intTypePromotion=1

LUẬN ÁN: Tìm hiểu nền văn hóa phong kiến Nhật Bản (Từ thế kỷ VII đến cuối thế kỷ XIX)

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:129

0
156
lượt xem
51
download

LUẬN ÁN: Tìm hiểu nền văn hóa phong kiến Nhật Bản (Từ thế kỷ VII đến cuối thế kỷ XIX)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nhật Bản và Việt Nam là hai quốc gia ở Châu á, hai nước không chỉ gần nhau về mặt địa lý mà còn có nhiều điểm tương đồng về văn hóa và tính dân tộc. Xuất phát từ tình cảm thân thiết đó, từ lâu hai dân tộc đã hình thành sự giao lưu trên nhiều lĩnh vực. Mặc dù, mối quan hệ giữa hai dân tộc trong lịch sử cũng có những lúc thăng trầm, nhưng tình cảm hữu nghị giữa hai nước vẫn mãi mãi trường tồn cùng với thời gian. Trong những năm gần đây, chính sách...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN ÁN: Tìm hiểu nền văn hóa phong kiến Nhật Bản (Từ thế kỷ VII đến cuối thế kỷ XIX)

  1. II LUẬN ÁN: Tìm hiểu nền văn hóa phong kiến Nhật Bản (Từ thế kỷ VII đến cuối thế kỷ XIX)
  2. 1. Lý do chọn đề tài Nhật Bản và Việt Nam là hai quốc gia ở Châu á, hai nước không chỉ gần nhau về mặt địa lý mà còn có nhiều điểm tương đồng về văn hóa và tính dân tộc. Xuất phát từ tình cảm thân thiết đó, từ lâu hai dân tộc đã hình thành sự giao lưu trên nhiều lĩnh vực. Mặc dù, mối quan hệ giữa hai dân tộc trong lịch sử cũng có những lúc thăng trầm, nhưng tình cảm hữu nghị giữa hai nước vẫn mãi mãi trường tồn cùng với thời gian. Trong những năm gần đây, chính sách mở cửa và xu hướng xích lại gần nhau của các quốc gia dân tộc trong khu vực và trên thế giới đang đặt ra nhu cầu giao lưu và hòa nhập trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và đời sống xã hội. Cùng với xu hướng đó, quan hệ giữa hai nước Nhật Bản và Việt Nam đang ngày càng được tăng cường mở rộng, trao đổi với nhau về nhiều phương diện. Trong đó, sự giao lưu văn hóa giữa hai nước được coi là vấn đề quan trọng, nhằm để tìm ra tiếng nói chung và để tìm thấy nét đẹp trong những nét riêng biệt về văn hóa của nhau. Mục tiêu đó đã được Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII nêu rõ: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực, vừa là mục tiêu, vừa là tấm gương phản chiếu để điều tiết sự phát triển kinh tế xã hội". Ngoài những giá trị chuẩn mực xã hội, văn hóa còn là một thực thể tinh thần luôn ở trạng thái giao lưu, học hỏi. Đặc biệt là trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, đó là điều kiện cần thiết để nắm bắt những cái tiến bộ, loại trừ những cái xấu xa, lỗi thời, để tự mình vươn lên chứ không tự đánh mất mình, hòa nhập mà không hòa tan và hiểu người để hiểu mình. Do vậy, chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể có sự phát triển kinh tế xã
  3. hội bền vững. Điều đó, Tổng Bí thư Đỗ Mười đúc kết một câu rằng: Quá trình tiến hóa của một Quốc gia luôn luôn phải gắn với cội nguồn, phát triển trên nền bản sắc văn hóa dân tộc đi đôi với việc tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại... Nếu phát triển tách khỏi cội nguồn, xa rời những giá trị văn hóa truyền thống, nhất định sẽ lâm vào nguy cơ đánh mất bản thân, chẳng những không thể đóng góp cho nền văn hóa chung của nhân loại mà còn trở thành bản sao mờ nhạt của dân tộc khác. Chính bởi vậy, nhận thức đúng về văn hóa là một điều kiện không thể thiếu trong việc trang bị hành trang tiến vào tương lai. Để bước sang thế kỷ XXI này, làm cho mối quan hệ sâu sắc hơn theo tinh thần "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển" cũng như mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản nói riêng cần phải phát huy hơn nữa thì việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc và nhân dân Việt Nam - Nhật Bản là điều cần thiết. Bằng những ý nghĩa thực tiễn nh ư trên, chúng tôi chọn đề tài "Tìm hiểu nền văn hóa phong kiến Nhật Bản (Từ thế kỷ VII đến cuối thế kỷ XIX)" làm đề tài nghiên cứu. 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội của các quốc gia dân tộc thì việc tìm hiểu, giao lưu văn hóa giữa các Quốc gia với nhau trở thành một vấn đề quan trọng. Cũng như nhiều quốc gia khác, đặc biệt là sự thành công về kinh tế của Nhật Bản sau những thập kỷ chiến tranh thế giới thứ hai đã thu hút sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới và khu vực. ở Việt Nam, việc nghiên cứu Nhật Bản đã được quan tâm từ lâu và đã có những công trình được xuất bản, những bài đăng trên tạp chí.
