intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Hiệu quả điều trị bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn có HBeAg dương tính của chế phẩm diệp hạ châu (diệp hạ châu - xuyên tâm liên - cỏ mực - bồ công anh) kết hợp lamivudine

Chia sẻ: Trần Thị Hạnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
15
lượt xem
1
download

Hiệu quả điều trị bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn có HBeAg dương tính của chế phẩm diệp hạ châu (diệp hạ châu - xuyên tâm liên - cỏ mực - bồ công anh) kết hợp lamivudine

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả bình thường hóa men gan ALT, giảm hoạt động của vi rút và chuyển đổi huyết thanh HBeAg của chế phẩm Diệp hạ châu kết hợp với lamivudine. Mời các bạn cùng tham khảo đề tài qua bài viết này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hiệu quả điều trị bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn có HBeAg dương tính của chế phẩm diệp hạ châu (diệp hạ châu - xuyên tâm liên - cỏ mực - bồ công anh) kết hợp lamivudine

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN VIÊM GAN SIÊU VI B MẠN<br /> CÓ HBeAg DƯƠNG TÍNH CỦA CHẾ PHẨM DIỆP HẠ CHÂU<br /> (DIỆP HẠ CHÂU – XUYÊN TÂM LIÊN – CỎ MỰC – BỒ CÔNG ANH)<br /> KẾT HỢP LAMIVUDINE<br /> Lý Chung Huy*, Nguyễn Thị Bay*, Cao Ngọc Nga**<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Đặt vấn đề: Diệp hạ châu được nghiên cứu cho thấy có hiệu quả trong điều trị viêm gan siêu vi B mạn.<br /> Trong nghiên cứu này, chúng tôi muốn thấy hiệu quả của chế phẩm Diệp hạ châu kết hợp với Lamivudine trong<br /> trên bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn có HBeAg dương tính.<br /> Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả bình thường hóa men gan ALT, giảm hoạt động của vi rút<br /> và chuyển đổi huyết thanh HBeAg của chế phẩm Diệp hạ châu kết hợp với Lamivudine.<br /> Phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng có kiểm chứng, 84 bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn được chia<br /> thành 2 nhóm: Nhóm 1 dùng chế phẩm Diệp hạ châu kết hợp Lamivudine, nhóm 2 dùng Lamivudine đơn thuần,<br /> dùng trong 6 tháng, đánh giá mức ALT sau mỗi tháng, HBV-DNA (15 tuổi), giới tính, mức ALT trước khi<br /> điều trị. mật độ HBV DNA trước khi điều trị, các<br /> chỉ số đường huyết lúc đói, số lượng bạch cầu,<br /> hồng cầu, tiểu cầu, Creatinin, AST, GGT trước<br /> khi điều trị, các triệu chứng của bệnh trước khi<br /> điều trị.<br /> <br /> Biến số độc lập<br /> Gồm 2 nhóm, nhóm 1: kết hợp chế phẩm<br /> Diệp hạ châu với Lamivudine (DHC-LAM) và<br /> nhóm 2: Điều trị bằng Lamivudine đơn<br /> thuần (LAM).<br /> Biến số phụ thuộc<br /> Gồm ALT sau mỗi tháng điều trị, HBeAg,<br /> Anti HBe, mật độ HBV DNA, công thức máu: số<br /> lượng bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu Creatinine<br /> máu, đường huyết lúc đói AST, GGT sau 3<br /> tháng và 6 tháng điều trị, và các triệu chứng lâm<br /> sàng.<br /> <br /> KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN<br /> Đặc điểm dân số trước nghiên cứu<br /> Bảng 1: Đặc điểm dân số trước nghiên cứu.