intTypePromotion=1

Hiệu quả giảm đau chuyển dạ của gây tê ngoài màng cứng bằng bupivacain 0,08% phối hợp với fentanyl

Chia sẻ: Trần Thị Hạnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
12
lượt xem
1
download

Hiệu quả giảm đau chuyển dạ của gây tê ngoài màng cứng bằng bupivacain 0,08% phối hợp với fentanyl

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tình hình nghiên cứu và mục tiêu của đề tài trình bày về: Gây tê ngoài màng cứng giảm đau trong chuyển dạ là một phương pháp giảm đau hiệu quả nhất. Nhằm tránh các tai biến do nồng độ thuốc tê (bupivacain) còn cao, việc hạ thấp thuốc đến nồng độ 0,08% còn nhiều tranh cãi. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm so sánh hiệu quả giảm đau chuyển dạ của gây tê ngoài màng cứng bằng bupivacain 0,08% so với bupivacain 0,1% trên những sản phụ chuyển dạ

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hiệu quả giảm đau chuyển dạ của gây tê ngoài màng cứng bằng bupivacain 0,08% phối hợp với fentanyl

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014 <br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU CHUYỂN DẠ CỦA GÂY TÊ NGOÀI MÀNG <br /> CỨNG  <br /> BẰNG BUPIVACAIN 0,08% PHỐI HỢP VỚI FENTANYL <br /> Trần Thị Hoàn Mỹ*, Bùi Thị Phương Nga*, Trần Thị Liễu*, Mã Thanh Tùng*,  <br /> Nguyễn Thị Phương Dung** <br /> <br /> TÓM TẮT <br /> Đặt vấn đề: Gây tê ngoài màng cứng giảm đau trong chuyển dạ là một phương pháp giảm đau hiệu quả <br /> nhất. Nhằm tránh các tai biến do nồng độ thuốc tê (bupivacain) còn cao, việc hạ thấp thuốc đến nồng độ 0,08% <br /> còn nhiều tranh cãi. <br /> Mục tiêu nghiên cứu: So sánh hiệu quả giảm đau chuyển dạ của gây tê ngoài màng cứng bằng bupivacain <br /> 0,08% so với bupivacain 0,1% trên những sản phụ chuyển dạ <br /> Phương  pháp  nghiên  cứu: Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu, ngẫu nhiên có nhóm chứng, mù đơn. Các sản <br /> phụ được phân bố ngẫu nhiên vào hai nhóm: nhóm 0,08% gồm các sản phụ nhận bupivacain 0,08% phối hợp <br /> fentanyl so với nhóm 0,1% nhận bupivacain 0,1% phối hợp fentany. Đánh giá điểm đau bằng thang điểm VAS, <br /> mức độ phong bế vận động Bromage của hai nhóm, tỷ lệ sanh thường, tỷ lệ sanh mổ, tỷ lệ giúp sanh bằng dụng <br /> cụ, chỉ số Apgar một phút và năm phút của trẻ sơ sinh, tỷ lệ các tác dụng phụ giữa hai nhóm. <br /> Kết quả: Nhóm 0,08% (có 161 sản phụ), nhóm 0,1% (162 sản phụ). Tỷ lệ GTNMC giảm đau là 90,2% ở <br /> nhóm 0,08% so với 91,4% ở nhóm 0,1% (p=0,601). Tỷ lệ sản phụ không liệt vận động là 98,2% ở nhóm 0,08% <br /> so với 95,1% ở nhóm 0,1% (p = 0,032). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ sanh thường, sanh mổ, <br /> tỷ lệ giúp sanh, chỉ số apgar của trẻ sơ sinh giữa hai nhóm. <br /> Kết luận: Gây tê ngoài màng cứng với bupivacain 0,08% phối hợp với fentanyl đem lại hiệu quả giảm đau <br /> tốt, ít phong bế vận động, và ít ảnh hưởng đến tình trạng của sản phụ và trẻ sơ sinh.  <br /> Từ khoá: gây tê ngoài màng cứng cho giảm đau sản khoa, Bupivacain <br /> <br /> ABSTRACT <br /> EFFICACY OF LABOR EPIDURAL ANALGESIA WITH BUPIVACAIN 0.08%  <br /> ASSOCIATED FENTANYL <br /> Tran Thi Hoan My, Bui Thi Phuong Nga, Tran Thi Lieu, Ma Thanh Tung,Nguyen Thi Phuong Dung <br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 163 ‐ 167 <br /> Background:  Epiduarl  analgesia  in  labor  is  the  most  efficacy  method  for  pain  relief  in  labor.  To  reduce <br /> complications related to high concentration of bupivacain, these is a controversial in lowering concentration of <br /> bupivacain. <br /> Objectives: to compare efficacity of epidural analgesia in labor with bupivacain 0.08% versus bupivacain <br /> 0.1% associated with fentanyl. <br /> Methods: The prospective cohort study. The patients were ramdomised in two group: group 0.08% included <br /> 161  pregnants  received  epidural  analgesia  with  bupivacain  0.08%  +  fentanyl  2mcg/ml  versus  162  pregnants <br /> received epidural analgesia with bupivacain 0.1% + fentanyl 2mcg/ml in group 0.1%. The visual analogue scales <br /> for pain, motor blockade Bromage, mode of delivery and neonatal apgar score were recorded. <br /> * Bệnh viện Từ Dũ, ** Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh <br /> Tác giả liên lạc: BS Trần Thị Hoàn Mỹ <br /> <br /> Sản Phụ Khoa<br /> <br />  ĐT: 0982866923 <br /> <br /> Email: vutungy02@yahoo.com.vn <br /> <br /> 163<br /> <br /> Nghiên cứu Y học <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014<br /> <br /> Results: There were 161 pregnants in group 0.08% versus 162 pregnants in group 0.1%. The successful <br /> pain relief rate in group 0.08% was 90.2% versus 91.4% in group 0.1% (p= 0.601). There were no statistically <br /> significant differences in mode of delivery, side effects, or neonatal apgar scores between groups. <br /> Conclusion: Epidural analgesia with bupivacain 0.08% + fentanyl provides equivalent pain relief in labor <br /> with less motor blockade and without maternal and fetal side effects.  <br /> Keyword: epidural analgesia in labor, Bupivacain <br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ <br /> <br /> ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU <br /> <br /> Gây tê ngoài màng cứng (GTNMC) đã xuất <br /> hiện từ rất sớm vào năm 1901 đem lại nhiều hiệu <br /> quả  ứng  dụng  trong  lĩnh  vực  gây  mê  hồi  sức, <br /> đặc  biệt  trong  sản  khoa.  GTNMC  giảm  đau <br /> trong chuyển dạ là một bước ngoặc đánh dấu sự <br /> tiến bộ của ngành gây mê hồi sức  sản  khoa,  từ <br /> đó không chỉ đem lại hiệu quả giảm đau tốt mà <br /> còn  đem  lại  sự  thoải  mái  tinh  thần,  ổn  định  về <br /> tâm  lý  của  các  sản  phụ  trong  giai  đoạn  “vượt <br /> cạn”  khó  khăn  nhất  này(14).  Ngoài  ra,  có  nhiều <br /> tác  giả  cũng  đồng  tình  rằng  GTNMC  cải  thiện <br /> tình  trạng  tim  mạch  ‐  hô  hấp  của  mẹ  và  tình <br /> trạng cân bằng toan kiềm ở thai nhi.  <br /> <br /> Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu, ngẫu nhiên có <br /> nhóm  chứng,  mù  đơn  tại  bệnh  viện  Từ  Dũ  từ <br /> 01/07/2012  đến  01/07/2013.  Đối  tượng  nghiên <br /> cứu là những sản phụ một thai, ngôi đầu, ASA <br /> I_II,  chuyển  dạ  giai  đoạn  hoạt  động,  được  làm <br /> giảm  đau  sản  khoa  với  GTNMC  và  không  có <br /> chống chỉ định GTNMC như rối loạn đông máu, <br /> huyết  động  không  ổn  định,  nhiễm  trùng  vùng <br /> lưng, dị dạng cột sống. <br /> <br /> Tuy nhiên, bên cạnh hiệu quả giảm đau của <br /> GTNMC đem lại, người ta vẫn còn lo ngại về tỷ <br /> lệ  biến  chứng  khi  GTNMC  với  thuốc  tê <br /> bupivacain nồng độ cao. Mặt khác, trước đây có <br /> nhiều ý kiến gây tranh cãi về vấn đề: “GTNMC <br /> có  ảnh  hưởng  lên  tiến  trình  chuyển  dạ  hay <br /> không?”,  từ  đó  gián  tiếp  làm  tăng  tỷ  lệ  mổ  lấy <br /> thai (MLT) và tỷ lệ sanh dụng cụ cũng như tỷ lệ <br /> gây  liệt  vận  động.  Do  đó,  người  ta  đã  hạ  thấp <br /> dần liều thuốc tê của bupivacain dần từ nồng độ <br /> 0,125%  đến  0,1%  hay  0,08%,  thậm  chí  chỉ  còn <br /> nồng  độ  0,0625%  nhằm  hạn  chế  những  biến <br /> chứng và độc tính thuốc tê cho  mẹ và con.  <br /> Tại Việt  Nam,  nồng  độ  thuốc  tê  bupivacain <br /> để GTNMC vẫn khá cao là 0,1%‐0,125% và có rất <br /> ít nghiên cứu đánh giá toàn diện hiệu quả thuốc <br /> tê bupivacain liều thấp (0,08%). Phải chăng trên <br /> sản phụ, với nồng độ thuốc tê bupivacain 0,08% <br /> phối  hợp  với  fentanyl,  hiệu  quả  giảm  đau  gần <br /> tương đương với bupivacain 0,1% nhưng ít gây <br /> ức  chế  vận  động  hơn,  ít  tác  dụng  phụ  không <br /> mong muốn mà vẫn không làm ảnh hưởng lên <br /> cách sanh của mẹ, chỉ số apgar của trẻ sơ sinh?. <br /> <br /> 164<br /> <br /> Các sản phụ được các bác sĩ sản khoa khám <br /> đánh giá khả năng sanh ngã âm đạo và các bác <br /> sĩ GMHS khám loại trừ các chống chỉ định gây <br /> tê. Sau khi được  tham  vấn,  các  sản  phụ  kí  cam <br /> kết  đồng  ý  tham  gia  nghiên  cứu.  Các  sản  phụ <br /> được  ngẫu  nhiên  chia  thành  hai  nhóm:  nhóm <br /> 0,08%  gồm  những  sản  phụ  được  GTNMC  với <br /> bupivacain  0,08%  +  fentanyl  2mcg/ml  so  với <br /> nhóm 0,1% gồm những sản phụ được GTNMC <br /> với bupivacain 0,1% + fentanyl 2mcg/ml. Chúng <br /> tôi  chọn  tư  thế  ngồi  cho  sản  phụ  khi  làm  thủ <br /> thuật.  Chúng  tôi  sử  dụng  kim  Touhy  18G  với <br /> catheter  20G  có  3  lỗ  (B‐Braun),  vị  trí  chọc  kim <br /> L3‐L4  và  L4‐L5,  xác  định  khoang  màng  cứng <br /> bằng phương pháp mất sức cản với nước muối <br /> sinh  lý.  Sau  khi  hút  ngược  kiểm  tra  không  có <br /> máu hay dịch não tủy, tiến hành chích liều nạp <br /> dung  dịch  thuốc  tê  tương  ứng  cho  từng  nhóm; <br /> 10ml cho sản phụ thấp hơn 160 cm và 12 ml cho <br /> sản  phụ  cao  hơn  160  cm.  