  4. Cùng với quá trình đổi mới, sự quan tâm của các nhà lãnh đạo và nhân dân Việt Nam ngày càng tăng. Đặc biệt là hiện nay, mối quan hệ Nhật Bản - Việt Nam ngày càng được tăng cường thì nhu cầu tìm hiểu về Nhật Bản càng trở nên cần thiết. Vì thế, khi nghiên cứu về Nhật Bản đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, một số các tác giả đã có những công trình nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực. Trong đó nghiên cứu về văn hóa như chữ viết, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng... cũng đã được nhiều tác giả đề cập đến. Tiêu biểu như: Năm 1989 tác giả Hữu Ngọc trong cuốn "Hoa Anh Đào và điện tử" đã có nhiều gợi ý về những thành tựu đã đạt được của nền văn hóa đó qua các giai đoạn lịch sử. Năm 1990 San Som tác giả của hai tập "Lược sử văn hóa Nhật Bản" đã miêu tả sơ lược về nguồn gốc và những đặc điểm của tín ngưỡng dân tộc ở chương III, quá trình tiếp thu, phát triển về tư tưởng Nho giáo và Phật giáo ở chương VI. Chương XII bàn về sự hình thành và Nhật Bản hóa hệ thống tư tưởng này. Ngoài ra, tác giả còn lý giải về quá trình ra đời và sự hình thành của chữ viết, văn học, nghệ thuật Nhật Bản ở chương VI và chương XII. Sự phát triển phổ biến của nền văn hóa Nhật Bản mang màu sắc dân tộc được tác giả bàn tới ở chương XVI và XVIII. Năm 1991 tác giả Vĩnh Sính trong cuốn "Nhật Bản cận đại" đã đưa ra những khẳng định khái quát về những thành tựu văn hóa trong từng giai đoạn lịch sử của chế độ phong kiến Nhật Bản. Năm 1995, các tác giả Rechard Bowring và Peter Nikki trong cuốn "Bách khoa toàn thư Nhật Bản" đã đưa ra những đặc điểm, mục đích khái quát về văn học, nghệ thuật, tôn giáo kiến trúc, hội họa điêu khắc v.v... Năm 1997, các tác giả Lương Duy Thứ, Phan Nhật Chiêu, Phan Thu Hiền trong "Đại cương văn hóa phương Đông" đã viết: Văn hóa Nhật Bản chịu ảnh hưởng cả hai nền văn hóa ấn - Trung và sau này của phương Tây mà vẫn kiến tạo được một bản sắc độc đáo, Nhật Bản là một biểu mẫu của thân hóa, dung hợp và phát triển các ngọn nguồn văn minh khác nhau [35, tr. 223].
  5. Trong các công trình ấy, đều nói về các tiêu đề văn học, nghệ thuật, tôn giáo, kiến trúc hội họa, điêu khắc... đã được các tác giả đề cập đến. Ngoài các công trình nghiên cứu trên, các tác giả: Nguyễn Thị Việt Thanh đã đóng góp nhiều ý kiến trong việc nghiên cứu về hệ thống chữ Kana của Nhật Bản. Trần Hải Yến trong "Một số nét đặc trưng của văn học Nhật Bản" đã viết: Văn học Nhật Bản có những nét đặc trưng liên quan tới văn học Trung Quốc và văn học phương Tây, những đặc trưng này gắn liền với 5 nhân tố chính đó là: Vai trò của văn học trong văn hóa Nhật Bản với tư cách một tổng thể, mô hình phát triển của lịch sử văn học, ngôn ngữ Nhật Bản và hệ thống chữ viết của nó, cơ sở xã hội của văn học và những yếu tố tôn giáo và triết học [34]. Trong "Tìm hiểu Đạo Phật ở Nhật Bản", Nguyễn Thị Thúy Anh đã chia quá trình hình thành và phát triển của Đạo Phật Nhật Bản ra 3 thời kỳ "Truyền bá, Nhật Bản hóa, Tồn tại" [4]. Các công trình nghiên cứu trên là những tư liệu quý có ý nghĩa quan trọng trong việc gợi ý, hướng dẫn chúng tôi thực hiện đề tài. Như vậy, vấn đề mà đề tài đặt ra còn mới mẻ. Theo suy nghĩ của chúng tôi, nghiên cứu để góp thêm một ý kiến nhằm đáp ứng phần nào đó về nhu cầu tìm hiểu nền văn hóa phong kiến Nhật Bản là điều cần thiết và bổ ích. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
  6. Mục đích của đề tài là nghiên cứu, tìm hiểu về nền văn hóa thời phong kiến Nhật Bản, nhằm nâng cao hơn nữa về sự hiểu biết nền văn hóa, và những nét truyền thống nổi bật của đất nước Nhật Bản. Để thực hiện được mục đích đó, chúng tôi đã nghiên cứu về các vấn đề văn hóa như chữ viết, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng... thông qua các giai đoạn lịch sử, thiết chế chính trị thời phong kiến Nhật Bản. Qua việc nghiên cứu cho thấy, quá trình hình thành và phát triển Nhật Bản nói chung, là một dân tộc gặp nhiều khó kh ăn. Do sự tác động của điều kiện địa lý cũng như chịu sự ảnh hưởng nền văn hóa bên ngoài. Nhưng nhân dân Nhật Bản đã tự vượt qua mọi khó khăn, từng bước vươn lên trở thành một biểu tượng của một quốc gia phát triển nhất ở phương Đông thời hiện đại. Quá trình ảnh hưởng, tiếp thu và xây dựng đó là cơ sở cho đề tài chúng tôi cần nghiên cứu. Chúng tôi hy vọng rằng, đề tài thành công sẽ đóng góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu, trao đổi với nhau trong mối quan hệ giữa hai nền văn hóa Nhật Bản và Việt Nam. Theo mục tiêu thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế, văn hóa mà Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đề ra. 4. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi đã sử dụng kết hợp các phương pháp sau: - Nghiên cứu lịch sử là phương pháp quan trọng. Sử dụng phương pháp này dựa trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu sự thật, cụ thể. Bao gồm các tài liệu có liên quan về văn hóa thời phong kiến Nhật Bản như: Văn học, nghệ thuật, kiến trúc, hội họa, tôn giáo và tín ngưỡng...
  7. - Khi nghiên cứu đề tài, chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp này dùng để thống kê, phân loại các tư liệu đã thu thập được, giúp người nghiên cứu nhìn nhận, phân tích, đánh giá tính khả thi của vấn đề mà đề tài đặt ra. - Quan sát là phương pháp không thể thiếu khi nghiên cứu đề tài này. Chúng tôi sử dụng phương pháp quan sát để nhìn nhận khái quát một cách toàn diện về văn hóa Nhật Bản, để đi sâu vào nghiên cứu từng giai đoạn nhỏ trong thời kỳ lịch sử phong kiến Nhật Bản. - Ngoài các phương pháp trên, đề tài còn kết hợp sử dụng phương pháp lôgic và phương pháp lịch sử. Hai phương pháp này có tác dụng bổ sung hỗ trợ lẫn nhau giúp người nghiên cứu nhìn nhận vấn đề một cách lôgic, khoa học trong việc xử lý tài liệu, so sánh, đối chiếu theo hệ thống thông tin đã thu thập được. Dựa trên cơ sở đó để giải thích, đánh giá và tìm ra những kết luận đúng mang tính khách quan. 5. Phạm vi nghiên cứu Để thực hiện đề tài, vấn đề quan tâm trước tiên là sự hình thành, tiếp thu và phát triển của nền văn hóa phong kiến Nhật Bản. Chúng tôi đã nghiên cứu về tất cả các mặt của nền văn hóa Nhật Bản như văn học, nghệ thuật, kiến trúc, hội họa, điêu khắc, tôn giáo... theo các giai đoạn phát triển lịch sử. 6. Cấu trúc luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 5 chương.
  8. Chương 1 Nhật Bản - đất nước và con người 1.1. Đất nước Nhật Bản Nhật Bản - "Xứ sở hoa Anh Đào" là một quần đảo ở phía Đông Bắc lục địa châu á, nằm giữa biển Nhật Bản và Thái Bình Dương. Quần đảo này được hình thành bởi những vụ nổ núi lửa cách đây nhiều triệu năm. Nó bao gồm gần 4000 đảo lớn nhỏ uốn theo hình cánh cung rải từ Đông Bắc xuống Tây Nam, với chiều dài khoảng 3.900km, từ vĩ độ bắc 45033 đến 20025. Nhật Bản có tổng diện tích là 377.815km2. Tuy là một quần đảo nhưng nó chỉ có 4 đảo lớn, theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là: Hokkaido (Bắc Hải đảo); Honshu (Bản đảo hay Bản Châu); Shikoku (Tứ quốc); Kyushu (Cửu Châu). Xét về mặt địa lý, Nhật Bản nằm ở một vị trí biệt lập cách xa đại lục, khoảng cách từ Nhật Bản đến Trung Quốc là 800km, vùng gần miền Nam bán đảo Triều Tiên là đảo Kyushu cách tới 180km. Có thể nói rằng, Nhật Bản đủ xa châu á để thoát khỏi các đột biến của lục địa nhưng lại đủ gần để có thể hưởng những thành quả của nền văn minh đó. Từ xa xưa, quần đảo Nhật Bản giữ mối quan hệ với lục địa châu á qua ba con đường: Phía Bắc từ miền Đông Xibia đến Hokkaido qua Sakhalin; Phía Đông từ bán đảo Triều Tiên đến Honshu và đường phía Nam từ đất Trung Hoa đến đảo Kyushu qua Đài Loan và quần đảo Ryukyu. Từ ba con đường này, Nhật Bản có mối quan hệ giao lưu kinh tế, văn hóa từ lâu với thế giới. Tuy nhiên, tính chất "đảo" ấy đã tạo nên ở Nhật Bản một hoàn cảnh địa lý đặc biệt. Nếu như nữ thần Amatêraxu đã ưu ái phú cho Nhật Bản những người con gái đẹp và khí hậu ôn hòa, thì người lại dồn cho Nhật Bản nhiều thử thách thiên nhiên mà trong đó thường trực tai họa khủng khiếp như: Bão tố, sóng thần thường xuyên ập đến, nhất là khi giao thông còn sơ khai, là một trở ngại lớn đối với Nhật Bản trong việc quan hệ giao lưu với các nước xung quanh và thế giới. Nhưng sự biệt lập của tính chất "đảo" lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và bảo vệ nền độc lập dân
  9. tộc, giúp cho người Nhật chủ động cải tạo và xây dựng nền văn minh thống nhất và độc đáo của mình. Điều kiện tự nhiên Nhật Bản tuy đẹp nhưng quả thật khắc nghiệt đối với con người. Những hòn đảo nghèo nàn này không được hưởng những thiên thời và địa lợi. ở Nhật Bản, đất đai canh tác ít chỉ chiếm 15% diện tích, còn lại là đồi núi. Nhật Bản không những không có con sông lớn, không có những cánh đồng phù sa màu mỡ như ở Ai Cập, Lưỡng Hà hay Trung Quốc mà còn là đất nước phải chịu đựng nhiều nét khắc nghiệt và dữ dội của một vùng đất đầy núi lửa, động đất, sóng thần, bão lụt và hạn hán. Cho đến ngày nay, ở Nhật Bản còn hơn 30 ngọn núi lửa đang hoạt động trong số 196 ngọn núi. Hàng năm có tới hàng nghìn lần rung chuyển địa chất và thỉnh thoảng lại có những trận động đất lớn, có khi thiêu hủy cả thành phố. Người Nhật đã ý thức sớm được những khó khăn bất lợi trong điều kiện địa lý và tự nhiên. Cho nên, từ thời cổ đại, Nhật Bản đã nhanh chóng tiếp thu những tinh hoa tiến bộ từ bên ngoài vào, đặc biệt là ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa để tạo điều kiện cho bước phát triển của mình. Như vậy, việc tìm hiểu vị trí địa lý và tự nhiên của Nhật cho chúng ta thấy, Nhật Bản đã vươn lên thật là mạnh mẽ như thế nào để trở thành một trong những dân tộc đứng hàng đầu thế giới về kinh tế, kỹ thuật. Sự thành công đó đã chứng tỏ là một thắng lợi của con người đối với thiên nhiên. 1.2. Con người Nhật Bản Người Nhật Bản có nguồn gốc như thế nào? Hay người Nhật từ đâu đến? Đây là một vấn đề còn đang được tranh luận. Nhưng có một số điểm gần như được nhiều nhà nghiên cứu và nhiều nhà khảo cổ học thống nhất với nhau rằng, tổ tiên xa x ưa của người Nhật là từ nhiều nơi đến. Đặc biệt là nhóm di cư từ phía Bắc lục địa châu á xuống và có một bộ phận từ các miền duyên hải Nam á lên. Những phát hiện trên quần đảo cho thấy, từ thời đại đồ đá cũ khoảng 10 vạn năm trước đây có các nhóm cư dân săn bắn và hái
  10. lượm, rải rác từ miền Đông Xibia di cư sang phía Bắc Nhật Bản qua đường Hokkaido và Sakhalin. Nền văn hóa thuộc thời đại này được phát hiện nằm rải rác trên khắp nước Nhật như: Những chiếc cầu bằng đất, những kiểu nhà ở và các câu chuyện truyền thuyết gợi lên nguồn gốc đại dương, các đặc điểm văn hóa đa dạng có nhiều nét tương tự như ở phía Nam Trung Quốc, các lăng mộ và việc chế tác đã gợi đến mối liên hệ với việc di cư của người dân từ vùng Triều Tiên và vùng phía Bắc Trung Quốc. Tất cả điều đó đã cho thấy: "Chủng tộc Nhật Bản là kết quả của sự pha trộn các yếu tố của các miền khác nhau trên lục địa châu á từ thời tiền sử" [26, tr. 14]. Trong đó, nòi giống phương Bắc chiếm một phần khá mạnh, chủ yếu là người Mông Cổ, ngoài ra còn các yếu tố Trung Hoa và người Ainu. Trải qua nhiều thời đại lịch sử, sự pha trộn ấy đã sản sinh ra một dân tộc tương đối thuần nhất để phân biệt với các nước láng giềng như Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ, cả trong ngôn ngữ, sinh hoạt, tôn giáo, cơ cấu chính trị và xã hội... Những nét riêng đó đã sớm trở thành bản chất của người Nhật Bản. Trong lịch sử phát triển của mình, yếu tố Trung Hoa đóng một vai trò quan trọng. Từ xa xưa, người Nhật đã có sự khát khao đối với các nền văn minh khác, và trong lịch sử tiến hóa của mình, người Nhật hoan nghênh các yếu tố văn hóa nước ngoài mà không gạt bỏ các tập tục truyền thống đã có. Có thể nói, nhân dân Nhật Bản đã hấp thụ có chọn lọc nhiều phát kiến văn hóa của các nền văn minh trên thế giới. Ngay từ thời tiền sử, văn hóa Trung Hoa đã thấm đượm trong văn hóa Nhật Bản. Do sự kết hợp giữa con người, điều kiện địa lý và thiên nhiên độc đáo, tạo nên tính cách đặc trưng của con người Nhật Bản. Trước tiên là tính hiếu kỳ, nhạy cảm với văn hóa nước ngoài. Điều đó có thể nói, không có một dân tộc nào nhạy bén về văn hóa nước ngoài như người Nhật, họ không ngừng phát triển, theo dõi những biến đổi của thế giới bên ngoài. Khi họ biết trào lưu nào đang thắng thế thì họ sẵn sàng chấp nhận, học hỏi, nghiên cứu để bắt kịp trào lưu đó không để lỡ thời cơ. Ví như: Khi thấy văn hóa Trung Quốc phát triển mạnh mẽ, người Nhật đã nhanh chóng tiếp thu nền văn hóa ấy, nhưng họ rất ý thức về tài sản văn hóa của
  11. họ, một nền văn hóa đã được trang trọng bồi dưỡng và tích lũy qua các thời đại lịch sử vì thế người Nhật rất trân trọng nó. Người Nhật cũng có óc thẩm mỹ, sự bền bỉ, kiên trì cũng là tính cách của người Nhật. Họ ưa chuộng cái đẹp, điều đó được thể hiện trong tính cách ăn mặc, kiến trúc và lối sống. Những đặc trưng trong tính cách người Nhật là điều kiện thuận lợi cho sự tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, đồng thời nó giúp cho người Nhật Bản chủ động nắm bắt và cải tiến nền văn hóa ấy mang màu sắc dân tộc mình.
  12. Chương 2 Văn hóa Nhật Bản từ cải cách taika đến trước KHI thành lập chế độ Mạc Phủ (từ thế kỷ VII đến thế kỷ XII) 2.1. Bối cảnh lịch sử của Nhật Bản trong giai đoạn từ cải cách Taika đến trước khi thành lập chế độ Mạc Phủ Từ cuối thế kỷ VI, một bộ phận quý tộc Nhật Bản chịu ảnh hưởng của nền văn hóa, đặc biệt là những học thuyết chính trị và pháp luật của Trung Quốc, muốn cải cách nước Nhật theo mô hình của nhà Đường. Nhưng lúc đó, dòng họ Soga (Tô Ngã) đang nắm quyền lực lớn trong triều đình, chiếm đoạt nhiều ruộng đất và nhiều bộ dân, đó là chướng ngại chủ yếu trên con đường xây dựng và củng cố Nhà nước Trung ương tập quyền ở Nhật Bản. Vì vậy chỉ có thủ tiêu thế lực Soga thì việc cải cách mới có thể thực hiện được. Năm 645, trong khi tiếp kiến với sứ giả Triều Tiên, quan nhiếp chính Soga Iruca (Tô Ngã Nhập Lộc) đã bị ám hại. Những người đảo chính sau đó bao vây và đốt cháy dinh phủ, giết hại những người thuộc dòng họ Soga. Quyền lực thực sự trả về cho Thiên hoàng Kotoku (Hiếu Đức), đặt niên hiệu là Taika (Đại Hòa). Khi lên nắm chính quyền Thiên hoàng Kotoku đã ban hành một loạt cải cách, vào tháng giêng năm 646 (năm Taika thứ hai). Thiên hoàng Kotoku hạ chiếu cải cách và tiếp đó ban hành một số luật lệnh cụ thể dựa trên cơ sở của chế độ chính trị và tô thuế nhà Đường. Những cuộc cải cách này trong lịch sử Nhật Bản gọi đó là cuộc cải cách Taika (Đại Hòa Cách Tân).
  13. Nội dung chủ yếu của cuộc cải cách Taika là thiết lập một hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương theo mô hình nhà Đường ở Trung Quốc, đồng thời tuyên bố xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất của các quý tộc thị tộc. Trừ ruộng đất của các đền chùa, còn lại tất cả ruộng đất trong nước đều thuộc quyền sở hữu của Nhà nước. Chế độ bộ dân (những người dân bán tự do) cũng bị xóa bỏ và bộ dân được giải phóng, được tự do bình đẳng như những người dân tự do khác. Nhưng tất cả mọi người đều trở thành thần dân chịu sự quản lý của Thiên hoàng. Sau cải cách Taika, xã hội Nhật Bản có sự chuyển biến lớn lao, với cuộc cải cách này, chế độ bộ dân bị xóa bỏ, sức lao động của bộ dân được giải phóng và được coi như dân tự do. Thực chất là xác lập quan hệ sản xuất phong kiến, tức là Nhà nước có quyền sở hữu tối cao về ruộng đất. Chính sách "ban điền" của Nhà nước đã đem lại ruộng đất cho nông dân, kể cả bộ dân được giải phóng cũng được chia ruộng đất, họ có kinh tế và gia đình nên họ hứng thú sản xuất hơn. Tuy nhiên, họ phải chịu nộp mức thuế cố định theo chế độ bóc lột Tô-Dung-Điệu của Nhà nước. Những nguyên tắc chính của chế độ này đã được cụ thể hóa trong bộ luật Taiho Retsurgo. Các gia đình, những người nông dân được chia ruộng đất nhưng họ không có quyền rời khỏi phần ruộng đất được chia của mình và họ phải trả tô thuế cho Nhà nước và các nghĩa vụ lao động bắt buộc khác. Như vậy, chế độ "ban điền" sau cải cách Taika đã xác nhận quan hệ sản xuất phong kiến ở Nhật Bản. Mặc dù những biện pháp trên giải phóng được chế độ bộ dân và đem lại ruộng đất cho nông dân, nhưng đồng thời nó cũng trói chặt nông dân vào ruộng đất để Nhà nước và bọn chủ ruộng thống trị, nô dịch họ. Bên cạnh việc chia ruộng đất cho nông dân, Nhà nước còn phân phong đất đai cho tầng lớp quý tộc tùy theo tước vị, chức sắc và công lao của họ. Những phần đất đặc quyền này được quy định theo ba loại là: tước vị và chức sắc chỉ được ban tặng tạm thời một hoặc hai, ba đời. Còn công lao là tối đa, phần lớn đất đai này là của con cháu giới quý tộc có quyền thế trong bộ máy chính quyền ở trung ương và địa phương, nên đã dần dần biến ruộng đất được ban cấp thành ruộng đất tư hữu. ở những vùng đất đặc quyền có
  14. nông dân sinh sống thì những người nông dân đã trở thành "phong hộ" cho giai cấp quý tộc, họ phải nộp phần lớn thu nhập sản phẩm của mình cho giai cấp quý tộc. Ngoài ra, chúng còn cướp đoạt ruộng đất của nông dân để mở rộng thêm phần đất của mình. Do vậy, quy mô và hình thức sở hữu đất đai ngày càng lớn và đa dạng, đó là tiền đề làm cho cuộc cải cách Taika trong thực tế đã bị thất bại. Thêm vào đó, sự yếu kém của chính quyền từ trung ương đến địa phương, quyền lực bị chia cắt nhỏ trong việc quản lý đất đai, thu thuế cũng là những bối cảnh dẫn đến hệ quả trên. Chế độ ban điền đã bị bãi bỏ từ năm 850. Lợi dụng chính sách khai khẩn đất hoang của triều đình, lại được sự che chở của giới quý tộc ở kinh đô, nên tầng lớp địa chủ ở địa phương đã chiếm đoạt nhiều ruộng đất. Các thế lực mạnh lên nhanh chóng, họ muốn có quyền sở hữu vĩnh viễn đối với đất đai của họ. Cùng với thời gian, các phần đất được chia bị biến thành trang viên (Shoen) phong kiến. Các Tự Viện (đền chùa) cũng được Thiên hoàng và quý tộc ban tặng nhiều ruộng đất và cũng trở thành các trang viên, được miễn thuế hoàn toàn. Các chủ trang viên đã trở thành các chúa đất độc lập, họ không chịu sự kiểm soát của triều đình. Những người nông dân trở thành sở hữu riêng của các chủ lãnh địa phong kiến. Sự bóc lột tàn bạo, tô thuế cao cùng với việc chiếm đoạt ruộng đất của nông dân đã gây ra những cuộc phản kháng rõ rệt, những người nông dân chạy trốn khỏi lãnh địa. Một số người chạy trốn đã tổ chức thành các đội chuyên đi ăn cướp, từ đó xuất phát các cuộc khởi nghĩa chống phong kiến được hình thành. Từ sau cuộc đảo chính năm 645, chính quyền trở về tay Thiên hoàng. Đến năm 710, kinh đô thường trực đầu tiên của Nhật Bản được xây dựng hoàn thành theo lệnh của nữ hoàng Genmei, đó là kinh đô Nara (Nại Lương). Trong suốt 70 năm, từ năm 710 đến năm 794, Nara trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của Nhật Bản. Tuy nhiên, có những cuộc đấu tranh giữa tầng lớp quý tộc cũ, muốn khôi phục lại quyền lợi và địa vị trước kia với tầng lớp quan lại diễn ra thường xuyên. Đại diện cho tầng lớp quý tộc cũ là họ Otomo và tầng lớp quan lại mới là họ Fujiwara. Vì dòng họ này có công trong việc tiêu diệt họ Soga trong cuộc cải cách Taika, nên được Thiên hoàng ưu đãi, như được giữ
  15. chức vụ cao trong triều đình, phong cấp nhiều bổng lộc... làm cho dòng họ Fujiwara ngày càng mạnh lên. Cuối cùng họ Fujiwara đã đánh bại hoàn toàn tầng lớp quý tộc cũ và lên nắm chính quyền, chấm dứt thời Nara. Sau khi đánh bại những tàn dư quý tộc cũ, dòng họ Fujiwara ngày càng độc đoán về quyền lực, họ lấn át cả Thiên hoàng, buộc Thiên hoàng phải rời đô từ Nara đến Heian- Kyo (Bình An kinh), từ đó được gọi là thời kỳ Heian. Trong thời kỳ Heian, dòng họ Fujiwara càng trở nên lớn mạnh, chiếm lĩnh mọi quyền lực thực tế của Thiên hoàng, và không ngừng củng cố địa vị thống trị của mình. Từ giữa thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XI, họ Fujiwara kế tiếp nhau chiếm đoạt quyền hành của nhà vua. Trên thực tế chính quyền trung ương ngày càng trở nên suy yếu về mọi mặt. Sự chấp chiếm quyền lực của dòng họ Fujiwara đã gây ra tình trạng thù địch lẫn nhau giữa các phe phái phong kiến, những cuộc xung đột xảy ra thường xuyên. ở kinh đô, các thế lực phong kiến thù địch với dòng họ Fujiwara ngày càng gay gắt. Từ thế kỷ XI, các Thiên hoàng đã tìm mọi cách thoát khỏi sự khống chế và ràng buộc của dòng họ Fujiwara nhằm để khôi phục lại quyền lực của mình bằng cách dựa vào tầng lớp quý tộc quan lại bị sa sút, tầng lớp sư sãi Phật giáo có thế lực, đồng thời bãi bỏ chế độ nhiếp chính, không tuyển hoàng hậu thuộc họ Fujiwara, thiết lập chế độ nghị chính. Theo chế độ này, Thiên hoàng nhường ngôi cho con và trở thành Thượng hoàng rồi lên Pháp hoàng. Vào năm 1086, khi Thiên hoàng Shirakawa nhường ngôi cho con và ông trở thành Thượng hoàng. Cùng năm đó, ông thiết lập một cơ quan mới gọi là Isne (Viện chính). Thực chất của Viện chính là một tổ chức theo dõi việc chính trị của triều đình để giúp đỡ Thiên hoàng, và là cơ sở của Hoàng gia để chống lại họ Fujiwara. Đến đầu thế kỷ XII, Viện chính của Thiên hoàng dựa vào hai họ Taira và Minamoto để đấu tranh với họ Fujiwara, cũng làm cho thế lực này ngày càng giảm sút. Trong khi đó họ Taira lại nhanh
  16. chóng phát triển thế lực của mình, nắm lấy mọi quyền hành. Điều đó, làm cho mâu thuẫn giữa Viện chính và họ Minamoto diễn ra gay gắt. Vào năm 1181, cuộc nội chiến giữa họ Taika và Minamoto nổ ra nhằm tranh giành bá quyền với nhau. Năm 1185, họ Minamoto đánh bại hoàn toàn họ Taika trong trận Dannoura, từ đó quyền hành chuyển sang tay dòng họ Minamoto. 2.2. Văn hóa Nhật Bản từ cải cách Taika đến trước khi thành lập chế đ ộ Mạc Phủ 2.2.1. Tôn giáo 2.2.1.1. Thần đạo Từ xa xưa, người Nhật luôn luôn gắn bó đời sống của mình với lễ bái, thờ phụng thiên nhiên, các chư thần, tổ tiên... Nói chung việc lễ bái, thờ phụng ấy không bị ảnh hưởng bất cứ một dòng tôn giáo nào. Cho nên, lúc đầu nó chưa có tên gọi. Đến thế kỷ VI, khi Phật giáo du nhập vào Nhật Bản. Để phân biệt với Đạo Phật, các nhà tư tưởng học Nhật Bản mới đặt tên cho tôn giáo đó là Thần đạo. Thần đạo là tôn giáo sơ khai bản địa của người Nhật, do người Nhật sáng tạo ra từ thời nguyên thủy và tồn tại cho đến ngày nay. Nó hình thành từ niềm tin, từ lòng thành kính của mỗi người dân Nhật Bản đối với tổ tiên, thiên nhiên và thánh thần. Họ tin rằng, tất cả mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên đều do thánh thần sinh ra, kể cả tổ tiên của họ cũng là con cháu của thánh thần. Từ đó, họ coi là một thế giới thần quyền, có quyền quyết định đến số phận của con người trong một xã hội nông nghiệp. Thế giới ấy được phản ánh qua các thần núi, thần mưa, gió, thần sông, thần suối, thần mặt trăng, mặt trời... và cần phải thờ phụng nó.
  17. Đối với người Nhật, thế giới thánh thần là biểu hiện tình cảm cao quý của nhân dân Nhật Bản. Tình cảm đó giống như một phần nào của tín ngưỡng đa thần giáo ở Hy Lạp, La mã cổ đại, nó chưa phải là tôn giáo theo đúng giáo lý có nguồn gốc lịch sử, nó cũng không phải là sản phẩm của một cuộc cách mạng về ý thức. Không giống như Đạo Hồi, Đạo Phật và Đạo Kitô, nó không có người sáng lập, không có các vị thánh thần có tên tuổi cụ thể, và những kẻ tử vì đạo, không có kinh thánh và thầy tu, nó là một "tập tục không được một tổ chức hay một đạo giáo nào hướng dẫn mà chỉ là dân gian tập tục" [38, tr. 4]. Do vậy, có thể coi đây là một hình thái tín ngưỡng tự nhiên xuất phát từ nhận thức con người cho rằng, tất cả mọi sự vật đều có linh hồn và đều có tình cảm. Những biểu hiện của tự nhiên lớn hay nhỏ đều do sự hiện diện của thánh thần hay linh hồn "Kami". Kami sẽ căn cứ vào sự đối xử của con người mà đáp lại một cách thuận lợi hay không thuận lợi. Vì thế, tất cả mọi sự vật và linh hồn đều được thờ cúng để nó phù hộ cho con người. Đối với người Nhật, "Kami" (Thánh thần) để chỉ "người trên" hoặc "cấp trên" và ai được phong là Kami có nghĩa là người đó có một số phẩm chất và quyền lực cao hơn người thường, là tổ tiên vĩ đại, là những anh hùng vĩ đại. Tuy nhiên, từ ngữ "Kami" không chỉ dùng cho người mà còn dùng cho cả thiên nhiên như: Cây cối, tảng đá, khu rừng... và các vật dụng, như một số công cụ, thanh gươm... Từ những ý nghĩa trên, ta thấy sự tôn thờ thần thánh của người Nhật cũng giống như tất cả các dân tộc trong giai đoạn sơ khai. Nhưng, sự tôn thờ thánh thần đối với người Nhật là những thế lực vô hình, không có hình ảnh cụ thể như các tôn giáo khác. Chẳng hạn Phật giáo có Thích Ca Mâu Ni, Kitô giáo, có Giêsu. Đối với "Kami", nó mang lại cho con người no ấm, che chở cho con người khỏi thiên tai, dịch bệnh, khiến cho người Nhật tin yêu hơn là sợ sệt. Trong việc tôn thờ "Kami" (Thánh thần) của người Nhật thì việc tôn thờ thần Mặt trời là đặc trưng tiêu biểu nhất. Theo truyền thuyết, có hai vị thần Izanagi và nữ thần Izanami, vừa là anh em, vừa là vợ chồng đã sinh ra mọi thứ trong vũ trụ. Trong đó có
  18. những hòn đảo sẽ là lãnh thổ của Nhật Bản. Nhưng đến khi sinh ra vị thần lửa thì nữ thần Izanami bị thiêu chết. Nam thần Izanagi đi theo bà xuống dưới âm phủ, vì quá muộn nên xác bà đã bắt đầu thối rữa, Izanagi hoảng sợ bỏ chạy để khỏi nhìn thấy cảnh chết rục của vợ, về đến trần gian chàng vội vã tẩy uế thân thể bằng cách nhảy xuống biển tắm. Tất cả quần áo của chàng cởi ra đều là thánh thần "Kami" của Thần đạo. Trong số những vị thần đó thì Amateraxu được tôn là đại thần đã phái xuống trần gian 800 vị thần để phò tá Thiên hoàng. Về sau Amateraxu nhường ngôi trị vì các đảo Nhật Bản cho con cháu của mình và đó chính là Thiên hoàng. Dòng dõi hoàng tộc đó vẫn trị vì ở Nhật Bản cho tới ngày nay. Có lẽ, chính vì tôn sùng thần Mặt trời nên người Nhật thường gọi đất nước mình là "Đất nước Mặt trời mọc". Cùng với thời gian, những tín ngưỡng này ngày càng ăn sâu vào đời sống tinh thần của người Nhật. Dần dần phát triển lên gọi là Thần đạo. Như vậy, Thần đạo là kết quả của sự pha trộn từ những tín ngưỡng từ thời tiền sử, hay nói cách khác là có nguồn gốc bái vật giáo. Đối tượng chính trong các nghi lễ của Thần đạo là những vị thần được gọi là Kami. Kami có thể có nhiều loại khác nhau và được phân biệt bằng những tên riêng, nhưng lại có đặc điểm chung. Kami không có hình dạng cố định và chỉ biểu lộ hình thức khi được mời gọi trú ngụ trong những vật cụ thể như cái bình, gậy, tảng đá.... Những người có khả năng về tâm linh sẽ đóng vai trò cầu nối giữa Kami với thế giới loài người. Kami sống ở thế giới riêng và hàng năm được mời đến với thế giới loài người vào các mùa thông qua các nghi lễ để mong được ban phước lành. Đặc điểm chủ yếu của nghi lễ Thần đạo là chú ý đến sự trong sạch, vi phạm điều này có nghĩa là xúc phạm đến Kami, như vậy sẽ là có tội. Do đó, muốn tránh được tội thì phải kiêng giữ sạch sẽ khi đến gần Kami. Trước khi hành lễ, phải tắm rửa, thay quần áo sạch sẽ, vì người bẩn là điều tối kỵ. Tuyệt đối không được hành lễ khi phải mang trong người những thứ bẩn như đang hành kinh hay trong thời kỳ sinh đẻ. Trong những truyện thần thoại có nói đến "những lều đẻ" hay "lều cưới" phải làm cách xa nhà nhằm tránh cho nhà khỏi bị bẩn. Ngoài ra, bệnh tật, người chết ốm đau... cũng là nguồn gây bẩn. Vì thế, ngay từ thời cổ đại đã có một danh sách những tội cần được rửa trong các kỳ lễ.
  19. Đó là việc cơ bản, trước khi tiến hành nghi lễ đều được thực hiện ba cách sau: "Trừ tà" - do thầy cúng thực hiện nhằm tẩy trừ sự ô uế do tội lỗi gây ra, bằng cách người làm lễ phải nộp tiền phạt về tội lỗi của mình. "Tẩy uế" (Misogi), là nghi lễ nhằm tẩy trừ sự ô nhiễm do đụng chạm với những thứ bẩn thỉu từ cái chết và bệnh tật. Thông th ường là tắm rửa hoặc vẩy nước muối, nghi thức này còn tồn tại cho đến ngày nay. "Trai giới", là phương pháp chủ yếu liên quan đến các thầy cúng, họ phải tuân thủ những điều cấm kỵ, không được đụng chạm đến bệnh tật, cái chết, tang ma, chỉ được mặc quần áo đã được tẩy uế cẩn thận, "phải cách ly với bên ngoài và ăn kiêng gồm những sản vật từ cây, nước lã" [5, tr. 4]. Nói chung, nghi lễ của Thần đạo với mục đích chủ yếu là mong muốn mùa màng bội thu. Nghi lễ này, được biểu hiện qua rất nhiều lễ hội, những lễ hội quan trọng nhất đều có liên quan ít nhiều đến nghề nông như: Lễ hội hoa quả đầu mùa (Niiname), Hội thần nếm (Kanname) được tổ chức tại cung điện của Thiên hoàng và các đền miếu, Hội cùng nếm (Ainame) là Thiên hoàng cùng với các thần nếm cơm gạo mới và rượu mới nấu. Trong các nghi lễ đó, có lễ lớn nhất là hội cùng nếm hoa quả đầu mùa, lễ hội này thường được tiến hành sau lễ lên ngôi chính thức của Thiên hoàng. Lễ hội được tiến hành ở cung điện của Thiên hoàng trong tòa nhà bằng gỗ được dựng lên một cách đặc biệt, sau khi kết thúc lễ hội ngôi nhà đó đã bị phá hủy ngay. "Những nghi lễ đó đã giữ lại được từ thời cổ với một kỹ thuật nguyên thủy về sản xuất và cất giữ lương thực và đậm nét quan tâm đến việc bảo vệ cho sự phong phú mùa màng" [5, tr. 4]. Bên cạnh những nghi lễ cầu tạ ơn về mùa màng, còn có những nghi lễ chống lại hoặc xua đuổi dịch bệnh, rủi ro, ô uế... Tóm lại: Thần đạo là thứ tôn giáo sơ khai bản địa của người Nhật, nó được hình thành từ thời tiền sử trên quần đảo Nhật Bản. Thần đạo không phải là quốc giáo của Nhật Bản, vì nó không cấu thành nổi một triết lý, không kinh kệ, giáo điều của màu sắc cá tính Thần đạo. Trên thực tế, thần đạo cũng không phải là thứ tôn giáo riêng của người Nhật
  20. Bản. Vì cũng giống như người Trung Quốc, Việt Nam đều thờ cúng trời đất, vua chúa, tổ tiên, thần thánh của mình. Nhưng tư tưởng tôn giáo trong đạo đức của người Nhật được đồng hóa với tín ngưỡng ngay từ tiền khởi của nền tôn giáo sơ khai.. 2.2.1.2. Phật giáo Từ sau công nguyên, Đạo Phật đã vượt ra khỏi biên giới và phạm vi của triết lý truyền thống ấn Độ, mở rộng ra nhiều nước trong khu vực Trung á và Đông á. Đặc biệt, Trung Quốc là nơi Phật giáo được truyền bá rất thành công, và sau quá trình du nhập nó đã được nhào nặn ở Trung Quốc mang những nét khác biệt cơ bản so với Phật giáo ở ấn Độ. Từ Trung Quốc, Đạo Phật đã du nhập vào Triều Tiên, và từ đó được truyền bá sang Nhật Bản vào thế kỷ VI. Theo sử sách, vào năm 552, vua Triều Tiên Bách Tế (Packeche) cử hai học giả Achiki và Wani, sang cầu viện triều đình Yamato giúp đỡ về mặt quân sự và hy vọng Nhật Bản sẽ trợ giúp mình chống lại kẻ thù. Cho nên, đã gửi cho Thiên hoàng Yamato một tượng phật bằng vàng và nhiều tặng phẩm khác. Trong đó, có một số bộ kinh phật và kèm theo một bức thư hết lòng tán dương Phật giáo rằng: "Phật giáo tuy khó giải thích và khó hiểu, đây là một thứ học thuyết hay nhất và có thể giúp thực hiện mọi nguyện vọng" [26, tr. 75]. Điều này đã tác động lớn đến tầng lớp quý tộc Nhật Bản, đặt vấn đề có nên tiếp nhận tôn giáo mới hay không? Do đó, đã thường xuyên xảy ra những cuộc xung đột giữa hai phe phái, đại diện cho phái chống đối là họ Nakatomi và Mononobe, còn phái ủng hộ Phật giáo là họ Soga, cuộc đấu tranh giữa hai phái diễn ra trong suốt gần nửa thế kỷ. Cuối cùng, phái Soga giành thắng lợi. Đến cuối thế kỷ VI, Phật giáo đã trở thành tôn giáo chính thức của Nhật Bản, khi đó mới chấm dứt được những mâu thuẫn giữa thần đạo và Phật giáo. Thật ra Phật giáo cũng có nhiều yếu tố gần giống với thần đạo. ở Nhật Bản, các thần (Kami) cũng trở thành thần bảo vệ chùa chiền.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2