intTypePromotion=1
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 143
            [banner_name] => KM - Normal
            [banner_picture] => 316_1568104393.jpg
            [banner_picture2] => 413_1568104393.jpg
            [banner_picture3] => 967_1568104393.jpg
            [banner_picture4] => 918_1568188289.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 6
            [banner_link] => https://alada.vn/uu-dai/nhom-khoa-hoc-toi-thanh-cong-sao-ban-lai-khong-the.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-11 14:51:45
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Kiến tạo khai thác các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia ở Tây Bắc Việt Nam phục vụ phát triển du lịch sinh thái bền vững

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
15
lượt xem
2
download

Kiến tạo khai thác các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia ở Tây Bắc Việt Nam phục vụ phát triển du lịch sinh thái bền vững

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nguồn dự trữ thiên nhiên ở vùng núi Tây Bắc rất giàu tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, cụ thể là ở Hoàng Liên (Lào Cai), Mường Nhé (Lai Châu) và Xuân Nha (Sơn La). Đó chắc chắn là những định hướng chính xác trong việc phát triển du lịch ở những khu vực Tây Bắc: đầu tiên, để thiết lập các chương trình phát triển, để quyết định các trung tâm du lịch sinh thái, ưu tiên được đặt lên nguồn dự trữ thiên nhiên Hoàng Liên, để đầu tư có hiệu quả vào nguồn dự trữ thiên nhiên, để giáo dục và đem đến nguồn thông tin dồi dào về những tiềm năng du lịch sinh thái, để quan tâm hơn đến việc nâng cao mức sông của những người dân địa phương, để huy động và tạo nên những điều kiện tốt cho cộng đồng địa phương để có thể tham gia vào việc phát triển du lịch sinh thái.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kiến tạo khai thác các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia ở Tây Bắc Việt Nam phục vụ phát triển du lịch sinh thái bền vững

Đố Trọng Dũng<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 94(06): 29 - 32<br /> <br /> KIẾN TẠO KHAI THÁC CÁC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN<br /> VÀ VƯỜN QUỐC GIA Ở TÂY BẮC VIỆT NAM<br /> PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI BỀN VỮNG<br /> Đỗ Trọng Dũng<br /> Trường ĐHSP - Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Nguồn dự trữ thiên nhiên ở vùng núi Tây Bắc rất giàu tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, cụ thể<br /> là ở Hoàng Liên (Lào Cai), Mường Nhé (Lai Châu) và Xuân Nha (Sơn La).<br /> Đó chắc chắn là những định hướng chính xác trong việc phát triển du lịch ở những khu vực Tây<br /> Bắc: đầu tiên, để thiết lập các chương trình phát triển, để quyết định các trung tâm du lịch sinh<br /> thái, ưu tiên được đặt lên nguồn dự trữ thiên nhiên Hoàng Liên, để đầu tư có hiệu quả vào nguồn<br /> dự trữ thiên nhiên, để giáo dục và đem đến nguồn thông tin dồi dào về những tiềm năng du lịch<br /> sinh thái, để quan tâm hơn đến việc nâng cao mức sông của những người dân địa phương, để huy<br /> động và tạo nên những điều kiện tốt cho cộng đồng địa phương để có thể tham gia vào việc phát<br /> triển du lịch sinh thái<br /> Từ khóa: Khu bảo tồn thiên nhiên, vườn Quốc gia, du lịch sinh thái, Tây Bắc<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ*<br /> Trong vài chục năm gần đây, thuật ngữ du<br /> lịch sinh thái (DLST) được sử dụng khá rộng<br /> rãi trong ngành du lịch. Ở nhiều nước tiên<br /> tiến về du lịch, du lịch sinh thái đã đạt được<br /> hiệu quả cao về mọi mặt. Du lịch sinh thái<br /> được hiểu như một xu hướng quan trọng<br /> trong chiến lược phát triển du lịch của nhiều<br /> nước, tương tự như du lịch văn hoá. Du lịch<br /> sinh thái cũng được quan niệm như một loại<br /> hình du lịch mới và ngày càng có sức hấp dẫn<br /> đông đảo khách du lịch.