Liều  nạp  được  chích <br /> ngắt  quãng  mỗi  3‐4  ml  cách  nhau  3‐5  phút  với <br /> nghiệm  pháp  hút  ngược  catheter  và  theo  dõi <br /> sinh hiệu và tim thai. Sau đó, mắc vào máy bơm <br /> tiêm  điện  và  truyền  liên  tục  qua  catheter  ngoài <br /> màng cứng với vận tốc 6‐10 ml/giờ.. Khi sổ thai <br /> hoặc  may  tầng  sinh  môn,  nếu  sản  phụ  đau  sẽ <br /> được bơm thêm 4‐8ml.  <br /> <br /> Chuyên Đề Sức Khỏe Sinh Sản và Bà Mẹ Trẻ em <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014 <br /> Chúng tôi theo dõi mạch, huyết áp, đánh giá <br /> mức độ giảm đau bằng thang điểm đau VAS và <br /> sự  đối  xứng  hai  bên,  tình  trạng  phong  bế  vận <br /> động Bromage 6 cải tiến với khoảng thời gian 5 <br /> phút,  15  phút  sau  gây  tê  trong  một  giờ  đầu  và <br /> mỗi 30 phút trong những giờ tiếp theo; cho đến <br /> khi sản phụ sanh xong hoặc MLT. Sản phụ còn <br /> được  theo  dõi  sản  khoa  như  monitor  theo  dõi <br /> cơn gò, tim thai, tình trạng CTC,…cũng như chỉ <br /> số  Apgar  của  trẻ  sơ  sinh  và  tỷ  lệ  các  tác  dụng <br /> phụ  như  run,  ngứa,  tụt  huyết  áp,  thủng  màng <br /> cứng, đau lưng, bí tiểu… <br /> Nếu  sản  phụ  MLT  khẩn  cấp  (như  suy  thai <br /> nặng, sa dây rốn…) thì gây mê toàn thân; nếu có <br /> thể trì hoãn (như bất xứng đầu chậu, cổ tử cung <br /> không tiến triển…) thì bơm thêm 16‐20 ml thuốc <br /> tê Lidocain 2% 20ml. <br /> Tất cả số liệu ghi nhận trên bảng thu thập đã <br /> chuẩn bị sẵn. Phân tích số liệu bằng phần mềm <br /> SPSS 16.0. Các biến liên tục được trình bày bằng <br /> số trung bình ± độ lệch chuẩn, và tần suất và tỷ <br /> lệ phần trăm cho các biến định tính. Kiểm định t <br /> cho  các  giá  trị  trung  bình  và  kiểm  định  Chi‐<br /> square dùng giữa các biến định tính với p  0,05) (Bảng 1). <br /> Bảng 1: Đặc điểm chung dân số nghiên cứu <br /> Tuổi mẹ (năm)<br /> Chiều cao (cm)<br /> Cân nặng (kg)<br /> Tuổi thai (tuần)<br /> ASA I (%)<br /> ASA II (%)<br /> <br /> Nhóm 0,08% Nhóm 0,1%<br /> 28,3 ± 4,6<br /> 28,1 ± 4,7<br /> 155,5 ± 3,9<br /> 156,3 ± 3,8<br /> 67,4 ± 5,8<br /> 66,7 ± 4,9<br /> 37,8 ± 0,8<br /> 38,2 ± 0,6<br /> 83,2<br /> 85,8<br /> 17,8<br /> 14,2<br /> <br /> p<br /> 0,735<br /> 0,322<br /> 0,254<br /> 0,087<br /> 0,421<br /> <br /> Hiệu quả giảm đau <br /> Số  sản  phụ  có  điểm  đau  VAS  ≤  3  là  145 <br /> (90,2%) ở nhóm 0,08% so với 148 (91,4%) ở nhóm <br /> 0,1%  (p=0,601);  có  9  sản  phụ  (5,5%)  ở  nhóm <br /> 0,08%  và  8  sản  phụ  (4,7%)  nhóm  0,1%  vẫn  còn <br /> đau nhẹ sau gây tê với VAS ≤ 5. Còn 13 sản phụ <br /> <br /> Sản Phụ Khoa<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> vẫn đau nhiều với VAS > 5 (7 trường hợp nhóm <br /> 0,08% so với 6 trường hợp nhóm 0,1%). <br /> <br /> Mức độ phong bế vận động <br /> Tỷ  lệ  sản  phụ  không  yếu  liệt  vận  động <br /> (Bromage  5  ‐  6)  ở  nhóm  0,08%  là  98,1%  so  với <br /> 95,1% ở nhóm 0,1% (p = 0,032). Trong đó, nhóm <br /> 0,08%  có  3  sản  phụ  so  với  8  sản  phụ  ở  nhóm <br /> 0,1% được đánh giá Bromage 3 – 4. <br /> Bảng 2: Những ảnh hưởng lên mẹ và con <br /> Nhóm 0,08% Nhóm 0,1%<br /> Cách sanh (%)<br /> Sanh thường<br /> 67,7<br /> 63,5<br /> Sanh giúp<br /> 10,0<br /> 10,0<br /> Sanh mổ<br /> 22,3<br /> 26,5<br /> Chỉ số Apgar<br /> 1 phút<br /> 7,4 ± 0,5<br /> 7,5 ± 0,4<br /> 5 phút<br /> 8,5 ± 0,5<br /> 8,6 ± 0,4<br /> Cân nặng (g) 3206,2 ± 352,7 3196 ± 360,2<br /> <br /> p<br /> 0,201<br /> <br /> 0,165<br /> 0,395<br /> 0,254<br /> <br /> Bảng 3: Các tác dụng phụ của gây tê ngoài màng cứng <br /> Tác dụng phụ (%) Nhóm 0,08% Nhóm 0,1%<br /> Không có<br /> 75,2<br /> 72,8<br /> Tụt HA<br /> 1,2<br /> 1,8<br /> Buồn nôn- nôn ói<br /> 3,1<br /> 2,4<br /> Ngứa<br /> 3,1<br /> 3,7<br /> Run<br /> 9,3<br /> 8,1<br /> Đau lưng<br /> 0,6<br /> 0,0<br /> Nhức đầu<br /> 0,0<br /> 0,6<br /> Bí tiểu<br /> 6,2<br /> 5,5<br /> <br /> p<br /> <br /> 0,472<br /> <br /> Có 19 sản phụ bí tiểu sau sanh tự phục hồi <br /> trong vòng 2 ngày sau. <br /> Có 2 trường hợp tụt huyết áp ở nhóm 0,08% <br /> so với 3 trường hợp ở nhóm 0,1%. Các sản phụ <br /> này  được  xử  lý  tạm  dùng  thuốc,  truyền  dịch <br /> nhanh,  thở  oxy  và  sử  dụng  thuốc  vận  mạch <br /> ephedrine. <br /> Các  trường  hợp  sản  phụ  bị  ngứa  và  run, <br /> chúng tôi không xử trí gì thêm.  <br /> <br /> BÀN LUẬN <br /> Mặc  dù  thang  điểm  đau  VAS  là  thước  đo <br /> chủ quan của từng sản phụ, chịu ảnh hưởng của <br /> nhiều yếu tố: trình độ học vấn, nghề nghiệp, con <br /> so  –  con  rạ,  điều  kiện  kinh  tế  ‐  xã  hội  v.v…(9) <br /> nhưng  tất  cả  sản  phụ  chỉ  được  làm  giảm  đau <br /> GTMNC khi đã vào chuyển dạ hoạt động và đã <br /> chịu đựng tới mức độ điểm VAS 8 – 10 điểm là <br /> <br /> 165<br /> <br /> Nghiên cứu Y học <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014<br /> <br /> một  điều  khó  chấp  nhận  được.  Theo  ACOG <br /> 2006(1)  hoặc  RCOG  2007(14),  tất  cả  sản  phụ  phải <br /> được giảm đau chuyển dạ bằng GTNMC chỉ với <br /> yêu cầu giảm đau đơn thuần của người mẹ. Đây <br /> là  vấn  đề  thực  tế  thường  gặp  tại  bệnh  viện  Từ <br /> Dũ  cũng  như  các  bệnh  viện  khác  làm  GTNMC <br /> giảm đau chuyển dạ.  <br /> Sau khi GTNMC, chúng tôi ghi nhận cả hai <br /> nhóm  nghiên  cứu  đạt  hiệu  quả  giảm  đau  tốt <br /> chiếm  90,2%  ở  nhóm  0,08%  so  với  91,4%  ở <br /> nhóm 0,1%.  <br /> Theo  Nguyễn  Thị  Thanh(11),  tỷ  lệ  sản  phụ <br /> GTNMC với bupivacain 0,08% đạt điểm số đau <br /> VAS    3  giờ,  và <br /> phong bế vận động độ II thấy ở nhóm sản phụ <br /> có thời gian duy trì thuốc tê > 4,5 giờ (270 phút); <br /> trong  khi  thời  gian  duy  trì  thuốc  tê  của  nghiên <br /> cứu chúng tôi 

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản