intTypePromotion=1

LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN

Chia sẻ: Nguyễn Thị Bích Hà | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:22

1
124
lượt xem
56
download

LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nguyên nhân gây ra tình trạng lạm phát chủ yếu do Chính phủ đã in tiền ra chi tiêu để bù đắp vào phần thiếu hụt của Ngân sách, và/hoặc do Chính phủ in tiền cho các tổ chức kinh tế khác vay để đầu tư sản xuất, xây dựng cơ bản,… nhưng Chính phủ không có được vật đối chứng để đảm bảo giá trị giá trị đồng tiền. Xã hội bán hàng hóa cho Chính phủ và thu được tiền nhưng xã hội lại không có hàng hóa khác để mua, do Chính phủ không có được vật...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN

  1. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN NHÌN LẠI LẠM PHÁT TRONG NĂM NĂM QUA (2007-2011) .................. 2 I. 1. Lạm phát: Duy nhất một năm dưới 10% .......................................................... 2 2. Nguyên nhân chủ yếu của mức lạm phát quá cao trong những năm qua ....... 4 II. DIỄN BIẾN LẠM PHÁT NĂM 2011 VÀ TÁC ĐỘNG ................................. 6 III TRIỂN VỌNG KINH TẾ NĂM 2012.............................................................15 KIẾN NGHỊ ................................................................................................22 IV. NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 1 Yh: lotus_flower39
  2. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN I. NHÌN LẠI LẠM PHÁT TRONG NĂM NĂM QUA (2007-2011) 1. Lạm phát: Duy nhất một năm dưới 10% Nhìn vào các con số thống kê về lạm phát ở ta trong 5 năm trở lại đây, điều đáng lo ngại hơn là trong 5 năm ấy, chỉ có một năm-năm 2009, CPI tháng 12 so với tháng 12 của năm trước tăng 6,5% còn các năm còn lại đều ở mức trên 2 con số. Tỷ lệ lạm phát từ 2007-2011 1 0.9 0.8 Tỷ lệ lạm phát 0.7 0.6 0.5 0.4 0.3 0.2 0.1 0 1 2 3 4 5 Tỷ lệ lạm phát từ 2007- 0 2011 Tỷ lệ lạm phát năm 2011 tăng cao, xác định một mức mới là 18.13%.Mức tăng này, nếu chỉ so với tốc độ tăng CPI của các nước láng giềng: Thái Lan, Malaysia, Singapore...đã rất đáng ngại. Nhưng nếu nhìn vào các con số thống kê về lạm phát ở ta trong 5 năm trở lại đây, điều đáng lo ngại hơn là trong 5 năm ấy, chỉ có một năm-năm 2009, CPI tháng 12 so với tháng 12 của năm trước tăng 6,5% còn các năm còn lại đều ở mức trên 2 con số. Cụ thể, năm 2007: CPI tăng 12,6%, năm 2008 tăng 19,9%, năm 2010 tăng 11,8%. NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 2 Yh: lotus_flower39
  3. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN Theo số liệu từ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), nếu so sánh với lạm phát ở các nước trên thế giới và trong khu vực, tốc độ tăng CPI bình quân trong các năm 2007-2010 của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển tuơng ứng là 6,5%; 9,2%;5,2% và 6,2%. Tốc độ tăng CPI bình quân của các nước đang phát triển châu Á tương ứng là 5,4%; 7,4%; 3,1%; 6%. Còn nếu so với các nền kinh tế phát triển, tốc độ tăng CPI bình quân qua các năm đó của họ là: 2,2%; 3,4%; 0,1% và 1,6% vào năm 2010 thì quả thực, mức tăng CPI của Việt Nam những năm qua là một kỷ lục và thật xấu hổ khi luôn lấy yếu tố tác động giá cả, thị trường bên ngoài là một yếu tố chính để giải thích mức độ tăng CPI của Việt Nam. Gần đây người ta hay viện dẫn cách tính lạm phát cơ bản để làm "giảm nhiệt" về cách tính lạm phát theo phương pháp luận quốc tế, phản ánh xu hướng và mức độ biến động chung của giá tiêu dùng thực tế trên thị trường mà Tổng cục Thống kê đã áp dụng. Kết quả tính toán của Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Tổng cục Thống kê cho biết, lạm phát cơ bản tháng 12 năm 2010 so với tháng 12 năm trước, nếu loại trừ lương thực, thực phẩm là 9,92% bằng 84% mức lạm phát chung. Nếu loại trừ thêm năng lượng thì lạm phát cơ bản bằng 9,81% bằng 83% mức lạm phát chung. Lạm phát cơ bản của tháng 8.2011 so với tháng 12.2010 loại trừ lương thực, thực phẩm còn 12,54%; loại thêm yếu tố năng lượng sẽ còn 10,94%... Nếu như loại trừ thêm các yếu tố phi tiền tệ khác như điều chỉnh giá của nhà nước với một số mặt hàng, dịch vụ quan trọng, thiên tai, dịch bệnh...thì người ta có thể vui mừng công bố các mức lạm phát cơ bản ở mức thấp hơn nữa. NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 3 Yh: lotus_flower39
  4. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN 1. Nguyên nhân chủ yếu của mức lạm phát quá cao trong những năm qua Về chính sách tiền tệ, tín dụng, cung tiền trong những năm qua có sự "nới lỏng quá mức" là một nguyên nhân chính. Tốc độ tăng cung tiền cao hơn tốc độ tăng GDP theo giá thực tế diễn ra trong một thời gian dài. Tốc độ tăng trưởng tiền tệ (M2) là 43,7%, tín dụng là 53,9% trong năm 2007-mức tăng kỷ lục giai đoạn 2001-2011 được bộ này cho là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát cao vào năm 2008. Đến năm 2009, tình hình cung tiền quá mức như trên lại lặp lại tuy tốc độ có thấp hơn 2007 nhưng vẫn cao hơn mức cần thiết đã gây ra hệ quả là lạm phát năm 2010 và 2011 tiếp tục bị đẩy lên cao. Chính sách siết chặt tiền tệ, tài khóa khắc nghiệt từ đầu năm 2011 đến nay đã có tác dụng làm tốc độ lạm phát (đạt đỉnh vào tháng 4.2011) đã giảm dần cho đến nay (tháng 9, CPI tăng thấp nhất ở mức 0,82%). Việc phá giá mạnh VNĐ trong các năm gần đây cũng có phần gây ra lạm phát và kỳ vọng lạm phát. Điều dễ thấy là trong mấy năm qua, đồng đôla Mỹ luôn bị mất giá so với các đồng tiền khác trên thế giới nhưng ở Việt Nam, tiền đồng lại giảm giá so với đồng USD là một hiện tượng thực tế. Chính sách tài khóa,cũng là một nguyên nhân chính giải thích hiện tượng lạm phát cao và kéo dài nhiều năm. Bội chi ngân sách từ năm 2006 đến nay đều ở mức trên 5% GDP (trừ năm 2008 đạt 4,6%) nhưng nếu tính cả trái phiếu Chính phủ vào thì tỷ lệ bội chi ngân sách thực tế còn cao hơn rất nhiều. Bội chi ngân sách triền miên đòi hỏi huy động nhiều vốn trong dân qua việc phát hành trái phiếu, tín phiếu kho bạc...ảnh hưởng đến thị trường, đẩy lãi suất lên, góp phần làm tăng tổng cầu, gây áp lực lên mặt bằng giá. NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 4 Yh: lotus_flower39
  5. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN Tất nhiên, mức độ lạm phát rất cao như vậy cũng có ảnh hưởng lớn từ chi phí sản xuất tăng hay còn gọi là "chi phí đẩy": phần thì do tác động của giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới, phần so giá đầu vào trong nước... Biến động giá xăng dầu trên thị trường có thể coi là nhân tố tác động mạnh đến sự tăng giảm lạm phát trong thời gian qua, giá xăng tăng tác động làm cho giá cả các loại hàng hoa 1tăng lên để đảm bảo chi phí sản xuất, đẩy lạm phát đi lên. Gía xăng A92 25,000 20,000 15,000 Mức giá 10,000 5,000 0 1 2 3 4 5 11,300 15,182 14,277 16,454 20,300 Gía xăng A92 NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 5 Yh: lotus_flower39
  6. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN Yếu tố khách quan tất nhiên là không tránh khỏi: năm 2008, giá nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu tăng bình quân 27,1%, theo phân tích c ủa Bộ KH&ĐT làm tăng CPI bình quân ở Việt Nam lên 22,97%. Năm 2010, chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất tăng bình quân 9,59%. 6 tháng đầu năm, chỉ số này cũng tăng bình quân 18,32% do với cùng kỳ năm 2010...thì tất cả các yếu tố này tác động đến giá cả Việt Nam là một thực tế phải chấp nhận. Đặc biệt, nguyên nhân về cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư cũng lý giải cả một quãng thời gian dài gần 5 năm, lạm phát ở ta luôn ở mức cao. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư bất hợp lý và kém hiệu quả là nguyên nhân cơ bản gây bất ổn định các cân đối kinh tế vĩ mô và là yếu tố thúc đẩy lạm phát tăng cao. Nền kinh tế phát triển theo chiều rộng và chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, công nghệ lạc hậu, năng suất thấp, tỷ trọng các yếu tố năng suất tổng hợp trong tăng trưởng GDP thấp và chậm được cải thiện. Hiệu quả đầu tư thấp, đầu tư dàn trải, kém hiệu quả, cơ cấu đầu tư bất hợp lý giữa các vùng, miền...Hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thấp. Tất cả đều có tác động sâu xa đến lạm phát. Ngoài những nguyên nhân cơ bản trên, còn có một số nguyên nhân khác rác động đến mức tăng lạm phát như: có nguyên nhân về khâu phân phối, điều hành thị trường: hệ thống phân phối yếu kém, bất hợp lý; có nguyên nhân do thiên tai, dịch bệnh xảy ra nhiều: dịch lợn tai xanh, gia súc gia cầm...gây thiếu hụt nguồn cung, đẩy giá lên cao...rồi khả năng, nguồn lực dự trữ yếu...tất cả đều có ảnh hưởng nhất định, làm lạm phát cao, kéo dài triền miên. DIỄN BIẾN LẠM PHÁT NĂM 2011 VÀ TÁC ĐỘNG II. NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 6 Yh: lotus_flower39
  7. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN Diễn biến CPI các tháng năm 2010 và 2011. Lạm phát cả năm chốt ở mức tăng 18,13% ghi nhận sự “đi hoang” của dòng tiền, khi không tạo được đột phá về tăng trưởng nhưng lại thúc ép lạm phát đạt các kỷ lục mới. Biểu đồ: Diễn biến lạm phát năm 2010 và 2011 Dấu hiệu của tính quy luật chỉ còn rất mờ nhạt, diễn biến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong năm 2011 nổi trội ở hai đột biến, đến từ các mức tăng kỷ lục mới trong tháng 4 và tháng 7. Trên nền cơ bản được tạo lập bởi 12 tháng cùng tăng, đường biểu diễn chỉ số giá như hình cờ đuôi nheo, tiệm cận dần tới mốc 0% về cuối. Mức chênh lệch giữa tháng tăng cao nhất với tháng tăng thấp nhất tới gần 3 điểm phần trăm. Lạm phát cả năm chốt ở mức tăng 18,13% ghi nhận sự “đi hoang” của dòng tiền, khi không tạo được đột phá về tăng trưởng nhưng lại thúc ép lạm phát đạt các kỷ lục mới. Chia bình quân, CPI mỗi tháng trong năm nay tương ứng với mức tăng khoảng 1,4%, chỉ còn thấp hơn chút ít so với 2008. NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 7 Yh: lotus_flower39
  8. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN Khi vài ngày cuối cùng đang khép lại dần, những “tàn dư” từ lạm phát như lãi suất còn cao, tỷ giá chưa thật ổn định, hay chính sách vĩ mô sẽ siết thêm năm nữa… khiến yếu tố lòng tin chưa dễ tạo dựng. Tồn tại trong một năm tăng trưởng hạn chế là hai trạng thái cảm nhận: lo âu tăng dần đầu năm và bất an cuối năm gắn với lạm phát đang “ngóc đầu” dậy. Đột biến thứ nhất: Tăng sau Tết Liên tiếp tăng tốc và đạt đỉnh vào cuối năm 2010, chỉ số giá tiêu dùng tháng 1/2011 bất ngờ giảm tốc nhẹ xuống mức tăng 1,74% so với tháng trước. Nhiều nhận định khi đó đã lạc quan cho rằng, xu hướng này là tích cực, có thể là một mở đầu thuận lợi cho một năm mà Chính phủ đặt quyết tâm kiề m chế lạm phát ngay từ đầu, với chỉ tiêu “khắc nghiệt” chỉ có 7%. Thị trường chứng khoán đón thông tin tích cực, VN-Index tăng điể m liên tục và đạt đỉnh của năm vào ngày 9/2, ở mốc hơn 522 điể m vào lúc đóng cửa, cũng là mức cao nhất kể từ tháng 5/2010. Tuy nhiên, hiện tượng này cũng xảy ra vào các năm 1997, 2000, 2008, 2010 là do có sự điều chỉnh chính sách lớn hoặc tác động từ khủng hoảng kinh tế từ bên ngoài. Việc chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 phá vỡ xu hướng tăng tốc chỉ là điều chỉnh trong ngắn hạn. CPI tháng 2 ngay lập tức đảo chiều tăng 2,09% so với tháng trước đó. Căn cứ vào mức tăng so với cuối năm trước đã ở mức gần 4%, tức là hết quá nửa room của chỉ tiêu lạm phát cả năm, lo lắng lại thường trực. Thị trường chứng khoán đón tin sớm từ giữa tháng 2 đã “đổ đèo” và lập đáy đầu tiên trong năm ở mức VN- Index khoảng 452 điểm vào ngày 3/3. NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 8 Yh: lotus_flower39
  9. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN Ngày 11/2, Ngân hàng Nhà nước quyết định tăng mạnh tỷ giá USD/VND tới 9,3%. Nỗ lực giữ ổn định tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước vào trước đó đã khiến dự trữ ngoại hối tại thời điể m quý 1/2011 chỉ còn lại tương đương 3,5 tuần nhập khẩu. Tuy nhiên, căng thẳng ngoại tệ không thuyên giả m, chênh lệch tỷ giá chính thức và chợ đến lên đến 10% là nguyên nhân chính dẫn tới việc điều chỉnh tỷ giá nói trên. Tỷ giá tằng sẽ kích thích lạ m phát và đẩy giá lên. Sẽ tác động làm lãi suất tăng lên. Lãi suất tăng ảnh hưởng đến úa trình sản xuất, phát triển kinh doanh của doanh nghiệp. Thêm vào diễn biến đáng quan ngại này, ngày 24/2, tại cuộc họp Chính phủ với các địa phương, giá xăng dầu được điều chỉnh tăng gần 20%, điện tăng 15,28%... Nghị quyết 11 ra đời cùng ngay với hàng loạt chỉ tiêu được điều chỉnh lớn: với tiền tệ, tăng trưởng tín dụng rút xuống mức dưới 20% thay vì 23%, tổng phương tiện thanh toán cũng áp chỉ tiêu mới ở mức khoảng 15-16%. Với chính sách tài khóa, bội chi so với GDP từ mức 5,3% giảm về mục tiêu mới dưới 5%, chi tiêu thường xuyên giả m 10% trong 9 tháng cuối năm. Chính phủ cũng đặt mục tiêu kéo thấp tổng đầu tư xã hội xuống còn khoảng 38-39% GDP… Tháng 3, lạm phát tiếp tục bị đẩy lên, CPI theo tháng tăng 2,17%.Chưa kịp hết ngỡ ngàng về sự gia tốc sau Tết Nguyên đán, CPI lập tức đạt đỉnh vào tháng 4 ở mức 3,32%, cao nhất trong 3 năm trở lại đây. Đến lúc này, CPI so với cuối năm trước đã tăng 9,64%, vượt xa mục tiêu 7%, hiện thực hóa nỗi lo lạm phát. Với sự gia tăng lạ m phát ngày càng cao, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và tâm lý lo lắng trong nhân dân. Vào ngày 21/3, Bộ Tài chính bất ngờ quyết định tăng giá bán lẻ các loại xăng dầu thêm 2.000-2.800 đồng một lít, đưa xăng A92 lên kỷ lục mới 21.300 đồng, áp dụng từ 22h ngày 29/3. Ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa và tiêu dùng của người dân. NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 9 Yh: lotus_flower39
  10. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm 2011 tăng 12,8% so với cùng k ỳ năm 2010.Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ, hai nhóm có chỉ số giá tăng cao hơn nhiều mức tăng chung là: Giao thông tăng 6,69%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3,67%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá thấp hơn mức tăng chung nhưng cao hơn 1% là: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,98% (Lương thực tăng 2,18%, thực phẩm tăng 1,57%, ăn uống ngoài gia đình tăng 3,06%); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,22%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá bằng hoặc dưới mức 1% gồm; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,0%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,98%; giáo dục tăng 0,9%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,88%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,71%; bưu chính viễn thông tăng 0,02%. Chỉ số giá tiêu dùng quý I tăng cao do một số nguyên nhân chủ yếu sau đây: Giá nhiều hàng hóa thiết yếu trên thị trường thế giới tăng cao, c ùng với việc điều chỉnh tỷ giá USD/VNĐ đã tác động đến giá nguyên liệu nhập khẩu là đầu vào của sản xuất. Bên cạnh đó, việc điều chỉnh tă ng giá xăng dầu và điều chỉnh tăng giá bán điện cho sản xuất, sinh hoạt cũng đã làm tăng chi phí sản xuất; Một số địa phương tiếp tục điều chỉnh tăng học phí giáo dục và nhu cầu tiêu dùng mang tính thời vụ trong dịp Tết Nguyên đán (các mặt hàng thực phẩm tăng mạnh). Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước tháng 3/2011 Đơn vị tính: % MÃ SỐ CHỈ SỐ GIÁ THÁNG 3 NĂM 2011 SO Bình quân VỚI Quý I năm 2011 so với Kỳ gốc Tháng 3 Tháng 12 Tháng 02 Quý I năm năm năm năm năm 2011 2010 2009 2010 2010 CHỈ SỐ C 123,51 113,89 106,12 102,17 112,79 GIÁ TIÊU DÙNG I. Hàng ăn 01 130,63 118,33 108,31 101,98 117,38 NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 10 Yh: lotus_flower39
  11. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN và dịch vụ ăn uống 1- Lương 011 134,08 117,49 106,09 102,18 115,66 thực 2- Thực 012 129,93 119,25 109,08 101,57 118,78 phẩm 3- Ăn uống 013 129,00 116,23 108,39 103,06 114,77 ngoài gia đình II. Đồ uống 02 119,79 110,79 104,76 100,88 110,31 và thuốc lá III. May 03 116,70 109,90 104,25 101,00 109,29 mặc, mũ nón, giầy dép IV. Nhà ở 04 132,32 116,91 105,92 103,67 115,53 và vật liệu xây dựng (*) V. Thiết bị 05 111,21 107,37 102,65 101,22 106,89 và đồ dùng gia đình VI. Thuốc 06 106,17 104,51 101,38 100,71 104,29 và dịch vụ y tế VII. Giao 07 124,08 109,51 108,64 106,69 105,68 thông VIII. Bưu 08 90,07 95,52 99,95 100,02 94,99 chính viễn thông IX. Giáo 09 129,83 124,33 104,74 100,90 123,42 dục X. Văn hoá, 10 110,26 106,03 102,83 100,98 105,69 giải trí và du lịch XI. Hàng 11 122,01 110,16 103,84 101,39 109,98 hoá và dịch vụ khác NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 11 Yh: lotus_flower39
  12. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN 1V CHỈ SỐ 193,87 141,27 104,58 105,00 137,07 GIÁ VÀNG 2U CHỈ SỐ 123,44 112,05 103,70 103,06 110,53 GIÁ ĐÔ LA M Ỹ (Nhóm này bao gồm: tiền thuê nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng) (Nguồn số liệu Tổng cục Thống kê) Dù giả m đôi chút ở tháng sau đó, nhưng con số CPI tháng 5 tăng 2,21% thực sự làm phát hoảng dòng tiền trên thị trường chứng khoán. Bởi lẽ, dù là hạ nhiệt nhưng mức độ tăng rất cao, so với một tháng trước là đỉnh lạ m phát, quan điểm lạc quan nhất cũng không thể trụ vững. Phản ánh trên thị trường chứng khoán, Vn- Index hạ thẳng cánh một đường gọn. Từ ngày 13/5 đến 25/5, chỉ số giá chứng khoán mất gần 100 điểm, xuống đáy 386 điểm lúc đóng cửa. Nhiều dự báo khi đó cho rằng, lạm phát sẽ chỉ đạt đỉnh vào quý 3/2011, thực tế sau này cho thấy đúng như dự báo. Trong 5 tháng đầu năm, cả nước đã qua đợt điều chỉnh giá điện, tuy việc này đã tác động không nhỏ đến đời sống nhân dân cũng như chỉ số giá tiêu dùng (CPI), nhưng ngược lại nó có tác động rất tích cực cho thị trường điện, góp phần bình ổ n và cả nước không xảy ra tình trạng cắt điện, do khi giá điện lên cao thì người dân đã dùng tiết kiệm đi. Điều này chứng tỏ, điều chỉnh giá là một yếu tố then chốt trong hoạt động của doanh nghiệp cũng như cân đối xuất nhập khẩu. Giá hàng hóa nhập khẩu 5 tháng đầu năm 2011 tăng cao nhiều so với cùng kỳ năm 2010, bình quân khoảng 24%. Trong đó nhiều mặt hàng tăng rất cao như xăng dầu tăng 41,5%, cao su các loại tăng 25,5%... Theo ước tính sơ bộ, giá và lượng hàng hóa tăng đã góp phần đưa kim ngạch nhập khẩu tưng thêm 9,4 tỷ USD, trong đó tăng do lượng khoảng 1,9 tỷ USD, chiế m 20% và tưng do giá khoảng 7,5 tỷ USD, NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 12 Yh: lotus_flower39
  13. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN chiế m 80% kim ngạch tăng thêm. Chỉ tính do yếu tố tăng giá đã làm nhập siêu tăng thêm 1,5 tỷ USD. Trong giai đoạn này, quyết tâm kiềm chế lạm phát lớn dần theo các con số về chính sách tài khóa, tiền tệ báo cáo lên Chính phủ. Tại cuộc họp Chính phủ tháng 4, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, số vốn đầu tư dự kiến cắt giả m trong năm nay là 79.262 tỷ đồng, bằng khoảng 9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2011. Trong khi đó, thông tin về các chỉ tiêu của chính sách tiền tệ cũng được Ngân hàng Nhà nước cập nhật, tổng phương tiện thanh toán tính đến 20/5 mới là 1,59% so với cuối năm 2010, rất thấp so với nhiều năm trước; tín dụng tăng tương ứng 6,16%. Phản ứng lại trước các điều chỉnh, CPI tháng 6 hạ nhiệt, xuống mức tăng 1,09%, khép lại nửa đầu năm đầy sóng gió. Đột biến thứ hai: Điểm nút cho khởi đầu ổn định? Như vậy, với sự gia tăng lạ m phát trong nửa đầu đưa nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng khó khăn với thâm hụt ngân sách sâu khiến chính sách tài khóa kém linh hoạt; lãi suất đã quá cao không thể trở thành công cụ điều tiết hữu hiệu; dự trữ ngoại hối mỏng khó can thiệp; tâm lý thị trường không ổn định…, các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng đang đối mặt 4 vấn đề: rủi ro thiếu thanh khoản; rủi ro sai lệch cơ cấu đồng tiền; rủi ro nợ xấu; và rủi ro tổng dư nợ với thị trường bất động sản. Tại thời điểm giữa năm, sức căng của nền kinh tế bắt đầu bộc lộ. Tiếp bước trong quý 3, CPI so với cùng kỳ bò dần tới đỉnh 23,02% vào tháng 8. Nhưng ngược lại, sản xuất ngày càng khó khăn, nhiều doanh nghiệp ngừng hoạt động, trogn 57 NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 13 Yh: lotus_flower39
  14. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN nghìn doanh nghiệp đăng kí kinh doanh, có tới 47 nghìn được xác định đã ngừng hoạt động, điều này làm giảm nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách nhà nước Kể từ đầu tháng 7, bắt đầu có sự điều chỉnh trên thị trường liên ngân hàng. Từ trạng thái liên tục hút ròng trước đó, tháng đầu quý 2 trên OMO đã có những tuần cân bằng giữa bơm và hút, đến tháng 9 bắt đầu có bơm ròng. Tổng phương tiện thanh toán cũng tăng tốc hơn trước, trong khi tín dụng duy trì mức tăng trưởng thấp. Cho đến cuối năm, Ngân hàng Nhà nước ước tính, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 10%, tín dụng tăng khoảng 12%. Khi mà sản xuất tồn kho lớn, các kênh đầu cơ không thể hút nổi dòng tiền đang quay lưng trước các cơ hội đầu tư đầy rủi ro, việc đổ thêm tiền dường như đã chuyển ngược lên thị trường tiêu dùng hàng hóa, d ịch vụ thiết yếu. Ngay lập tức, lạm phát “đáp trả”. Đầu tháng 7, giá thịt gia súc, gia cầm, thủy sản và rau xanh tại Hà Nội tăng đột biến, có nhiều loại gấp rưỡi, gấp đôi chỉ trong ít ngày. Sau đó, CPI tháng 7 cũng rẽ ngoặt “nấc” lên mức tăng mới 1,17%. Tuy nhiên, cũng từ thời điể m này, chỉ số giá tiêu dùng bắt đầu đi xuống thấy rõ. Đến cuối năm, CPI hiện thực “giấc mơ” đẩy lạm phát trở lại với mức tăng theo tháng của các giai đoạn ổn định trước đây, với 3 tháng quý 4 tăng dưới 0,6%. Hỗ trợ xu hướng giá này, tổng mức bán lẻ đã loại trừ yếu tố giá trong năm nay tăng khoảng 4-5%, mức khá thấp so với các năm trước đây, có giai đoạn ở mức 13-15%. Nhưng những cú sốc đến từ tăng học phí trong tháng 9, hay vàng tháng 10 khiến đôi lúc khoảng lặng của lạm phát không tạo được ổn định cho tâm lý thị trường. Sự lạc quan của nhà đầu tư dường như chỉ được thổi lên trong giai đoạn đầ u tiên khi CPI phá vỡ mức cản tăng 1% ở tháng 8. Vn-Index vọt lên trong khoảng thời gian tính CPI tháng 9, tăng từ 384-467 điểm, còn lại đa phần là giảm điểm. NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 14 Yh: lotus_flower39
  15. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN Tại thời điểm này nhìn lại, tăng trưởng GDP theo giá thực tế ước tính khoảng 24- 25%, cho thấy tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán, tín dụng có hỗ trợ giả m tổng cầu. Nhưng chi ngân sách so với năm trước, nếu không tính thu chuyển nguồn như quy định cho năm nay, tăng tới 27,5% so với thực hiện năm 2010, không cho thấy nỗ lực tiết giảm chi tiêu công. Vào cuối năm, CPI có xu hướng giảm và tăng nhẹ 0.53% vào tháng 12, giá điện tăng 0.3%, làm giảm GDP 0.04% và điều chỉnh này sẽ diễn ra vào năm 2012. Nhiều quan điể m cho rằng mục tiêu đưa lạm phát về một con số trong năm 2012 sẽ khó mà hiện thực. Dù là kết quả có thế nào chăng nữa, nhưng những lo ngại như thế đang khiến lạm phát kỳ vọng còn cao. Cho nên, ngoài việc cân bằng lại cung cầu, Chính phủ còn thêm một thách thức phải ổn định lòng tin nếu muốn hạ lãi suất, muốn đồng thuận trong thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế... III. TRIỂN VỌNG KINH TẾ NĂM 2012 Các dự báo đều thống nhất nhận định kinh tế thế giới năm 2012 sẽ u ám, thậm chí tồi tệ hơn rất nhiều so với năm 2011. Hai điểm nhấn quan trọng nhất là sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng của kinh tế toàn cầu, nhất là của các trung tâm tăng trưởng (Mỹ, EU, Nhật, Trung Quốc) và sự bất ổn gia tăng, có khả năng xảy ra cuộc chiến tranh tiền tệ và chiến tranh thương mại (thậm chí nguy cơ suy thoái kép). Trong năm 2012, do độ mở cửa cao, nền kinh tế Việt Nam chắc chắn sẽ chịu tác động tiêu cực từ xu hướng nói trên của kinh tế thế giới. Các năm trước, trong một bối cảnh quốc tế như nhau, các chỉ số kinh tế cơ bản của Việt Nam (tăng trưởng, lạm phát, giá trị đồng tiền, nợ…) đã kém hơn so với nhiều nền kinh tế khác. Khả năng này có thể lại diễn ra trong năm 2012, thậm chí ở cấp độ gay gắt NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 15 Yh: lotus_flower39
  16. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN hơn vì nền kinh tế đang khó khăn, thực lực lại bị yếu đi hơn nhiều so với những năm trước. Tuy có thể có một số tác động "tích cực" nào đó (giá cả hàng hóa, năng lượng, nguyên liệu có thể giảm, giúp giảm CPI, hỗ trợ tăng trưởng), song tình hình kinh tế thế giới năm 2012 nhìn chung sẽ tác động bất lợi nhiều hơn đến sự tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế nước ta.  Thực lực nền kinh tế Việt Nam khi bước vào năm 2012 Xu hướng suy giảm tốc độ tăng trưởng, tình trạng lạm phát cao, thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách nặng nề kéo dài đã nhiều năm và vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Ở đây điểm đáng lưu ý là có thể xuất hiện tình huống vòng xoáy trong phát triển kinh tế, tức là đình trệ đi liền với lạm phát cao, một tình huống rất nguy hiểm.  Một số biểu hiện cần được lưu ý hiện nay là: 1) Sức khỏe doanh nghiệp bị hao hụt nặng. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chín tháng đầu năm nay có gần 50.000 doanh nghiệp (9% tổng số) đóng cửa. Tuy NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 16 Yh: lotus_flower39
  17. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN mức độ chính xác của số liệu còn phải bàn (có một số bằng chứng gián tiếp nhưng đáng tin cậy cho rằng số doanh nghiệp đóng cửa có thể lên tới 30- 35%, tức là gấp 3-4 lần con số công bố), song con số 9% cũng tạm đủ để nói lên tính nghiêm trọng của tình hình. 2) Đời sống của dân cư, nhất là nhóm người thu nhập thấp ngày càng khó khăn do lạm phát cao kéo dài và việc làm bị thu hẹp. Hệ quả là sức mua xã hội giảm và lòng tin bị xói mòn. 3) Dư địa chính sách và năng lực tài chính nhà nước để tăng tốc độ tăng trưởng (tăng đầu tư Chính phủ) và kiềm chế lạm phát bị thu hẹp mạnh mẽ. Các giải pháp để xử lý vấn đề trong ngắn hạn chủ yếu vẫn là các giải pháp hành chính.Tình thế phát triển nêu trên cho phép nhận định: cơ sở cho tăng trưởng GDP năm 2012 nhìn chung là yếu hơn so với các năm trước và dư địa chính sách để chống lạm phát và ổn định vĩ mô bị thu hẹp đáng kể. Năm 2012 có nhiệm vụ khôi phục ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát và phục hồi tăng trưởng. Về nguyên tắc, đó là những nhiệm vụ "thông thường" của một nền kinh tế khi lâm vào tình trạng khó khăn. Nhưng năm 2012 là năm đặc biệt, theo nghĩa đây là năm nền kinh tế lâm vào tình thế khó khăn nghiêm trọng, cũng là năm nền kinh tế phải tạo bước ngoặt để xoay chuyển tình hình – ổn định kinh tế vững chắc để khôi phục lòng tin, hạ thấp lạm phát đến mức giúp các doanh nghiệp không lún sâu hơn vào tình thế bi kịch (số doanh nghiệp bị đóng cửa và phá sản tiếp tục tăng). Ngoài ra, năm 2012 còn một điểm nhấn đặc biệt khác: tiến hành tái cấu trúc nền kinh tế với các hành động thực tế mang tính chiến lược để thay đổi mô hình tăng trưởng. Để thực hiện các nhiệm vụ – mục tiêu đó, ngay từ bây giờ, cần quán triệt tư duy "đánh đổi" khi cân nhắc mức độ ưu tiên giữa mục tiêu ổn định – cải cách (tái NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 17 Yh: lotus_flower39
  18. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN cấu trúc) và mục tiêu tăng trưởng trên quan điểm lợi ích phát triển dài hạn (lợi ích chiến lược). Về cấp độ ưu tiên, thực tiễn nhiều năm cho thấy để đưa nền kinh tế thoát ra khỏi tình trạng khó khăn hiện nay, không thể không ưu tiên cho nhiệm vụ tái cơ cấu. Nhưng để quá trình tái cơ cấu có thể diễn ra, cần ổn định nền kinh tế để tái lập lòng tin thị trường, lòng tin xã hội. Đây phải là hai mục tiêu – nhiệm vụ ưu tiên cao nhất. Như vậy, tăng trưởng đương nhiên không phải là mục tiêu ưu tiên và phải kiên định với lập trường này. Nhấn mạnh điều này vì thực tế mấy năm gần đây diễn ra một tình trạng nghịch lý: mục tiêu ưu tiên (kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô, tái cơ cấu) thì thường khó (hay không) đạt còn mục tiêu không ưu tiên (tốc độ tăng trưởng GDP) thì đạt được tương đối dễ dàng. Điều này chứng tỏ mục tiêu tăng trưởng được thực hiện theo một cơ chế mang tính tự động, bản năng, bất chấp các nỗ lực chính sách. Theo logic đó, để xoay chuyển thực tiễn thì điều đầu tiên là phải "đổi mới tư duy", phải biết đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng ở mức ít tham vọng nhất, ít cần được quan tâm nhất, tức là với sự tự giác cao nhất. Để làm được điều này, trong năm 2012, cần gạt bỏ triệt để căn bệnh "nghiện" thành tích tốc độ tăng trưởng. Chính phủ và cả hệ thống chính trị cần coi trọng hơn hệ thống đánh giá năng lực và thưởng phạt căn cứ vào thành tích chống lạm phát và khôi phục lòng tin.  Phân tích kịch bản kinh tế năm 2012 Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra hai kịch bản tăng trưởng (xem bảng, các con số trong ngoặc thuộc kịch bản 2). NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 18 Yh: lotus_flower39
  19. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN Tuy đã "nén" các chỉ số, song các mục tiêu đề xuất trong cả hai kịch bản, kể cả trong kịch bản "ít lạc quan" cũng đều lạc quan hơn so với kết quả thực tế đạt được năm 2011. Đáng lưu ý là sự cải thiện mạnh mẽ một số chỉ tiêu chất lượng – đầu tư ít hơn nhưng tốc độ tăng trưởng cao hơn, bội chi ngân sách ít hơn. Trước hết, có thể thấy đây là các con số mục tiêu và cơ bản giống như các năm khác. Với kịch bản này, dường như việc nhận diện tình thế và nhiệm vụ phải làm của năm 2012 không có gì khác biệt, chưa nói là đặc biệt. Thử đặt một vài câu hỏi cho kịch bản mục tiêu (so năm 2012 với 2011): 1. Tổng đầu tư xã hội giảm mạnh, từ 39,8% GDP xuống 33,5-34% GDP, nhưng tốc độ tăng GDP cao hơn -> như vậy là phải trông đợi vào tăng hiệu quả đầu tư. Nhưng phép màu tăng hiệu quả là ở đâu? 2. Xuất khẩu tăng trưởng chậm hơn nhiều (12% so 31%), nhưng thâm hụt thương mại lại ngang bằng năm 2011 -> có nghĩa là nhập khẩu tăng trưởng chậm hơn nhiều -> tức là "đầu vào" nhập khẩu tăng chậm. Điều đó sẽ tác động đến tăng trưởng GDP theo chiều hướng tiêu cực? 3. Lạm phát thấp hơn nhưng tăng trưởng GDP cao hơn. Chính sách tiền tệ và tài khóa tiếp tục thắt chặt, việc tiếp cận vốn của doanh nghiệp như thế nào? 4. Việc giảm lạm phát xuống dưới 10% đã đủ bảo đảm tái lập ổn định vĩ mô và giúp chặn xu hướng đóng cửa và phá sản của các doanh nghiệp chưa? 5. Mức giảm bội chi ngân sách thấp (chỉ giảm 0,5% GDP). Giả dụ mức thu ngân sách năm 2012 giữ nguyên mức thu của năm năm gần đây (28,2% GDP) thì mức chi tiêu ngân sách năm 2012 vẫn đạt 33% GDP. Đó là chưa kể đến khả năng năm 2012 ngân sách được chi tiêu phần ngân sách vượt thu của năm 2011 (90.000 NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 19 Yh: lotus_flower39
  20. LẠM PHÁT VÀ GÓC NHÌN SINH VIÊN tỉ đồng). Các con số này cho thấy mức chi ngân sách ở Việt Nam là quá lớn trong những năm vừa qua (so với mức thông thường của đa số quốc gia trên thế giới). Với các kịch bản nêu trên, có thể đặt câu hỏi phải chăng xu hướng suy thoái rõ rệt của kinh tế thế giới không ảnh hưởng gì đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, rằng tình trạng phá sản và đóng cửa của một số lớn doanh nghiệp trong năm 2011 không ảnh hưởng tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng GDP?  Đề xuất kịch bản hành động Trong tình huống cấp bách thì phải có liệu pháp đặc biệt, cần một kịch bản hành động mạnh, rõ ràng, theo đúng tinh thần tái cơ cấu là nhiệm vụ chính của năm 2012. Giải pháp tái cơ cấu phải được coi là trục giải pháp chính của việc ổn định và khôi phục tăng trưởng, các chính sách tiền tệ là giải pháp hỗ trợ, tập trung vào các chính sách tài khóa và cải cách DNNN. Cách tiếp cận giải pháp là: thực hiện các giải pháp mạnh để xoay chuyển tình hình và chấp nhận trả giá để hạ nhanh lạm phát, tái lập ổn định vĩ mô vững chắc, khôi phục lòng tin và phục hồi các cơ sở tăng trưởng. Cách tiếp cận mới về các mục tiêu phát triển năm 2012 Mục tiêu ưu tiên là ổn định và khôi phục lòng tin, xác lập mô hình tăng trưởng mới. Bên cạnh đó, các mục tiêu bổ sung là giảm lạm phát xuống 6-7%, không quá chú trọng tốc độ tăng trưởng GDP, có thể chỉ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP 3-4%, cùng lắm là 5%. Về giải pháp, cần kiên quyết giảm thu ngân sách xuống 24-25% GDP, trên cơ sở đó, thực sự giảm chi ngân sách, giảm đầu tư công, kéo mức thâm hụt ngân sách xuống 4% GDP. NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ Page 20 Yh: lotus_flower39
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2