<br /> Đã có nhiều tên gọi, cùng những khái niệm<br /> và định nghĩa khác nhau về DLST. Tại hội<br /> thảo quốc tế Xây dựng chiến lược quốc gia<br /> về phát triển DLST ở Việt Nam định nghĩa:<br /> DLST là loại hình dựa vào thiên nhiên và<br /> văn hoá bản địa có tính giáo dục môi trường<br /> và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát<br /> triển bền vững với sự tham gia tích cực của<br /> cộng đồng địa phương.<br /> Bài viết này chỉ đề cập tới khía cạnh thiên<br /> nhiên là cơ sở để phát triển DLST miền núi<br /> Tây Bắc Việt Nam, một địa bàn chứa đựng<br /> nhiều tiềm năng về du lịnh và còn khá lạ lẫm<br /> ngay cả với người Việt Nam .<br /> *<br /> <br /> Tel: 0975 870 257; E-mail: dodungsptn@gmail.com<br /> <br /> THỰC TRẠNG CÁC KHU BẢO TỒN TỰ<br /> NHIÊN (BTTN) Ở TÂY BẮC<br /> Trong danh mục các khu rừng đặc dụng ở<br /> Việt Nam (bao gồm các vườn quốc gia, khu<br /> BTTN và khu rừng văn hoá - lịch sử) hiện<br /> nay ở miền núi Tây Bắc Việt Nam (bao gồm<br /> các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Sơn La) chưa có<br /> vườn quốc gia nào mà chỉ có 5 khu bảo tồn<br /> thiên nhiên là các khu Mường Nhé (Lai<br /> Châu), Hoàng Liên (Lào Cai), Sốp Cộp, Tà<br /> Sùa và Xuân Nha (Sơn La) và khu rừng văn<br /> hoá - lịch sử Mường Phăng (Lai Châu) [2].<br /> Miền núi Tây Bắc là miền tự nhiên có núi cao<br /> trùng điệp và hùng vĩ nhất ở nước ta, với đỉnh<br /> Phan Si Păng cao 3.143m được mệnh danh là<br /> mái nhà của bán đảo Đông Dương. Đây cũng<br /> là vùng biên cương xa xôi nhất ở phía Bắc và<br /> phía Tây của Tổ quốc tiếp giáp với Trung<br /> Quốc và Lào. Các khu BTTN đã được thành<br /> lập ở đây có nhiều nét rất đặc sắc, không thể<br /> bắt gặp ở các khu BTTN khác.<br /> Mục tiêu chung của các khu BTTN ở đây<br /> là: Bảo tồn các hệ động thực vật, bảo tồn<br /> nguồn gen quý hiếm trên vùng núi cao, trên<br /> núi đá vôi vùng Tây Bắc; nghiên cứu khoa<br /> học và giáo dục bảo vệ môi trường, bảo vệ<br /> vùng biên giới; tham gia phát triển kinh tế xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống của<br /> nhân dân địa phương.<br /> 29<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Đố Trọng Dũng<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Các khu BTTN ở Tây Bắc có khó khăn chung<br /> là ở vùng núi quá xa xôi, hiểm trở, tài nguyên<br /> rừng bị xâm phạm nghiêm trọng và giảm sút<br /> nhanh chóng, trong khi kết cấu hạ tầng và cơ<br /> sở vật chất kỹ thuật, còn rất thấp kém, sự đầu<br /> tư của Nhà nước còn chưa đáng là bao nên<br /> trong thực tế các khu bảo tồn mặc dù đã được<br /> hoạch định từ lâu nhưng đến nay vẫn chưa ổn<br /> định và bị xuống cấp rõ rệt.<br /> Khu BTTN Mường Nhé đã được tỉnh Lai<br /> Châu quyết định thành lập từ ngày 8/7/1976<br /> được Nhà nước công nhận ngày 9/8/1986 với<br /> diện tích dự kiến 182.000 ha. Năm 1993 tỉnh<br /> Lai Châu đã có tờ trình đầu tiên bản Dự án<br /> đầu tư khu BTTN Mường Nhé nhưng chưa<br /> được phê duyệt và sau đó đến cuối năm 1996<br /> (ngày 18/12/1996) lại có tờ trình xin phê<br /> duyệt Dự án đầu tư khu BTTN Mường Nhé<br /> với diện tích quy hoạch mới là 310.216 ha.<br /> Khu BTTN Mường Nhé có sinh cảnh đa dạng<br /> ở độ cao từ 300 - 2200m trên một diện tích<br /> rộng trên 300.000 ha trong vùng khí hậu nhiệt<br /> đới gió mùa. Hệ thực vật đã thống kê được<br /> gồm 308 loài thực vật bậc cao thuộc 233 chi,<br /> 94 họ trong đó có các loài có giá trị đặc biệt<br /> về khoa học như chò đãi, giổi xương là loài<br /> đặc hữu Nam Trung Hoa, Bắc Viêt Nam.<br /> Khu BTTN Hoàng Liên (huyện Sa Pa, tỉnh<br /> Lào Cai) có diện tích 4.658 ha, trong đó có<br /> 11.071 ha rừng tự nhiên. Khu BTTN Hoàng<br /> Liên có tới 25% số loài thực vật đặc hữu của<br /> Việt Nam, có 10 loài thú và 4 loài chim đang<br /> có nguy cơ bị tiêu diệt. Các cuộc điều tra<br /> khảo sát gần đây liên tiếp phát hiện thêm<br /> được nhiều loài mới. Đặc biệt khu BTTN<br /> Hoàng Liên có hơn 400 loài cây thuốc (bản<br /> thân địa danh Hoàng Liên cũng là tên một cây<br /> thuốc quý) và nhiều loại gỗ quý [6].<br /> ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH<br /> SINH THÁI TẠI CÁC KHU BẢO TỒN<br /> THIÊN NHIÊN Ở MIỀN NÚI TÂY BẮC<br /> Cần định hướng phát triển du lịch sinh thái<br /> Tiềm năng phát triển DLST tại các khu BTTN<br /> ở miền núi Tây Bắc là rất nổi trội so với một<br /> số nới khác. Tuy vậy, phát triển DLST theo<br /> đúng nghĩa của nó quả không đơn giản. Ngay<br /> trong số 11 vườn quốc gia ở nước ta thì chỉ<br /> mới có 3 vườn quốc gia Cúc Phương, Bạch<br /> <br /> 94(06): 29 - 32<br /> <br /> Mã, Cát Tiên là đã có tổ chức hoạt động<br /> DLST khá hơn. Các hoạt động du lịch đang<br /> được triển khai ở các vườn quốc gia của nước<br /> ta hiện nay chủ yếu vẫn là du lịch tham<br /> quan thiên nhiên, du lịch cộng đồng. Các<br /> nội dung chính của DLST là việc quản lý và<br /> tổ chức du lịch cũng như tạo điều kiện cho<br /> khách du lịch được trực tiếp tham gia vào<br /> hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường sinh<br /> thái, hỗ trợ cho công việc bảo tồn thiên nhiên<br /> và sự phát triển cộng đồng địa phương còn<br /> chưa được chú trọng.<br /> Để góp phần phát triển DLST ở Việt Nam,<br /> một loại hình du lịch còn rất mới mẻ nhưng<br /> đầy hấp dẫn, song song với việc Nhà nước ta<br /> đang tiến hành xây dựng chiến lược quốc gia<br /> phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam, việc<br /> nghiên cứu định hướng phát triển DLST trên<br /> các loại hình hệ sinh thái, kể cả hệ sinh thái tự<br /> nhiên và hệ sinh thái nhân văn, và trên các địa<br /> bàn cụ thể là rất cần thiết.<br /> Đối với các khu BTTN ở Tây Bắc có khả<br /> năng tham gia vào việc phát triển DLST cần<br /> có định hướng đúng trong việc lựa chọn địa<br /> điểm, xác định đối tượng khách du lịch, đầu<br /> tư thích đáng. Cần chú ý đến đặc điểm của<br /> các khu BTTN ở Tây Bắc là rất độc đáo và<br /> còn giữ nguyên vẻ hoang sơ nhưng việc khai<br /> thác cho mục đích du lịch còn gặp rất nhiều<br /> khó khăn do ở vị trí xa xôi, đường giao<br /> thông cách trở, việc đầu tư con người và<br /> phương tiện cho việc bảo tồn rất hạn chế, cơ<br /> sở phục vụ du lịch hầu như chưa có gì, tình<br /> trạng suy thoái tài nguyên, môi trường vẫn<br /> tiếp tục diễn ra.<br /> Một số giải pháp<br /> Trong điều kiện thực tiễn của sự phát triển<br /> của ngành du lịch nước ta đang có những<br /> chuyển biến tích cực trong những năm vừa<br /> qua và việc thực hiện những mục tiêu đã được<br /> đề ra trong Quy hoạch tổng thể phát triển du<br /> lịch đến năm 2010 cũng như những điều kiện<br /> khả thi của việc đầu tư của Nhà nước cho các<br /> dự án phát triển các khu BTTN cần có sự phối<br /> hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp, đặc biệt<br /> với chính quyền và nhân dân địa phương, tập<br /> trung giải quyết một số vấn đề sau:<br /> <br /> 30<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Đố Trọng Dũng<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> a. Cần tiếp xúc quy hoạch DLST tại các khu<br /> bảo tồn tự nhiên<br /> Trong luận chứng kinh tế kỹ thuật của các<br /> vườn quốc gia và các khu BTTN đều có đề<br /> cập tới chức năng và nhiệm vụ bảo tồn,<br /> nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường,<br /> phát triển du lịch. DLST là loại hình du lịch<br /> đặc biệt rất cần được chú trọng ở các khu<br /> BTTN. Trong quy hoạch chung của khu<br /> BTTN nhất thiết cần quy hoạch DLST mà<br /> địa bàn chủ yếu là ở vùng đệm (Buffer<br /> zone). Trong điều kiện nước ta hiện nay<br /> chưa có điều kiện triển khai hoạt động<br /> DLST tại tất cả các khu BTTN nhưng nhất<br /> thiết khu BTTN nào cũng nên có quy hoạch<br /> phục vụ phát triển DLST để không bị động<br /> khi có điều kiện thực hiện.<br /> b. Xác định điểm DLST ưu tiên đầu tư: Khu<br /> BTTN Hoàng Liên<br /> Trong số các khu BTTN ở Tây Bắc hiện nay,<br /> khu BTTN Hoàng Liên có nhiều điểm thuận<br /> lợi rất đáng được quan tâm và ưu tiên để lựa<br /> chọn làm điểm du lịch sinh thái:<br /> + Có cảnh quan tự nhiên hùng vĩ cuả vùng núi<br /> cao nhất Việt Nam, nơi duy nhất ở nước ta có<br /> khí hậu mang tính chất ôn đới.<br /> + Có các hệ sinh thái điển hình của miền<br /> nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới trên núi.<br /> + Có hệ sinh thái nhân văn độc đáo và đặc sắc<br /> của đồng bào các dân tộc ít người H'Mông,<br /> Dao, Giấy, Tày với chợ văn hoá Sa Pa (còn<br /> gọi là chợ tình), đặc sản dệt thổ cẩm, khu bãi<br /> đá cổ Sa Pa.<br /> + Có vị trí vừa phải với các tour DLST, cách<br /> thủ đô Hà Nội, một trong các khu trung tâm<br /> du lịch lớn nhất của cả nước, khoảng 350km.<br /> + Có điều kiện giao thông khá thuận lợi với<br /> các phương tiên ô tô, tàu hoả và chỉ mất<br /> khoảng thời gian từ 8-10 giờ đi đường, tính từ<br /> Hà Nội.<br /> + Có thị trấn Sa Pa ở vị trí trung chuyển,<br /> chuẩn bị hậu cần cho các hoạt động DLST.<br /> Bản thân Sa Pa cũng đã là một điểm du lịch<br /> hấp dẫn.<br /> + Đã hình thành một số tuyến DLST, kể cả<br /> các tuyến đi bộ xuyên rừng núi tới các bản<br /> làng, các tuyến leo đến đỉnh Phan Si Păng.<br /> + Có điều kiện kết hợp triển khai nhiều loại<br /> hình du lịch khác như du lịch, nghỉ mát, du<br /> <br /> 94(06): 29 - 32<br /> <br /> lịch văn hoá, du lịch thể thao, du lịch khoa<br /> học, du lịch mạo hiểm…<br /> Cũng cần lưu ý đến một thực tế là phần lớn<br /> các nhà nghiên cứu địa lý, sinh vật, du lịch,<br /> nhất là trong lĩnh vực cảnh quan học, sinh thái<br /> học, địa lý du lịch, tài nguyên và môi trường<br /> ở trong nước cũng như nước ngoài đều nhất<br /> trí cao khi đề xuất việc triển khai hoạt động<br /> du lịch tại khu vực vùng núi Sa Pa - Hoàng<br /> Liên Sơn và thực tế số lượng khách du lịch<br /> trong nước và quốc tế đến Sa Pa liên tục tăng<br /> nhanh và đều trong những năm qua.<br /> c. Cần có đầu tư thích đáng của Nhà nước đối<br /> với các khu BTTN<br /> Việc quan tâm đầu tư thích đáng cho các khu<br /> BTTN hiện nay là rất cấp thiết, trước hết là<br /> phục vụ nhiệm vụ bảo tồn, chống xuống cấp,<br /> suy thoái tài nguyên thiên nhiên và đa dạng<br /> sinh học.<br /> d. Cần có sự giáo dục, tuyên truyền quảng bá<br /> rộng rãi về tài nguyên, môi trường về khả<br /> năng phát triển du lịch, nhất là DLST, tại các<br /> khu BTTN để cung cấp thông tin và nâng cao<br /> nhận thức cho mọi người, cuốn hút mọi người<br /> có điều kiện tham gia phát triển DLST.<br /> đ. Cần có sự quan tâm thiết thực chăm lo và<br /> cải thiện đời sống nhân dân địa phương tại<br /> các khu vực BTTN (bao gồm các khu BTTN<br /> và vùng đệm), vận động và tạo điều kiện để<br /> cộng đồng địa phương tham gia một cách tự<br /> giác và hăng hái vào việc phát triển DLST tại<br /> các khu BTTN.<br /> KẾT LUẬN<br /> Các khu bảo tồn thiên nhiên ở miền núi Tây<br /> Bắc có rất nhiều tiềm năng để phát triển du<br /> lịch sinh thái, đặc biệt là các khu bảo tồn<br /> Hoàng Liên (Lào Cai), Mường Nhé (Lai<br /> Châu) và Xuân Nha (Sơn La).<br /> Cần có định hướng đúng trong việc phát triển<br /> du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên<br /> nhiên ở Tây Bắc trước hết là lập quy hoạch<br /> phát triển du lịch sinh thái, xác định điểm du<br /> lịch sinh thái ưu tiên là khu bảo tồn thiên<br /> nhiên Hoàng Liên, đầu tư thích đáng cho các<br /> khu bảo tồn thiên nhiên, giáo dục tuyên<br /> truyền quảng bá về tiềm năng du lịch sinh thái<br /> và quan tâm chăm lo cải thiện đời sống của<br /> nhân dân địa phương, vận động và tạo điều<br /> kiện để cộng đồng địa phương tham gia phát<br /> triển du lịch sinh thái.<br /> 31<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Đố Trọng Dũng<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> 3. Chi cục Kiểm lâm. Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn<br /> La, (1991) Luận chứng kinh tế kỹ thuật Khu bảo<br /> tồn thiên nhiên Xuân Nha tỉnh Sơn La.<br /> 1. Phạm Trung Lương, Đặng Duy Lợi, Vũ Tuấn<br /> Cảnh và nnk, (2000), Tài nguyên và môi trường<br /> du lịch Việt Nam, Nxb Giáo dục Hà Nội.<br /> 2. Đỗ Tước, Lê N.K, (2000) Chuyên đề động vật<br /> rừng Tây Bắc, Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Bộ<br /> Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hà Nội.<br /> <br /> 94(06): 29 - 32<br /> <br /> 5. Tổng cục Du lịch, (1999), Tuyển tập Báo cáo<br /> Hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát<br /> triển du lịch sinh thái ở Việt Nam, Hà Nội.<br /> 6. Uỷ ban nhân dân tỉnh Lai Châu, (1996), Dự án<br /> đầu tư Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé tỉnh<br /> Lai Châu.<br /> 4. Technical Report, (July 1999), Hoang Lien<br /> nature reserve. Froniter - Vietnam Forest<br /> Society<br /> for<br /> Research<br /> Progame,<br /> N0.13.<br /> Enviromental Exploration London - Institute of<br /> Ecology and Biological Resources Hanoi.<br /> <br /> SUMMARY<br /> EXPLOITATION OF NATURRAL RESERVES IN THE NORTH-WEST<br /> MOUNTAINOUS AREA TO SERVE THE SUSTAINABLE DEVELOPMENT<br /> OF ECOLOGIC TOURISM<br /> Do Trong Dung*<br /> College of Education – TNU<br /> <br /> Natural Reserves in the North - West mountainous area are very rich in potentials for the<br /> development of ecologic tourism, in particular the ones of Hoang Lien (Lao Cai), Muong Nhe (Lai<br /> Chau) and Xuan Nha (Son La).<br /> There must be right directions in developing ecotourism in the North - West area: first of all, to<br /> estabfish programmes of development; to determine ecotourism centres, with priority given to<br /> Hoang Lien Natural Reserves; to invest sufficiently in Natural Reserves; to educate and give large<br /> information on ecotourism potentials; to take care of the improvement of local residents’ living<br /> standard; to mobilize and create good conditions for the local community to participate in the<br /> development of ecologic tourism.<br /> Key words: Natural reserves, National park, ecologic tourism, Tay Bac<br /> <br /> Ngày nhận:28 /03/2012; Ngày phản biện:15/05/2012; Ngày duyệt đăng:12/06/2012<br /> <br /> *<br /> <br /> Tel: 0975 870 257; E-mail: dodungsptn@gmail.com<br /> <br /> 32<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản