
KỸ THUẬT CHẾ BIẾN CHÈ XANH QUY MÔ HỘ
Thu hái nguyên liệu
Chè búp tươi nguyên liệu và kỹ thuật chế biến là hai yếu tố ảnh hưởng quyết
định tới sản lượng và chất lượng chè khô sản phẩm.
Một đọt chè được thu hái để chế biến gồm 3 phần.
+ 1 chồi đang phát triển gọi là tôm hay búp, hoặc đã ngừng phát triển gọi là
búp mù hay búp xoè.
+ 2 đến 3 lá non (có khi 4 đến 5 lá- cả lá bánh tẻ và lá già).
+ 1 đoạn cành non màu xanh gọi là cọng hay cuộng chè.
Sản lượng chè phụ thuộc rất lớn vào số lá trong đọt. Thành phần trọng lượng
loại lá chè trong 100g đọt chè khi hái 1 tôm 3 lá thể hiện dưới đây:
Số
lượng
Trọng lượng thành phần trong 100g đọt chè (g)
đọt/ kg Tôm Lá 1 Lá 2 Lá 3 cuống
840 4,38 9,01 20.44 32,03 33.95
Vì vậy nếu tăng số lá và chiều dài cuống trong đọt chè nguyên liệu thì tỷ lệ
chè khô thành phẩm tăng lên.
Mặt khác, chất lương chè phụ thuộc rất lớn vào vị trí lá, số lá trong đọt chè
và vụ thu hoạch. Tỷ lệ tanin và chất hoà tan là 2 chỉ tiêu sinh hoá chủ yếu để
đánh giá chất lượng nguyên liệu (lá càng già thì tỷ lệ tanin và chất hoà tan
càng thấp).

Chè nguyên liệu càng già, càng nhiều lá thì sản lượng càng cao nhưng chất
lượng càng giảm và ngược lại. Căn cứ vào hàm lượng lá già, lá bánh tẻ
người ta chín nguyên liệu chè tươi thành 4 loại:
Nguyên liệu chè tươi tốt nhất để chế biến là đọt chè non 1 tôm với 2 hoặc 3
lá (tương ứng với loại 1 và 2).
Độ đồng đều của nguyên liệu chè búp tươi ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng chè. Chè non và chè già lẫn lộn khó có thể chế biến thành chè có chất
lượng tốt. Khi thu hái cần coi trọng việc phân loại nguyên liệu và áp dụng
chế độ chế biến riêng cho từng loại. ở Trung Quốc nhiều nơi người ta phân
loại và chế biến riêng từng loại: tôm, chè lá thứ 1, chè lá thứ 2... nên có thể
chủ động nâng cao chất lượng và giá trị của chè thành phẩm.
Chè tươi là loại nguyên liệu dễ bị hấp thụ mùi vị lạ, dễ bị giập nát, ôi và thay
đổi màu sắc khi vận chuyển, bảo quản không tốt. Khi thu hái và vận chuyển
chè nên đựng vào sọt, không ấn chặt.
Loại Hàm lượng lá bánh
tẻ (% khối lượng)
1 0- 10
2 1 0- 20
3 20- 30
4 30- 45

Chè thu hái về nên chế biến ngay không để quá 5-6 giờ. Chè nguyên liệu
được rải trên nền nhà với chiều dày không quá 15 cm, tránh làm cho chè bị
giập nát, ngoài ra cần phải giữ chè sạch sẽ, tránh để lẫn tạp chất.
Chế biến chè xanh
Chè xanh được sản xuất và sử dụng nhiều ở Trung Quốc, Nhật Bản, Việt
Nam và một số nước khác. Chè xanh là loại chè có hương thơm, vị đậm,
màu sắc xanh tươi hoặc xanh vàng. Có rất nhiều phương pháp chế biến chè
xanh khác nhau, song về kỹ thuật cơ bản đều có chung các giai đoạn:
Diệt men -Vò chè -Làm khô -Phân loại -Đóng gói.
1. Diệt men
Công đoạn diệt men (hay còn gọi là công đoạn cố định chè tươi): là công
đoạn quan trọng, ảnh hưởng quyết định đến chất lượng chè.
Nếu diệt men triệt để nước chè có màu xanh tươi hoặc xanh vàng.
Nếu diệt men không tốt nước chè có màu nâu đỏ (xỉn). Hiện nay, ở các nước
sản xuất chè xanh đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để diệt men.
Các phương pháp diệt men
+ Sao diệt men
Sao diệt men (còn gọi là sao đầu) là lợi dụng sức nóng của chảo sao hay máy
sao kiểu thùng quay đã được đốt nóng để tiêu diệt các loại men có trong lá
chè và làm cho chè trở nên mềm dẻo chuẩn bị cho giai đoạn vò.
ưu điểm của phương pháp này là diệt men tương đối triệt để, tạo ra hương
thơm, làm bốc hơi một phần nước. Nhược điểm chủ yếu của phương pháp
này là nếu không khống chế được nhiệt độ và thời gian diệt men đúng mức
thì chè dễ bị hấp vàng, màu sắc không xanh tươi, hoặc có thể bị cháy. Trên