<br /> Đặc tính<br /> Giới<br /> <br /> Tuổi<br /> <br /> Nam<br /> Nữ<br /> < 20<br /> 20 - 40<br /> > 40<br /> <br /> Tổng cộng<br /> 54 (64,29%)<br /> 30 (35,71%)<br /> 10 (11,9%)<br /> 58 (69,05%)<br /> 16 (19,05%)<br /> <br /> ALT ban đầu(U/L)<br /> 5-8<br /> HBV DNA ban đầu (log copy/ml)<br /> ≥8<br /> WBC (K/UL)<br /> Công thức máu<br /> RBC (M/UL)<br /> PLT (K/UL)<br /> Creatinin máu (µmol/l)<br /> Đường huyết lúc đói (mmol/l)<br /> <br /> 53 (63,10%)<br /> 31 (36,9%)<br /> <br /> DHC-LAM<br /> 26 (62%)<br /> 16 (38%)<br /> 6 (14,29%)<br /> 28 (66,67%)<br /> 8 (19,04%)<br /> 128,24 ± 55,18<br /> 27 (64,28%)<br /> 15 (35,72%)<br /> 6,48 ±1,38<br /> 4,36 ± 0,53<br /> 255,67 ± 57,85<br /> 89,19 ± 12,24<br /> 5,21 ± 0,76<br /> <br /> LAM<br /> 28 (66,67%)<br /> 14 (33,33%)<br /> 4 (9,52%)<br /> 30 (71,43%)<br /> 8 (19,05%)<br /> 108,88 ± 46,08<br /> 26 (61,9%)<br /> 16(38,10%)<br /> 6,24 ± 1,45<br /> 4,28 ± 0,51<br /> 226,74 ± 57,04<br /> 90,38 ± 13,84<br /> 5,07 ± 0,41<br /> <br /> P<br /> > 0,05<br /> <br /> P > 0,05<br /> P =0,07<br /> P > 0,05<br /> P = 0,44<br /> P = 0,47<br /> P = 0,27<br /> P = 0,6<br /> P = 0,33<br /> <br /> 84 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, trong<br /> <br /> nồng độ ALT ban đầu, mật độ HBV- DNA ban<br /> <br /> đó có 42 bệnh nhân thuộc nhóm DHC-LAM<br /> <br /> đầu của 2 nhóm cũng khác nhau không có ý<br /> <br /> và 42 bệnh nhân thuộc nhóm LAM. Trong quá<br /> <br /> nghĩa thống kê. Các chỉ số trước nghiên cứu<br /> <br /> trình thực hiện, không có bệnh nhân nào bỏ<br /> <br /> về số lượng bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu,<br /> <br /> dở điều trị hay không tuân thủ điều trị. Trong<br /> <br /> nồng độ creatine máu, đường huyết lúc đói<br /> <br /> đó, giới nam chiếm đa số là 64,29%, và nhóm<br /> <br /> của cả 2 nhóm đều đa số nằm trong giới hạn<br /> <br /> tuổi chủ yếu từ 20 đến 40 tuổi chiếm 69,05%,<br /> <br /> Chuyên Đề Y Học Cổ Truyền<br /> <br /> 3<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> bình thường và sự khác biệt giữa 2 nhóm<br /> không có ý nghĩa thống kê.<br /> <br /> Mức hạ men gan ALT và bình thường hóa<br /> men ALT sau nghiên cứu<br /> Mức hạ men ALT sau mỗi tháng<br /> Kết quả men gan ALT trung bình sau mỗi<br /> tháng điều trị của cả 2 nhóm đều giảm. Nồng độ<br /> ALT sau mỗi tháng trong 5 tháng đầu của nhóm<br /> DHC-LAM giảm nhiều hơn so với nhóm LAM<br /> với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).<br /> Nhưng đến tháng thứ 6 thì nồng độ men ALT<br /> của 2 nhóm không khác nhau (p > 0,05). Như<br /> vậy ta thấy nhóm DHC-LAM có sự giảm men<br /> gan ALT nhiều hơn và sớm hơn so với nhóm<br /> chứng.<br /> <br /> hơn nhóm LAM là 4/42 (9,52%) với sự khác biệt<br /> có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Còn sau 3 tháng<br /> và 6 tháng điều trị thì cả 2 nhóm có tỷ lệ men<br /> ALT giảm về bình thường (≤ 40 U/L) khác biệt<br /> không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên về mặt<br /> sinh học thì tỷ lệ của nhóm DHC - LAM cao hơn<br /> so với nhóm LAM. Điều này cho ta thấy ta có<br /> thể ứng dụng kết hợp chế phẩm Diệp hạ châu<br /> và Lamivudine trong viêm gan siêu vi B mạn<br /> khi bắt đầu điều trị có nồng độ ALT quá cao.<br /> <br /> Tỷ lệ bệnh nhân có đáp ứng siêu vi<br /> Tỷ lệ bệnh nhân có HBV-DNA giảm > 1log<br /> copy/ml và > 2 log copy/ml sau 3 tháng<br /> 78,57<br /> 80<br /> <br /> 64,29<br /> <br /> 70<br /> <br /> Nhóm DHC-LAM<br /> <br /> Nhóm LAM<br /> <br /> 66,67<br /> <br /> 60<br /> <br /> 47,62<br /> <br /> 50<br /> <br /> 140<br /> <br /> Nhóm DHC-LAM<br /> <br /> % 40<br /> 30<br /> <br /> 100<br /> <br /> 20<br /> <br /> 80<br /> <br /> 10<br /> <br /> U/L<br /> <br /> 120<br /> <br /> Nhóm LAM<br /> <br /> 0<br /> <br /> 60<br /> <br /> >1log<br /> <br /> >2log<br /> <br /> 40<br /> <br /> Hình 2: Đáp ứng siêu vi sau 3 tháng.<br /> <br /> 20<br /> 0<br /> tháng 0<br /> <br /> tháng 1<br /> <br /> tháng 2<br /> <br /> tháng 3<br /> <br /> tháng 4<br /> <br /> tháng 5<br /> <br /> tháng 6<br /> <br /> Hình 1: Diễn tiến nồng độ men ALT sau mỗi tháng.<br /> <br /> Kết quả bình thường hóa men gan ALT (≤<br /> 40U/L) sau 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng<br /> Bảng 2: Kết quả bình thường hóa men gan ALT sau<br /> 1 tháng, sau 3 tháng, sau 6 tháng.<br /> Nồng độ<br /> Tổng số<br /> ALT<br /> (≤ 40U/L)<br /> Sau 1<br /> 17(20,24%)<br /> tháng<br /> Sau 3<br /> 61 (72,62%)<br /> tháng<br /> Sau 6<br /> 73 (86,9%)<br /> tháng<br /> <br /> DHC - LAM<br /> <br /> LAM<br /> <br /> P<br /> <br /> P<<br /> 0,05<br /> P><br /> 32 (76,19%) 29 (69,05%)<br /> 0,05<br /> P><br /> 37 (88,1%) 36 (85,71%)<br /> 0,05<br /> 13(30,95%)<br /> <br /> 4(9,52%)<br /> <br /> Ở thời điểm sau 1 tháng điều trị, tỷ lệ bệnh<br /> nhân có men ALT giảm về bình thường (≤ 40<br /> U/L) ở nhóm DHC-LAM là 13/42 (30,95%) cao<br /> <br /> 4<br /> <br /> Tỷ lệ đáp ứng sớm > 1log copy/ml và > 2log<br /> copy/ml của 2 nhóm khác biệt không có ý nghĩa<br /> thống kê (p > 0,05). Tuy nhiên tỷ lệ này khác biệt<br /> khá cao: ở tỷ lệ đáp ứng sớm > 1log copy/ml<br /> nhóm DHC-LAM cao hơn nhóm LAM là 12%, ở<br /> tỷ lệ đáp ứng sớm > 2 log copy/ml nhóm DHC<br /> LAM cao hơn nhóm LAM là 19,05%, có ý nghĩa<br /> về mặt sinh học. Đây là một kết quả gợi ý cho<br /> các nghiên cứu có cỡ mẫu lớn hơn.<br /> Tỷ lệ bệnh nhân có mật độ HBV-DNA < 250<br /> cp/ml, < 3log copy/ml, < 5log copy/ml sau 6<br /> tháng.<br /> Sau 6 tháng điều trị, tỷ lệ bệnh nhân ở<br /> nhóm DHC-LAM có mật độ HBV- DNA < 250<br /> cp/ml là 7/42 (16,67%), ở nhóm LAM là 3/42<br /> (7,14%) với sự khác biệt không có ý nghĩa. Tỷ<br /> lệ bệnh nhân có HBV- DNA < 5 log cp/ml 2<br /> nhóm DHC-LAM và nhóm LAM khác nhau<br /> không có ý nghĩa lần lượt là 34/42 (80,96%) và<br /> <br /> Chuyên Đề Y Học Cổ Truyền<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012<br /> 31/42 (73,81%). Điều này cho thấy sau 6 tháng<br /> điều trị, cả 2 nhóm đều có đáp ứng với<br /> điều trị.<br /> <br /> Điều trị của 2 nhóm<br /> 90<br /> <br /> 80,96<br /> 73,81<br /> <br /> 80<br /> 70<br /> 60<br /> %<br /> <br /> 42,86<br /> <br /> 50<br /> <br /> Nhóm DHC - LAM<br /> <br /> 40<br /> 30<br /> 20<br /> 10<br /> <br /> Nhóm LAM<br /> 21,43<br /> <br /> 16,67<br /> 7,14<br /> <br /> 0<br /> < 250 cp/ml<br /> <br /> < 3 log cp/ml<br /> <br /> < 5 log cp/ml<br /> <br /> Hình 3: Mật độ HBV DNA sau 6 tháng điều trị<br /> Tuy nhiên tỷ lệ bệnh nhân HBV-DNA < 3 log<br /> cp/ml của nhóm kết hợp cao hơn gấp đôi so với<br /> nhóm dùng Lamivudine đơn thuần lần lượt là<br /> 42,86% so với 21,43%, có ý nghĩa thống kê (p <<br /> 0,05). Và qua nghiên cứu của chúng tôi và 2<br /> nhóm nghiên cứu của Zhang và cộng sự<br /> (2001)(5), của Huang Zheng - Chang và cộng sự<br /> (2004) tại Trung Quốc (1) có tỷ lệ mất HBV DNA<br /> của nhóm phối hợp cao hơn có ý nghĩa so với<br /> nhóm Lamivudine đơn thuần thì thấy rằng ta có<br /> thể lạc quan khi kết hợp thuốc y học cổ truyền<br /> và Lamivudine trong điều trị viêm gan siêu vi B<br /> mạn. Sư kết hợp này giúp cho việc ức chế siêu vi<br /> tốt hơn.<br /> Tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh của 2 nhóm<br /> sau 3 tháng, 6 tháng điều trị.<br /> Bảng 3: Tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh của 2 nhóm<br /> sau 3 tháng, 6 tháng điều trị.<br /> Chuyển Tổng Số<br /> đổi<br /> n (%)<br /> huyết<br /> thanh<br /> HBeAg<br /> Có<br /> 3 (3,57%)<br /> <br /> DHC-LAM LAM n (%) P<br /> n(%)<br /> <br /> 2 (4,76%) 1(2,38%) p ><br /> Sau 3<br /> 0,0<br /> tháng Không 81(96,43%) 40(95,64%) 41(97,62%)<br /> 5<br /> Có<br /> 10 (11,9%) 8(19,05%) 2 (4,76%) p <<br /> Sau 6<br /> 0,0<br /> tháng Không 74 (88,1%) 34(80,95%) 40(95,64%)<br /> 5<br /> <br /> Chuyên Đề Y Học Cổ Truyền<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh HBeAg (100%<br /> xuất hiện Anti HBe) sau 3 tháng của 2 nhóm<br /> khác nhau không có ý nghĩa, nhưng sau 6 tháng<br /> điều trị tỷ lệ này của nhóm DHC LAM chiếm<br /> 19,05% cao hơn so với nhóm LAM chiếm 4,76%<br /> với sự khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05). Kết quả<br /> này thấp hơn theo nghiên cứu của Lau GK<br /> (2005) trên hơn 800 bệnh nhân thì sau 6 tháng tỷ<br /> lệ mất HBeAg của nhóm dùng Lamivudine đơn<br /> thuần là 19%(2), trong nghiên cứu của Zhang và<br /> cộng sự tại Trung Quốc (2001), tỷ lệ chuyển đổi<br /> huyết thanh HBeAg của nhóm phối hợp Diệp<br /> hạ châu và Lamivudine sau 6 tháng là 52,8%(5).<br /> Điều này có thể do cỡ mẫu của chúng tôi còn<br /> thấp và các nghiên cứu trên đã từ lâu, và có thể<br /> hiện nay có tình trạng kháng Lamivudine<br /> nguyên phát, ở Việt Nam có thể bệnh nhân sử<br /> dụng thuốc không đúng, nên kết quả nghiên<br /> cứu của chúng tôi hiện nay kém hơn các nghiên<br /> cứu trước kia của nước ngoài. Do đó, đề tài có<br /> kết quả tốt hơn chúng tôi cần thực hiện với cỡ<br /> mẫu lớn hơn.<br /> <br /> Các kết quả đánh giá độ an toàn sau khi<br /> dùng thuốc<br /> Triệu chứng lâm sàng<br /> Trong 42 bệnh nhân sử dụng DHC- LAM có<br /> 2 bệnh nhân có triệu chứng mệt mỏi trước khi<br /> điều trị. Nhưng sau thời gian sử dụng thuốc 1<br /> tháng, 2 bệnh nhân này hoàn toàn hết mệt mỏi.<br /> Và trong 42 bệnh nhân này có 1 trường hợp thấy<br /> đau thượng vị, buồn nôn sau khi uống thuốc 1<br /> giờ. Điều này cũng phù hợp vì theo tài liệu<br /> nghiên cứu của Liu J, Lin H, Mc Intosh H năm<br /> 2001 tại Trung Quốc thì Diệp hạ châu có tác<br /> dụng gây buồn nôn, chán ăn, đau dạ dày (4%)<br /> trong thời gian điều trị 20 - 40 ngày(3). Còn 42<br /> bệnh nhân sử dụng Lamivudine đơn thuần<br /> hoàn toàn không có triệu chứng bất thường nào.<br /> Cận lâm sàng<br /> Trong thời gian sau 3 tháng và 6 tháng điều<br /> trị: các chỉ số về số lượng hồng cầu, bạch cầu,<br /> tiểu cầu, Creatinine máu, đường huyết lúc đói<br /> đều không khác biệt so với trước điều trị ở cả 2<br /> nhóm (p > 0,05).<br /> <br /> 5<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản