật độ thấp (0,7 - 1 con/m2), không
thay nước, chỉ cấp nước khi cần.
- Giống cá:
+ Nguồn giống: Cá Chình giống được thu gom từ tự nhiên
ở các tỉnh miền Trung
+ Cỡ giống thả nuôi: 30 - 50 g/con, 20 - 30con/kg
- Thời gian nuôi: 1 – 1,5 năm
- Mùa vụ: quanh năm
- Thức ăn sử dụng: cá tươi, chủ yếu cá Rô phi
- Trọng lượng cá khi thu hoạch: 1 – 1,5 kg/con
- Tỉ lệ sống: tuỳ vào cỡ giống thả, tỉ lệ sống dao động 50 –
80 %

- Tại phường có cơ sở dịch vụ cung cấp giống Cá Chình đủ
cở và thu mua sản phẩm cho khu vực. Điều này đã góp
phần không nhỏ vào sự phát triển nuôi Cá Chình tại địa
phương.
Cơ sở dịch vụ: cung cấp giống và thu mua sản phẩm
2. Sản xuất giống và nuôi Cua thịt
- Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cua thịt ngày càng cao của
thị trường, nhiều nông dân đã thu gom cua giống từ tự
nhiên để nuôi. Tuy nhiên, các mô hình nuôi từ nguồn giống
tự nhiên không đạt hiệu quả do không có được nguồn giống
đồng cỡ, cùng loại. Đến nay, công nghệ sản xuất cua giống
thành công đã hứa hẹn khả năng phát triển các vùng nuôi
cua thương phẩm chuyên canh, tập trung. Bạc Liêu, Cà

Mau là 2 địa phương đã tiếp nhận và chuyển giao công
nghệ sản xuất cua giống.
- Cua bố mẹ: Cua ôm trứng đánh bắt ngoài tự nhiên, sức
sinh sản: 3 – 4 triệu cua bột /kg cua cái. Cua sau khi sinh
sản được thả trở lại biển nhằm bảo vệ nguồn lơi.
- Ấp trứng:
+ Độ mặn: 27 – 28%o
+ Nhiệt độ: 28oC
+ Thời gian ấp: 11 ngày
+ Sục khí nhẹ
- Ương
+ Độ mặn: giảm dần theo tuổi cua: 27 – 20 %o

+ Nhiệt độ: 26 – 27oC
+ Sục khí nhẹ
+ Tỉ lệ sống: 10 – 14 %
+ Thời gian ương: tổng thời gian: 28 + 2 ngày, từ Zoe1 –
Zoe5: 16 ngày, giai đoạn megalop: 6 – 7 ngày, giai đoạn
megalop – C2: 6 – 7 ngày.
- Thức ăn chủ yếu: ấu trùng Artemia các giai đoạn
Cua giống (C1, C2) được sinh sản nhân tạo
- Nuôi cua thịt:
+ Nguồn giống: cua tự nhiên (cỡ 4 – 5 cm/con) hoặc cua
giống giai đoạn C2 (khoảng 28 – 30 ngày tuổi) được sinh
sản nhân tạo.
+ Phương thức nuôi phổ biến: quãng canh cải tiến, nuôi
ghép nhiều loài (tôm – cua – cá kèo) trong các đầm lớn
hoặc nuôi đơn trong ao.
+ Mật độ thả: tối đa 0.1 con/m2

