intTypePromotion=1

Hiện trạng khai thác và các mối đe dọa đến nguồn lợi và môi trường sống của các loài thủy sản ở đầm Thị Nại - tỉnh Bình Định

Chia sẻ: Danh Tuong Vi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
75
lượt xem
2
download

Hiện trạng khai thác và các mối đe dọa đến nguồn lợi và môi trường sống của các loài thủy sản ở đầm Thị Nại - tỉnh Bình Định

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Việc đánh giá đúng thực trạng khai thác và các mối đe dọa đến môi trường và nguồn lợi thủy sản giúp tìm ra các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác động xấu do con người gây ra. Tổ chức hợp lý công đồng ngư dân nhằm khai thác có hiệu quả và bền vững nguồn lợi, cùng với việc nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia tích cực trong công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản là những nội dung quan trọng góp phần bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đang có chiều hướng giảm sút tại đầm Thị Nại - tỉnh Bình Định.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hiện trạng khai thác và các mối đe dọa đến nguồn lợi và môi trường sống của các loài thủy sản ở đầm Thị Nại - tỉnh Bình Định

Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn<br /> <br /> Soá 1/2012<br /> <br /> KEÁT QUAÛ NGHIEÂN CÖÙU ÑAØO TAÏO SAU ÑAÏI HOÏC<br /> <br /> HIỆN TRẠNG KHAI THÁC VÀ CÁC MỐI ĐE DỌA ĐẾN NGUỒN LỢI<br /> VÀ MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA CÁC LOÀI THỦY SẢN<br /> Ở ĐẦM THỊ NẠI - TỈNH BÌNH ĐỊNH<br /> CURRENT STATUS OF CAPTURE FISHERIES AND THEARTS TO FISHERIES<br /> RESOURCES AND AQUATIC HABITAT IN THINAI LAGOON –BINHDINH PROVINCE<br /> Trần Văn Vinh1, TS. Hoàng Hoa Hồng2<br /> TÓM TẮT<br /> Việc đánh giá đúng thực trạng khai thác và các mối đe dọa đến môi trường và nguồn lợi thủy sản giúp tìm ra các<br /> giải pháp phù hợp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác động xấu do con người gây ra. Tổ chức hợp lý công đồng<br /> ngư dân nhằm khai thác có hiệu quả và bền vững nguồn lợi, cùng với việc nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham<br /> gia tích cực trong công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản là những nội dung quan trọng góp phần bảo vệ và phát triển nguồn<br /> lợi thủy sản đang có chiều hướng giảm sút tại đầm Thị Nại - tỉnh Bình Định.<br /> Từ khóa:nguồn lợi thủy sản, các mối đe dọa, đầm Thị Nại<br /> <br /> ABSTRACT<br /> The assesment of current statuse of capture fisheries and threats to the environment and fisheries resources help to<br /> find appropriate solutions to reduce the impacts of human’s activities on the fisheries. Fishers should be well organized to<br /> sustainably capture the fisheries resource. Increasing fishers’ awareness and their participations on the tasks of fisheries<br /> management are essential to protect the living marine resources of Thi Nai Lagoon- BinhDinh province, which has been<br /> overexploited.<br /> Key words: fisheries resources, threats, Thi Nai Lagoon<br /> <br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Đầm Thị Nại nằm ở cực nam tỉnh Bình Định,<br /> bao bọc bởi thành phố Quy Nhơn và huyện Tuy<br /> Phước, đầm thông với vịnh Quy Nhơn và hướng<br /> ra biển. Đầm Thị Nại thuộc loại đầm kín, đựơc che<br /> chắn với biển bởi bán đảo Phương mai dọc theo<br /> phía đông . Với diện tích là 5.060 ha, chiều dài là<br /> 17 km, cửa đầm thông với vịnh Qui Nhơn rất hẹp<br /> (400-500) m, làm cho khả năng trao đổi nước của<br /> chúng với biển rất hạn chế. Trao đổi nước chủ yếu<br /> xảy ra dưới tác động của 2 quá trình: truyền triều<br /> và nuớc sông đổ vào đầm ra vịnh và biển. Vào mùa<br /> ít mưa nước biển có khả năng thâm nhập sâu vào<br /> vùng đầm. Nhưng vào mùa mưa, khi nước sông<br /> Kôn và các sông nhỏ khác đổ vào đầm thì hầu hết<br /> diện tích đầm bị bao phủ bởi nước ngọt.<br /> <br /> 1<br /> 2<br /> <br /> Bên cạnh sự phát triển kinh tế, do sức ép về<br /> gia tăng dân số, do nhu cầu sống nên một số bộ<br /> phận cư dân ven đầm đã tiến hành các họat động<br /> khai thác thủy sản bằng nhiều công cụ, phương tiện<br /> khác nhau mang tính chất hủy diệt như: sử dụng<br /> xung điện, các lọai ngư cụ có kích thước mắt lưới<br /> nhỏ để khai thác thủy sản một cách triệt để; khai<br /> thác các đối tượng thủy sản trong giai đọan sinh sản<br /> và các lọai tôm cá trong thời kỳ ấu niên; khai thác và<br /> tiêu thụ các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao, quý<br /> hiếm, hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng.<br /> Mặt khác, do chưa có định hướng quy họach<br /> khai thác thủy sản tại các vùng nước trên đầm, nên<br /> việc gia tăng số lượng phương tiện khai thác, các<br /> lọai ngư cụ khác nhau đã làm tăng cường độ khai<br /> thác lớn trên một diện tích mặt nước; việc tranh<br /> <br /> Nghiên cứu sinh ngành Công nghệ Khai thác Thuỷ sản năm 2008 – Trường Đại học Nha Trang<br /> Trường Đại học Nha Trang<br /> <br /> TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG ❖ 183<br /> <br /> Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn<br /> <br /> Soá 1/2012<br /> <br /> giành ngư trường khai thác giữa các hộ dân; việc<br /> sử dụng hơn 1000 ha rừng ngập mặn để nuôi trồng<br /> thủy sản; việc xả thải các tàu thuyền ở khu vực cảng<br /> và các khu công nghiệp … Các họat động kinh tế và<br /> của cộng đồng dân cư ở đây cùng với sự biến đổi<br /> của các yếu tố sinh thái ở khu vực này đã làm cho<br /> diện tích đầm có nguy cơ bị thu hẹp, môi trường<br /> vùng nước bị ô nhiễm, nguồn lợi thủy sản tại đầm<br /> Thị Nại trong những năm qua bị suy giảm nghiêm<br /> trọng, tác động trực tiếp đến sinh kế của cộng đồng<br /> dân cư và nền kinh tế thủy sản tỉnh Bình Định<br /> <br /> - Sử dụng nhóm điều tra qua việc phỏng vấn<br /> cá nhân, phỏng vấn gia đình, phỏng vấn nhóm ngư<br /> dân.<br /> - Sử dụng các thiết bị định vị GPS ở các khu<br /> vực trong đầm, các dụng cụ đo các thông số ngư cụ.<br /> - Thống kê số lượng phương tiện, nghề nghiệp<br /> khai thác, số lao động.<br /> - Sử dụng các văn bản về bảo vệ nguồn lợi thủy<br /> sản của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT.<br /> - Phỏng vấn hồi cố các cụ bô lão ngư dân trong<br /> làng, những người đã làm các nghề khai thác.<br /> - Sử dụng phương pháp thống kê số liệu bằng<br /> phần mềm SPSS.<br /> <br /> II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Nghiên cứu thực trạng về khai thác thủy sản và<br /> những tác động đến môi trường và nguồn lợi thủy<br /> sản ở đầm Thị Nại bằng các phương pháp:<br /> - Sử dụng các dữ liệu điều tra, thống kế, báo<br /> cáo trong lĩnh vực khai thác thủy sản tại đầm Thị<br /> Nại.<br /> - Sử dụng mẫu phiếu điều tra khảo sát nghề<br /> khai thác ở khu vực đầm Thị Nại, kết hợp với thông<br /> tin quản lý nghề cá của các xã quanh đầm.<br /> <br /> III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN<br /> 1. Hiện trạng khai thác thủy sản và những tác<br /> động đến môi trường và nguồn lợi thủy sản<br /> 1.1. Cơ cấu tàu thuyền gắn máy và nghề khai thác<br /> Theo thống kê số lượng tàu thuyền của Chi cục<br /> Khai thác và BVNL Thủy sản năm 2010. Cơ cấu tàu<br /> thuyền khai thác theo nghề tại các địa phương khai<br /> thác trong đầm thị Nại thể hiện tại bảng 1.<br /> <br /> Bảng 1. Cơ cấu tàu thuyền gắn máy khai thác theo nghề tại các địa phương<br /> Phân bố tàu thuyền khai thác trong đầm Thị Nại tại các địa phương<br /> TT<br /> <br /> Nghề khai thác<br /> <br /> Phước<br /> Sơn<br /> <br /> Phước<br /> Thắng<br /> <br /> Phước<br /> Thuận<br /> <br /> Phước<br /> Hòa<br /> <br /> 7<br /> <br /> 3<br /> <br /> 60<br /> <br /> 01<br /> <br /> Cào don,dắt<br /> <br /> 1<br /> <br /> 02<br /> <br /> Đón<br /> <br /> 3<br /> <br /> 03<br /> <br /> Lưới ghẹ<br /> <br /> 12<br /> <br /> 04<br /> <br /> Lưới lồng<br /> <br /> 165<br /> <br /> 05<br /> <br /> Rê ba màng<br /> <br /> 06<br /> <br /> Rớ<br /> <br /> 07<br /> <br /> Lưới cước<br /> <br /> 08<br /> <br /> Mành<br /> <br /> 09<br /> <br /> Câu tay<br /> <br /> 20<br /> <br /> 10<br /> <br /> Câu ghẹ<br /> <br /> 20<br /> <br /> Đống<br /> Đa<br /> <br /> 74<br /> <br /> 2<br /> <br /> 8<br /> <br /> 13<br /> <br /> 102<br /> <br /> 1<br /> <br /> 14<br /> <br /> 40<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 24<br /> <br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> 1<br /> <br /> Nhơn<br /> Hội<br /> <br /> Nhơn<br /> Bình<br /> <br /> Hải<br /> Cảng<br /> <br /> 1<br /> <br /> 8<br /> <br /> 13<br /> <br /> Thị Nại<br /> <br /> 72<br /> 4<br /> <br /> 1<br /> <br /> 4<br /> <br /> 20<br /> <br /> 3<br /> <br /> 4<br /> <br /> 8<br /> <br /> 111<br /> <br /> 3<br /> <br /> 4<br /> <br /> 13<br /> <br /> 311<br /> <br /> 9<br /> <br /> 7<br /> <br /> 74<br /> <br /> 3<br /> <br /> 2<br /> <br /> 31<br /> <br /> 18<br /> <br /> 21<br /> <br /> 1<br /> <br /> 2<br /> 2<br /> 1<br /> <br /> 4<br /> <br /> 26<br /> <br /> 2<br /> <br /> 23<br /> Tổng cộng<br /> <br /> Ngoài số lượng tàu thuyền tham gia khai thác<br /> với 691 tàu thuyền gắn máy, trên đầm Thị Nại vẫn<br /> còn có các nghề truyền thống, nghề thủ công không<br /> dùng tàu thuyền như: xiết bộ, đào, nhặt trên bãi<br /> hoặc lặn và cậy, cào, đáy, xúc bộ rớ chồ, gạn, chắn,<br /> đón, soi đèn, câu, nò và sử dụng khoảng 600 sỏng<br /> <br /> 184 ❖ TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG<br /> <br /> Tổng Số<br /> tàu<br /> <br /> 691<br /> <br /> nhỏ như lưới gõ, lưới cao, lưới lồng.<br /> 1.2. Sản lượng khai thác thủy sản trên Đầm Thị Nại<br /> Thống kê sản lượng khai thác của tàu gắn máy<br /> đánh bắt trên đầm Thị Nai từ năm 2005 - 2010 của<br /> Chi cục Khai thác và BVNL Thủy sản Bình Định tại<br /> bảng 2.<br /> <br /> Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn<br /> <br /> Soá 1/2012<br /> <br /> Bảng 2. Thống kê sản lượng và số tàu gắn máy khai thác trên đầm Thị Nại<br /> TT<br /> <br /> Thông số<br /> <br /> Năm 2005<br /> <br /> Năm 2006<br /> <br /> Năm 2007<br /> <br /> Năm 2008<br /> <br /> Năm 2009<br /> <br /> Năm 2010<br /> <br /> 01<br /> <br /> Sản lượng (tấn)<br /> <br /> 4000<br /> <br /> 4200<br /> <br /> 4400<br /> <br /> 5200<br /> <br /> 5290<br /> <br /> 5300<br /> <br /> 02<br /> <br /> Số tàu thuyền (chiếc)<br /> <br /> 420<br /> <br /> 456<br /> <br /> 552<br /> <br /> 660<br /> <br /> 682<br /> <br /> 691<br /> <br /> 03<br /> <br /> Bình quân sản lượng<br /> (tấn/ chiếc)<br /> <br /> 9.52<br /> <br /> 9.21<br /> <br /> 7.97<br /> <br /> 7.88<br /> <br /> 7.76<br /> <br /> 7.67<br /> <br /> Nguồn từ báo cáo sản lượng khai thác năm 2010 tại đầm Thị Nại của Chi cục Khai thác và BVNL Thủy sản Bình Định<br /> <br /> 1.3. Tác động của việc khai thác thủy sản đến nguồn<br /> lợi thủy sản trên Đầm Thị Nại<br /> - Việc gia tăng số lượng tàu thuyền khai thác<br /> trên đầm Thị Nại từ năm 2005 (420 tàu) đến nay<br /> 2010 là (691 tàu), tại bảng 2 cho ta thấy rằng theo<br /> chiều gia tăng của phương tiện sản lượng khai thác,<br /> tổng cường lực khai thác trên toàn bộ đầm tăng,<br /> nhưng sản lượng trên 1 đơn vị thuyền nghề giảm<br /> sẽ dẫn đến nguy cơ khai thác không bền vững trên<br /> đầm Thị Nại.<br /> - Các nghề truyền thống như đó, nò, rớ, câu,<br /> lưới bén, lưới gõ giảm dần thay vào đó là các nghề<br /> mới như lưới lồng, cào máy, xiết máy, xiết máy kết<br /> hợp xung điện. Hiện có trên 311 tàu gắn máy, 440<br /> sỏng làm nghề lưới lồng, đây là một nghề mới du<br /> nhập. Việc sử dụng quá nhiều lồng xếp không có<br /> quy hoạch đã đánh bắt các loài thủy sản một cách<br /> triệt để; mật độ phân bố ngư cụ lớn ở nền đáy làm<br /> ngăn cản sự di cư thông thoáng của tôm cá không<br /> theo quy luật; sự tranh chấp của các nghề khai thác<br /> tại các khu vực đánh bắt đã làm cho nguồn lợi thủy<br /> sản bị suy giảm và mất an ninh trật tự trong đầm<br /> Thị Nại.<br /> - Có trên 250 phương tiện hành nghề xiếc máy<br /> xung điện và 72 phương tiện gắn máy để cào ngao,<br /> ốc. Việc sử dụng các phương tiện xiếc máy kết hợp<br /> xung điện đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến<br /> nguồn lợi thủy sản, cùng với sự cáo xới của nghề<br /> cào don dắt làm cho các thảm cỏ đáy biển bị tàn phá<br /> nghiêm trọng.<br /> - Nghề bắt cua sống, nhủi cua giống trong hang,<br /> miệng hang nằm bên trong các bụi rễ cây ngập mặn<br /> đang là mối đe dọa đối với diện tích rừng ngập mặn.<br /> Đào hang cua đã làm chết cây ngập mặn, phá sinh<br /> cảnh sống của các động vật đáy khác.<br /> <br /> 2. Các hoạt động khác của dân cư quanh đầm và<br /> các yếu tố tự nhiên tác động đến nguồn lợi thủy<br /> sản trên đầm Thị Nại<br /> 2.1. Ô nhiễm từ hoạt động nuôi trồng thủy sản<br /> Nuôi trồng thủy sản tại đầm Thị Nại chủ yếu<br /> theo hai phương thức là nuôi tôm chuyên canh và<br /> nuôi tổng hợp tôm với cua và cá biển. Tổng cộng<br /> diện tích nuôi trồng thủy sản đến năm 2008 khoảng<br /> 1393,7ha.<br /> Tổng sản lượng tôm sú nuôi năm 2008 là<br /> 763,2 tấn. Tôm chân trắng mới chỉ bắt đầu nuôi<br /> từ năm 2004, năm 2008 đạt 59,5 tấn, tăng trưởng<br /> 72,6%/năm. Năng suất nuôi trồng thủy sản ở khu<br /> vực đầm Thị Nại có chiều hướng tăng. Năm 2003<br /> đạt năng suất trung bình 0,63 tấn/ha, đến năm 2008<br /> tăng 0,79 tấn/ha do diện tích nuôi tôm chân trắng<br /> tăng. Tuy nhiên, năng suất tôm chân trắng không ổn<br /> định, năm 2004 đạt 6,7 tấn/ha đến năm 2008 giảm<br /> xuống 4,2 tấn/ha (giảm 10,99%/năm).<br /> Tình hình dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản<br /> tại vùng đầm Thị Nại diễn biến phức tạp. Năm 2001<br /> tỷ lệ diện tích nuôi tôm bị bệnh chiếm 40% tổng<br /> diện tích nuôi tôm, đến năm 2004 tỷ lệ diện tích bị<br /> bệnh giảm xuống 32%, sau đó tăng lên 77% vào<br /> năm 2005; Tỷ lệ này có chiều hướng giảm, đến năm<br /> 2008 còn 112 ha diện tích nuôi tôm bị bệnh, chiếm<br /> 7,7% so với tổng diện tích nuôi. Đầm Thị Nại chiếm<br /> tới 38% tổng diện tích nuôi tôm bị bệnh so với toàn<br /> tỉnh. Điều đó cho thấy nuôi trồng thủy sản tại vùng<br /> đầm Thị Nại không ổn định.<br /> Việc sử dụng hoá chất mang tính độc hại cao<br /> trong tẩy uế, diệt tạp và phòng chống bệnh thủy sản<br /> cũng là vấn đề hết sức nghiêm trọng. Ngoài ra, việc<br /> phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản thiếu quy hoạch<br /> hợp lý kéo theo là sự tàn phá rừng ngập mặn, đắp<br /> đập lấn biển làm thay đổi dòng chảy gây lũ lụt bất<br /> <br /> TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG ❖ 185<br /> <br /> Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn<br /> thường, xói lở nhiều nơi mà chưa khắc phục được.<br /> 2.2. Ô nhiễm do chất thải sinh hoạt<br /> <br /> Soá 1/2012<br /> 2.4. Ô nhiễm dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật,<br /> phân bón hóa học<br /> <br /> Quá trình đô thị hoá phát triển nhanh, các hoạt<br /> <br /> Việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu<br /> <br /> động thương mại, dịch vụ phát triển và quá trình<br /> <br /> và hoá chất bảo vệ thực vật,… thậm chí có một số<br /> <br /> di cư từ các vùng nông thôn về thành thị càng lớn.<br /> <br /> loại thuốc cấm sử dụng, không có kiểm soát, không<br /> <br /> Trong khi đó, cơ sở hạ tầng trong các đô thị còn yếu<br /> <br /> tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường và an<br /> <br /> kém, lạc hậu, điều kiện vệ sinh còn rất hạn chế, dẫn<br /> <br /> toàn thực phẩm cộng với việc kinh doanh tràn lan<br /> <br /> đến việc các hộ dân xả chất thải trực tiếp xuống<br /> <br /> các loại hóa chất này trên địa bàn tỉnh, đang là<br /> <br /> biển, đầm, gây ô nhiễm môi trường. Vấn đề ô nhiễm<br /> <br /> nguồn nguy cơ gây ô nhiễm rất lớn cho môi trường<br /> <br /> hữu cơ được coi là đặc trưng của nguồn nước thải<br /> <br /> nông thôn, thành thị và cả môi trường biển, ảnh<br /> <br /> sinh hoạt. Tại Hồ Bàu Sen nơi tập trung chủ yếu các<br /> <br /> hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người. Theo thống<br /> <br /> cống thải của thành phố trước khi đổ ra đầm Thị Nại,<br /> <br /> kê cuả Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh Bình Định, tổng<br /> <br /> hàm lượng BOD5 lên đến 280 mgO2/l cao hơn tiêu<br /> <br /> lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở Bình<br /> <br /> chuẩn cho phép tới 6 lần.<br /> <br /> Định trong năm 2001 là 196 tấn thuốc bột và 242 tấn<br /> <br /> Theo ước tính, mỗi người mỗi năm sẽ thải<br /> <br /> thuốc nước, cao hơn nhiều so với năm 2000 (42.6<br /> <br /> khoảng 20 kg BOD, 0.3 kg P vô cơ và 2 kg N vô cơ<br /> <br /> tấn thuốc bột và 143.8 tấn thuốc nước). Ngoài ra,<br /> <br /> (theo Jacinto, 1998). Đầm Thị Nại phải gánh nhận<br /> <br /> còn hàng chục nghìn tấn phân bón cũng được sử<br /> <br /> khoảng 4950 tấn BOD, 495 tấn N và 74 tấn P. Đây<br /> <br /> dụng hàng năm. Do tính độc hại rất cao, khả năng<br /> <br /> là một trong những nguồn chính gây ô nhiễm vùng<br /> <br /> tồn lưu trong môi trường khá lâu nên nguy cơ sinh<br /> <br /> ven bờ, phì hoá vực nước.<br /> <br /> thái cuả hoá chất bảo vệ thực vật, nhất là các loại<br /> <br /> 2.3. Ô nhiễm do chất thải công nghiệp<br /> <br /> thuôc họ chlor hữu cơ đối với các hệ sinh thái ven<br /> <br /> Đa số các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công<br /> <br /> bờ là không thể lường hết được. Đặc biệt, việc lưu<br /> <br /> nghiệp đều tập trung tại TP. Quy Nhơn. Chất thải<br /> <br /> hành một số loại hoá chất thuộc diện nghiêm cấm<br /> <br /> và nước thải từ các cơ sở này chưa được xử lý<br /> <br /> sử dụng vẫn còn chưa được ngăn chặn triệt để. Dư<br /> <br /> triệt để, thậm trí không qua xử lý hoặc chỉ xử lý cục<br /> <br /> lượng hoá chất độc hại này ngoaì việc tồn lưu lâu<br /> <br /> bộ, là nguồn gây ô nhiễm cho môi trường nước<br /> <br /> trong môi trường, ảnh hưởng lớn đến chất lượng<br /> <br /> mặt, nước ngầm và cả môi trường đất. Ngành chế<br /> <br /> vùng ven bờ mà còn tích lũy trong các loại sinh vật<br /> <br /> biến thủy sản là một trong những ngành mang lại<br /> <br /> thông qua dây chuyền thức ăn, ảnh hưởng lớn đến<br /> <br /> hiệu quả kinh tế cao cho tỉnh, nhưng cũng là nơi<br /> có nguồn nước thải rất lớn, trên 500 m3/ngày. Các<br /> cơ sở chế biến thủy hải sản trong tỉnh đều đã có<br /> hệ thống bể tự thu gom và xử lý nước thải, tuy<br /> nhiên hiệu quả chưa thật cao. Đặc biệt tại khu công<br /> nghiệp Phú Tài, nước thải vẫn chưa được xử lý.<br /> Công ty bia Quy Nhơn có lượng nước thải khoảng<br /> 800 m3/ngày, nhưng chưa có hệ thống xử lý đạt<br /> yêu cầu. Nhà máy đường Bình Định đổ trực tiếp<br /> nước thải ra sông Kôn, tổng lượng nước thải qua 3<br /> cửa xả tại xã Tây Giang (huyện Tây Sơn) là 1.759<br /> m3/giờ bao gồm cả nước thải sinh hoạt và nước<br /> thải công nghiệp.<br /> Ở vùng hạ lưu, theo thống kê của Nguyễn<br /> Thành Phương (Sở KH&CN Bình Định) , mỗi ngày<br /> có khoảng 100000m3 nước thải từ các cơ sở công<br /> nghiệp, tiểu thủ công nghiệp như chế biến đá, thực<br /> phẩm, giấy,... thải ra môi trường.<br /> <br /> 186 ❖ TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG<br /> <br /> chất lượng thực phẩm và cuối cùng là ảnh hưởng<br /> trực tiếp đến sức khỏe con người.<br /> 2.5. Ô nhiễm do dầu thải<br /> Các cảng biển, bến tàu và hoạt động của các<br /> loại tàu thuyền trên biển là nguồn gây ra ô nhiễm<br /> dầu chủ yếu và thường xuyên trong vùng ven biển<br /> của tỉnh. Ngoài ra, các sự cố môi trường do tràn dầu<br /> gây hậu quả nghiêm trọng cũng không phải là hiếm<br /> thấy ở vùng ven bờ Bình Định. Tại cảng Quy Nhơn<br /> vào lúc 10h30’ ngày 10/8/1989 đã xảy ra sự cố tràn<br /> dầu do tàu Leela (quốc tịch Tây Đức) bị tai nạn làm<br /> tràn 170 tấn dầu FO và 50 tấn dầu Diezen ra vịnh,<br /> gây tổn thất nặng tới hệ sinh thái đầm Thị Nại. Sau<br /> sự cố một tháng, 100% diện tích mặt nước trong<br /> vịnh bị nhiễm bẩn với nồng độ dầu > 0,05 mg/l, 55%<br /> bị nhiễm bẩn với nồng độ dầu > 0,3 mg/l, mật độ<br /> sinh vật phù du giảm từ (1.000-10.000) lần so với<br /> trước khi có sự cố, 30,7% cá thể trưởng thành và<br /> <br /> Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn<br /> 83% cá thể non của sinh vật bám bị chết, tôm Rảo<br /> và tôm Sú bị chết hàng loạt, thực vật ngập mặn bị<br /> dầu bám tới mức (4,0-9,2) mg/cm2 lá và (5,3-22,6)<br /> mg/cm2 thân cây…Năm 1997 và 2000 đã xảy ra sự<br /> cố vỡ đường ống dẫn dầu tại khu vực cảng Quy<br /> Nhơn. Năm 1998, sự cố hoả hoạn tại KV 7 và 8<br /> phường Hải Cảng, một lượng dầu lớn trên các tàu<br /> chở dầu cũng như lượng xăng dầu tích trữ trong<br /> nhà dân cũng đã ảnh hưởng lớn đến môi trường<br /> đầm Thị Nại.<br /> 2.6. Ô nhiễm môi trường từ một số hoạt động của<br /> các dự án<br /> Trong quá trình phát triển xây dựng dự án khu<br /> kinh tế Nhơn Hội khu vực ven bờ đông của đầm<br /> sẽ chịu những thay đổi trong chất lượng nước, rõ<br /> rệt nhất là sự gia tăng của nồng độ vật lơ lửng góp<br /> phần vào việc làm nông hóa đầm. Trong giai đoạn<br /> khu kinh tế đã đi vào hoạt động, mặc dù các biện<br /> pháp bảo vệ môi trường đã được đưa ra khá tốt,<br /> tình trạng ưu dưỡng ở khu vực đỉnh đầm vẫn sẽ cao<br /> hơn và có thể gây ra các tai biến môi trường. Mức<br /> dinh dưỡng cao này sẽ là một nhân tố quan trọng<br /> cản trở kế hoạch phát triển nuôi trồng bền vững.<br /> Mức dinh dưỡng ở khu vực đông nam đầm cũng sẽ<br /> cao hơn, tuy nhiên mức tăng này không gây nguy<br /> hiểm do khu vực này ở gần cửa đầm.<br /> Một điểm cần quan tâm là việc san lấp đầm<br /> Mai Hương sẽ làm mất đi một nguồn tài nguyên quí<br /> (cảnh quan, du lịch, chỗ trú ẩn của tàu thuyền khi có<br /> bảo ... ) không thể tái tạo.<br /> IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ<br /> Trước thực trạng khai thác mang tính hủy diệt,<br /> ảnh hưởng của môi trường và các họat động của<br /> cộng đồng dân cư quanh đầm Thị Nại đã làm cho<br /> môi trường vùng nước bị ô nhiễm, diện tích đầm bị<br /> thu hẹp, nguồn lợi thủy sản ngày càng giảm sút, sự<br /> phong phú đa dạng các lòai thủy sản ít dần, một số<br /> đối tượng có giá trị kinh tế có nguy cơ tiệt chủng…<br /> Vì vậy việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản<br /> cần phải đuợc chú trọng và quan tâm rất lớn đến<br /> nguồn tài nguyên vô giá này và đưa việc bảo vệ<br /> và phát triển nguồn lợi thủy sản trên đầm Thị Nại<br /> hiện nay là nhiệm vụ cấp bách, trước mắt cũng như<br /> lâu dài cho sự phát triển của ngành thủy sản nói<br /> riêng và các ngành kinh tế của huyện Tuy Phước<br /> <br /> Soá 1/2012<br /> và thành phố Quy Nhơn nói riêng. Để bảo vệ tốt môi<br /> trường và nguồn lợi thủy sản hiện nay cần có những<br /> giải pháp triển khai đồng bộ sau:<br /> 1. Xây dựng hệ thống các văn bản pháp quy về<br /> bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại địa phương<br /> - Quy chế Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy<br /> sản đầm Thị Nại<br /> - Quy họach cụ thể từng khu vực khai thác, nuôi<br /> trồng và cấp giấy phép khai thác thủy sản cho các<br /> lọai nghề khai thác trên đầm<br /> - Xây dựng chính sách chia sẻ trách nhiệm và<br /> quyền lợi cộng đồng dân cư sống ven đầm theo sự<br /> hướng dẫn của chính quyền và các cơ quan chuyên<br /> môn nhằm bảo đảm việc tiến hành các hoạt động<br /> kinh tế một cách khoa học, hiệu quả và bền vững .<br /> - Xây dựng và thành lập mô hình đồng quản lý<br /> tại các xã, phường quanh đầm Thị Nại<br /> 2. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền giáo dục<br /> tạo chuyển biến lớn về ý thức của ngư dân trong<br /> việc bảo vệ và sử dụng nguồn lợi thủy sản<br /> - Vận động, tổ chức xây dựng các hội, tổ nghề<br /> khai thác trong cộng đồng ngư dân ở từng vùng<br /> nước trên đầm để cùng tham gia quản lý khai thác<br /> và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.<br /> - Tổ chức tuyên truyền bằng các hình thức:<br /> xây dựng panô, phát thanh trên đài phát thanh địa<br /> phương, họat động ngọai khóa cho học sinh các<br /> trường quanh đầm.<br /> - Tổ chức thường xuyên ngày vệ sinh môi<br /> trường, đưa nội dung tuyên truyền vào các ngày lễ<br /> hội tại địa phương.<br /> 3. Thực hiện tốt việc điều chỉnh năng lực khai<br /> thác trên đầm, sắp xếp lại cơ cấu nghề nghiệp<br /> - Tổ chức và sắp xếp lại các lọai nghề phù hợp<br /> vừa khai thác có hiệu quả đồng thời đảm bảo tính<br /> bền vững trong khai thác thủy sản tại đầm Thị Nại.<br /> - Việc khai thác thủy sản bằng nghề lồng xếp<br /> cần phải được tính toán cụ thể số lượng cho phép,<br /> tránh phát triển ồ ạt làm ảnh hưởng đến sự di cư đối<br /> tượng thủy sản do mật độ lồng thả quá lớn, gây ra<br /> sự tranh chấp về ngư trường với các loại nghề khai<br /> thác khác trên đầm.<br /> - Xây dựng phương án chuyển đổi nghề khai<br /> thác mang tính hủy diệt sang nuôi trồng thủy sản<br /> hoặc chuyển ra khai thác biển<br /> <br /> TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG ❖ 187<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2