intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:99

0
120
lượt xem
45
download

LUẬN VĂN: Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Xây dựng Nhà nước theo định hướng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước cộng ḥòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền của Đảng lần đầu tiên được đề cập tới tại Nghị quyết Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII và được ghi nhận chính thức tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Chủ trương này được Nhà nước thể chế hóa tại điều 2,...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai

  1. LUẬN VĂN: Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai
  2. M Ở ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Xây dựng Nhà nước theo định hướng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước cộng ḥòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền của Đảng lần đầu tiên được đề cập tới tại Nghị quyết Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII và được ghi nhận chính thức tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Chủ trương này được Nhà nước thể chế hóa tại điều 2, Hiến pháp năm 1992: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp [37]. Trong Nhà nước pháp quyền, tư pháp có vai trò đặc biệt quan trọng đảm bảo cho các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được thực hiện đầy đủ, toàn diện. Vì vậy, kiện toàn và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hoạt động tư pháp nói chung và của ngành Tòa án được Nhà nước đặc biệt quan tâm. Trong nền tư pháp Việt Nam, Tòa án được xác định là trụ cột, hoạt động của Tòa án là nơi thể hiện rõ nhất chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống cơ quan tư pháp nói chung và quyền lực nhà nước nói riêng. Để cải cách, nâng cao chất lượng hoạt động của Tòa án, trong đó trọng tâm là hoạt động xét xử là khâu đột phá của quá trình cải cách tư pháp nước nhà trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan Tư pháp trong đó có ngành Tòa án là một đ ̣òi hỏi có tính cấp bách của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết 08 - NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác Tư pháp trong thời gian tới” đã nhận định:
  3. "Chất lượng công tác tư pháp nhìn chung chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội; vi phạm các quyền tự do, dân chủ công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và các cơ quan Tư pháp" [5]. Nghị quyết 49 - NQ/ TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020, xác định mục tiêu chiến lược là: "Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao" [6]. Hoạt động xét xử của Toà án thực chất là hoạt động áp dụng pháp luật. Các quyết định và bản án của Toà án đều phải dựa vào Hiến pháp và Luật của Quốc hội, vì đó là những hoạt động áp dụng pháp luật. Hoạt động áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án Hình sự của ngành Toà án nói riêng là nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên của ngành Toà án. Hoạt động xét xử có hiệu quả và đúng pháp luật vừa là nhiệm vụ, vừa là trách nhiệm, vừa là đạo đức của người cán bộ Toà án nói chung và của người Thẩm phán nói riêng. Những năm vừa qua, tình hình tội phạm trên cả nước nói chung và tỉnh Lào Cai nói riêng có nhiều diễn biến phức tạp, tính chất mức độ và hậu quả của tội phạm ngày càng nghiêm trọng, hành vi phạm tội ngày càng tinh vi xảo quyệt hơn. Quá trình áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai đã đạt được nhiều kết quả khả quan, góp phần quan trọng vào việc giữ gìn an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của ngành Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai vẫn còn có những hạn chế nhất định. Tình trạng các bản án, quyết định của ngành Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai vẫn còn có những sai sót bị cấp phúc thẩm, giám đốc sửa án, huỷ án, nên đã phần nào ảnh hưởng đến uy tín của ngành Toà án, ảnh hưởng đến nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Trước tình hình đó đã đặt ra những yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài để không ngừng nâng cao chất lượng xét xử trong quá trình thực hiện cải cách tư pháp theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
  4. Từ thực trạng áp dụng pháp luật như trên, bản thân tác giả cũng là một công chức hiện đang công tác tại ngành Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai, mong muốn được đóng góp tiếng nói và suy nghĩ của mình vào việc tìm ra những nguyên nhân dẫn đến những sai sót trong các bản án, quyết định, đề xuất những giải pháp dưới góc độ lý luận chung góp phần hạn chế những sai só t về áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Toà án nhân dân cấp tỉnh. Vì vậy, em chọn đề tài: Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự luôn là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị được công bố kết quả nghiên cứu về vấn đề áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân. Những công trình đó đã góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng xét xử của cơ quan Tòa án, nhất là trong giai đoạn thực hiện cải cách tư pháp theo chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là các công trình: - Luận án tiến sỹ của tác giả Lê Xuân Thân: Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án Hình sự của Toà án nhân dân ở Việt nam hiện nay, năm 2004. - Luận án tiến sỹ của tác giả Tô Văn Hòa: Tính độc lập của Tòa án, năm 2006. - Luận văn thạc sỹ của tác giả Chu Đức Thắng: Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án dân sự ở Việt Nam hiện nay, năm 2004. - Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Đức Hiệp: Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình, năm 2004. - Luận văn thạc sỹ của tác giả Bùi Mạnh Cường: Áp dụng pháp luật trong giai đoạn điều tra truy tố các vụ án ma túy ở Việt Nam hiện nay, năm 2006. - Luận văn thạc sỹ của tác giả Tạ Văn Hồ: Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các tội phạm về chức vụ ở Việt Nam hiện nay, năm 2007. - Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Mạnh Toàn: Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, năm 2008.
  5. - Bài viết của tiến sỹ Nguyễn Văn Cường: Những vấn đề cần trao đổi khi áp dụng điều 136 luật đất đai, Tạp chí Tòa án nhân dân tháng 8/2005. - Bài viết của tác giả Thủy Nguyên: Áp dụng pháp luật Hôn nhân và gia đình khi giải quyết vụ án có yếu tố nước ngoài. Tạp chí Tòa án nhân dân số 17/2005. - Ban biên tập tạp chí Tòa án nhân dân với bài: Những vấn đề trao đổi khi áp dụng điều 136 Luật đất đai năm 2003. Tạp chí Tòa án nhân dân tháng 9/2005. - Tác giả Lưu Tiến Dũng với bài: Bàn về áp dụng pháp luật trong công tác xét xử. Tạp chí Tòa án nhân dân tháng 5/2005. - Bài viết của tác giả Phạm Công Bày về: Áp dụng một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong giải quyết các vụ án Lao động". Tạp chí Toà án nhân dân số 14 tháng 7/2005. - Bài viết của tác giả Vũ Hồng Thêm: Bàn về áp dụng một số tình tiết định khung tăng nặng trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác. Tạp chí Toà án số 13 tháng 7/2005. - Bài viết của tác giả Vũ Thành Long: Về áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Tạp chí Toà án nhân dân số 20 tháng 10/2006. - Bài viết của tác giả Chu Thị Vân Trang về: Vai trò sáng tạo của Tòa án trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự. Tạp chí Lập pháp số 27 tháng 9/2007. - Bài viết của tác giả Nguyễn Đình Huề về: Áp dụng tình tiết tăng nặng định khung giết trẻ em theo điểm c khoản 1 điều 93 Bộ luật hình sự. Tạp chí Toà án nhân dân số 13 tháng 7 năm 2008. - Bài viết của Nguyễn Đăng Khuê về: Thực tiễn áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và những vướng mắc. Tạp chí Toà án nhân dân số 22 tháng 11 năm 2008. Những công trình và bài viết trên tuy đã nghiên cứu việc áp dụng pháp luật trong xét xử nói chung và đề xuất những giải pháp khoa học nhằm bảo đảm chất lượng áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự nói riêng. Một số tỉnh như Thái Nguyên, Ninh Bình... đã đưa ra một số giải pháp bảo đảm chất lượng áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự, nhưng do mỗi địa phương có những đặc thù khác nhau nên ngoài những giải pháp chung, Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai vẫn cần có những giải pháp riêng để bảo đảm chất lượng áp dụng pháp luật trong xét xử của ngành Toà án ngày càng được nâng cao.
  6. Kế thừa và phát huy các kết quả nghiên cứu nêu trên, tác giả mạnh dạn tiếp cận vấn đề áp dụng pháp luật dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật để nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, với mong muốn tìm ra giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân trong công tác xét xử các vụ án nói chung và trong xét xử án hình sự nói riêng. 3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 3.1. Mục đích của luận văn Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai, nêu ra những phương hướng, giải pháp nhằm góp phần bảo đảm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai được công bằng, khách quan và chính xác. 3.2. Nhiệm vụ Để thực hiện mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau: Một là: Phân tích khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật, các giai đoạn áp dụng pháp luật và các yếu tố bảo đảm áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự. Hai là: Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai trong thời gian vừa qua. Làm rõ những ưu điểm, tồn tại và những nguyên nhân của ưu điểm, tồn tại của áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự của Ṭòa án nhân dân tỉnh Lào Cai. Ba là: Đề xuất phương hướng, giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án Hình sự của ngành Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo chủ trương của Đảng 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn - Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu việc áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh ở tỉnh Lào Cai. - Phạm vi nghiên cứu: + Về không gian: Nghiên cứu hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai (ở cả cấp tỉnh và cấp huyện, bao gồm xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm )
  7. + Về thời gian:Trong khoảng thời gian năm từ 2004 đến tháng 9/2009. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5.1. Cơ sở lý luận Luận văn được thực hiện trên cơ sở của lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và Pháp luật, về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; các quan điểm của Đảng và nhà nước về tăng cường pháp chế trong đấu tranh phòng và chống các tội phạm về hình sự, đặc biệt là quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08- NQ/TW ngày 02/1/2002 và Nghị quyết 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị. 5.2. Phương pháp nghiên cứu của luận văn Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Triết học Mác – Lênin, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp: phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh… để làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật và đề xuất những giải pháp phù hợp để bảo đảm việc áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự đạt hiệu quả. 6. Những đóng góp khoa học của luận văn : - Luận văn hệ thống hoá, làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật trong trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân nói chung và của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai nói riêng. Đề xuất một số phương hướng, giải pháp cụ thể bảo đảm áp dụng pháp luật trong giải quyết án hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. 7. Ý nghĩa của luận văn - Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ lý luận về áp dụng pháp luật, nâng cao nhận thức của những người trực tiếp làm công tác xét xử án hình sự của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai. Đồng thời làm phong phú thêm cơ sở khoa học về áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự đáp ứng yêu cầu của tiến trình cải cách Tư pháp.
  8. - Về mặt thực tiễn: Đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trình độ lý luận của bản thân để áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn công tác; là tài liệu tham khảo có giá trị nhất định trong việc nghiên cứu giảng dạy Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật và các cán bộ làm công tác áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân. Tạo cơ sở cho việc thống nhất trong nhận thức về áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án hình sự đạt hiệu quả. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thể khai thác những nghiên cứu của Luận văn về giải pháp áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 2 chương, 9 tiết. Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN 1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN 1.1.1. Khái quát chung về áp dụng pháp luật * Khái niệm Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung (quy phạm pháp luật) do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, được nhà nước bảo đảm thực hiện, kể cả bằng biện pháp cưỡng chế để điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì trật tự xã hội có lợi cho giai cấp thống trị. Các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành cần thực hiện trong cuộc sống thì chúng mới có ý nghĩa. Mục đíc h của việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật chỉ có thể đạt đ ược khi các quy phạm pháp luật do nh à nước đặt ra được các tổ chức và cá nhân trong xã h ội thực hiện một cách chính xác, đầy đủ. Để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, ngoài các yếu tố như sự phù hợp của hệ thống quy phạm pháp luật với các điều kiện kinh tế, lịch sử, trình độ phát triển của xã hội, nhà nước còn phải quan tâm đến các hoạt đ ộng tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật một cách nghiêm minh. Bởi lẽ, muốn quản lý đ ất nước bằng pháp lu ật đòi hỏi Nhà n ước
  9. phải ban hành pháp luật. Nếu pháp luật ban hành nhiều nh ưng ít đi vào cu ộc sống, hiệu quả điều chỉnh của pháp luật không cao chứng tỏ rằng quản lý nhà n ước kém hiệu quả. Vì vậy, xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật và áp dụng đ úng p háp luật là đòi hỏi khách quan của việc quản lý Nhà n ước, tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Để làm rõ khái niệm áp dụng pháp luật cần làm rõ một số khái niệm có liên quan, cụ thể như sau: Thực hiện pháp luật: là hành vi xử sự của con người được tiến hành phù hợp với yêu cầu của các quy phạm pháp luật. Đó là những hành vi không trái, không vượt quá phạm vi các quy định của pháp luật. Hành vi xử sự của con người trong hoạt động thực hiện pháp luật có hai tính chất. - Thứ nhất, nó mang tính xã hội. - Thứ hai, nó mang tính pháp lý. Vì vậy, thực hiện pháp luật bao hàm các hành vi (hành động hay không hành động) của các cá nhân, các tổ chức phù hợp với các quy định của pháp luật. Khoa học pháp lý gọi đó là những hành vi hợp pháp. Nói khác đi, tất cả những hoạt động nào của con người, của các tổ chức mà thực hiện phù hợp với các quy định của pháp luật thì đều được coi là biểu hiện của việc thực hiện các quy phạm pháp luật. Thực hiện pháp luật có thể là hành vi của mỗi cá nhân, nhưng cũng có thể là hoạt động của cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế…"Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật". * Các hình thức thực hiện pháp luật Các quy phạm pháp luật rất đa dạng, phong phú cho nên hình thức thực hiện pháp luật cũng rất đa dạng, phong phú. Căn cứ vào tính chất của các hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã xác định có bốn hình thức thực hiện pháp luật sau: - Tuân thủ pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm. Việc các chủ thể pháp luật tự kiềm chế là những xử sự thụ động, tự ghép mình vàp tập thể, vào xã
  10. hội, đặt lợi ích quốc gia, lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân, lợi ích của bộ phận cục bộ. Pháp luật quy định mọi tổ chức và công dân không được thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội, không được xâm phạm đến quyền và nghĩa vụ hợp pháp của người khác. Đó là việc pháp luật cấm. Đồng thời vì lợi ích chung, tuỳ theo tình hình, hoàn cảnh cụ thể mà pháp luật bắt buộc mọi tổ chức và công dân phải làm một việc nào đó. - Chấp hành pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình với hành động tích cực. Hoạt động chấp hành pháp luật là cơ sở pháp lý để đánh giá công trạng, thành tích và danh dự, phẩm giá tốt đẹp của công dân, tổ chức cũng như của cán bộ công chức nhà nước. - Sử dụng pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó, các chủ thể pháp luật sử dụng các quyền năng pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Song nếu các chủ thể không sử dụng quyền của mình thì pháp luật cũng không bắt buộc. Nói cách khác, các quyền chủ thể được pháp luật cho phép thực hiện theo ý chí của chủ thể chứ không bị bắt buộc phải thực hiện. - Áp dụng pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật ra các quyết định làm phát sinh, chấm dứt hay thay đổi những quan hệ pháp luật cụ thể. Trong truờng hợp này, các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật có sự can thiệp của Nhà nước. Trong bốn hình thức thực hiện pháp luật nêu trên thì hình thức áp dụng pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Áp dụng pháp luật vừa là hình thức thực hiện pháp luật diễn ra trong hoạt động thực hiện quyền hành pháp và thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước. Đây là hoạt động thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước, được xem như để bảo đảm đặc thù của Nhà nước cho các quy phạm pháp luật được thực hiện một cách hiệu quả trong đời sống xã hội. Bởi lẽ, tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật lại luôn luôn phải có sự tham gia của cơ quan Nhà nước thông qua các cơ quan hoặc nhà chức trách có thẩm quyền.
  11. * Đặc điểm của áp dụng pháp luật Pháp luật tác động vào các quan hệ xã hội, vào cuộc sống đạt hiệu quả cao nhất chỉ khi tất cả những quy định của nó đều được thực hiện chính xác, triệt để. Nhưng nếu chỉ tuân theo các hình thức Tuân theo pháp luật, Thi hành pháp luật và Sử dụng pháp luật thì sẽ có rất nhiều quy phạm pháp luật không được thực hiện. Lý do có thể là do các chủ thể không muốn thực hiện hoặc không đủ khả năng tự thực hiện nếu thiếu sự tham gia của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Do đó, hoạt động áp dụng pháp luật cần phải được tiến hành trong những trường hợp sau: Theo quy định của pháp luật thì các trường hợp áp dụng pháp luật gồm có: - Khi cần áp dụng biện pháp cưỡng chế Nhà nước hoặc áp dụng các chế tài pháp luật đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luât. Ví dụ, một chủ thể thực hiện hành vi phạm tội thì không phải ngay sau đó việc áp dụng trách nhiệm hình sự tự động phát sinh và người vi phạm tự nguyện chấp hành hình phạt tương ứng. Trong trường hợp này cần có hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm điều tra, truy tố, xét xử, ra bản án để quyết định trách nhiệm hình sự và các biện pháp tư pháp khác đối với người phạm tội và buộc người đó phải chấp hành bản án của Toà án. - Khi những quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước. Ví dụ, điều 57 của Hiến pháp 1992 quy định, công dân có quyền tự do kinh doanh nhưng quyền này chỉ phát sinh khi công dân làm thủ tục đãng ký kinh doanh và được một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đãng ký kinh doanh và quyền đó sẽ bị chấm dứt nếu người đó không tuân thủ các quy định của pháp luật. - Khi sảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật mà các bên đó không thể tự mình giải quyết được. Trường hợp này quan hệ pháp luật đã phát sinh, nhưng quyền và nghĩa vụ của các bên không được thực hiện và có sự tranh chấp. Ví dụ, kiện đòi bồi thưòng thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm; tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất… Áp dụng pháp luật là hoạt động thực hiện pháp luật của các cơ quan Nhà nước, nó vừa là một hình thức thực hiện pháp luật, vừa là cách thức Nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật.
  12. Do đó, áp dụng pháp luật có những đặc điểm sau: Một là, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực Nhà nước. Hoạt động áp dụng pháp luật về nguyên tắc chỉ do những cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành. Pháp luật quy định những cơ quan nhà nước khác nhau có thẩm quyền áp dụng pháp luật khác nhau. Mỗi cơ quan Nhà nước trong phạm vi chức trách thẩm quyền được giao thực hiện một số những hoạt động áp dụng pháp luật nhất định. Trong quá trình áp dụng pháp luật, mọi khía cạnh, mọi tình tiết phải được xem xét một cách cẩn trọng và dựa trên cơ sở các quy định, yêu cầu của quy phạm pháp luật đã được xác định để ra quyết định cụ thể. Pháp luật chính là cơ sở để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Áp dụng pháp luật là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước. Trong nhiều trường hợp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành áp dụng pháp luật theo ý chí đơn phương, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng. Sự áp dụng này có tính chất bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và các chủ thể có liên quan và được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước. Như vậy, so với các hình thức thực hiện pháp luật khác, áp dụng pháp luật chỉ do những cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành. Ngoài ra trong một số trường hợp cá biệt, pháp luật trao cho các tổ chức xã hội thẩm quyền áp dụng pháp luật. Hai là, áp dụng pháp luật là hoạt động phải tiến hành theo các thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. Do tính chất quan trọng và phức tạp của áp dụng pháp luật, chủ thể bị áp dụng pháp luật có thể được hưởng những lợi ích rất lớn nhưng có thể cũng có thể phải chịu những hậu quả bất lợi rất nghiêm trọng nên trong pháp luật luôn có sự xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quá trình áp dụng pháp luật. Ví dụ: để giải quyết một vụ án hình sự phải được tiến hành theo những quy định của pháp luật Tố tụng hình sự và pháp luật có liên quan như pháp luật Dân sự, pháp luật Hành chính (nếu có liên quan). Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các bên có liên quan trong quá trình áp dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt các
  13. quy định có tính chất thủ tục đó, để tránh những sự tùy tiện có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng, không chính xác. Ba là, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh có tính chất cá biệt, cụ thể đối với quan hệ xã hội nhất định. Đối tượng của hoạt động áp dụng pháp luật là những quan hệ xã hội cần đến sự điều chỉnh cá biệt, bổ sung trên cơ sở những mệnh lệnh chung trong quy phạm pháp luật. Bằng hoạt động áp dụng pháp luật, những quy phạm pháp luật nhất định được cá biệt hóa một cách cụ thể và chính xác. Bốn là, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo. Bởi vì, áp dụng pháp luật là quá trình vận dụng cái chung (các quy phạm pháp luật) để giải quyết các vụ việc cụ thể. Điều này đòi hỏi chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải vận dụng cái chung phù hợp với cái riêng phong phú, đa dạng và phức tạp. Khi áp dụng pháp luật các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó để từ đó lựa chọn quy phạm áp dụng, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành. Trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõ ràng thì phải vận dụng một cách sáng tạo bằng cách áp dụng pháp luật tương tự. Để đạt tới điều đó đòi hỏi các những người áp dụng pháp luật phải có ý thức pháp luật cao, có tri thức tổng hợp, có kinh nghiệm cuộc sống phong phú, có đạo đức trong sáng và có trình độ chuyên môn cao. Kết quả của hoạt động áp dụng pháp luật chủ yếu được thể hiện bằng văn bản áp dụng pháp luật. Hình thức thể hiện chính thức và chủ yếu của của hoạt động áp dụng pháp luật là văn bản áp dụng pháp luật. Văn bản này có các đặc điểm sau: chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền mới có quyền ban hành và được bảo đảm bằng sự cưỡng chế nhà nước; văn bản áp dụng pháp luật chỉ đích danh tên các cá nhân tổ chức cụ thể trong trường hợp xác định và chỉ áp dụng một lần; văn bản áp dụng pháp luật phải căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật và phải phù hợp với chúng. Nếu không văn bản áp dụng pháp luật sẽ bị huỷ bỏ. Văn bản áp dụng pháp luật thường thể hiện dưới dạng bản án, quyết định lệnh. 1.1.2. Khái niệm áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự Theo từ điển tiếng Việt của nhà xuất bản từ điển bách khoa, xét xử là việc” xét xem phải trái để phán xử” [66, tr.1256]. Theo từ điển Luật học năm 1999, xét xử là “ hoạt
  14. động đặc trưng, là chức năng nhiệm vụ của Tòa án. Tòa án là cơ quan duy nhất được đảm nhận chức năng xét xử" [67]. Theo Hiến pháp năm 1992, được sửa đổi bổ sung năm 2001 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 khẳng định: “ Tòa án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Tòa án khác theo luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [35]; Điều 1, Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002; Điều 72 của Hiến pháp năm 1992 (được cụ thể hoá ở điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) khẳng định: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật"[ 36, 37]. Như vậy, ngoài cơ quan Tòa án không có một cơ quan nào có chức năng xét xử. Do vậy, Tòa án là cơ quan xét xử duy nhất của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là nơi biểu hiện tập trung của quyền tư pháp, nơi mà các kết quả hoạt động điều tra, truy tố, bào chữa, giám định được xem xét một cách công khai theo những thủ tục tố tụng chặt chẽ, nhằm đưa ra phán xét mang tính quyền lực Nhà nước. Toà án là nơi thể hiện đầy đủ nền công lý, thể hiện chất lượng và uy tín của Toàn bộ hệ thống tư pháp nước ta. Hoạt động xét xử của Toà án là hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhằm xem xét đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi pháp luật hay quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhau trong các tranh chấp hay mâu thuẫn đó. Hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân là hoạt động trọng tâm và chủ yếu của hoạt động tư pháp, vì hoạt động xét xử là hoạt động duy trì và bảo vệ pháp luật. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì xét xử được chia thành xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm. Trong đó nguyên tắc xét xử theo hai cấp sơ thẩm và xét xử phúc thẩm được thực hiện triệt để và thống nhất. Căn cứ vào các bước tiến hành tiến hành tố tụng và thời hạn thì xét xử hình sự được chia thành hai loại là xét xử rút gọn và xét xử theo thủ tục đầy đủ. Quá trình xét xử án hình sự, để tuyên bố một người có tội và phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật nhất định phải thông qua hoạt động xét xử của Tòa án. Một người bị coi là có tội chỉ khi người đó bị Tòa án xét xử bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật. Hoạt động xét xử của Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các giai đoạn
  15. áp dụng pháp luật theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự, cụ thể như thụ lý hồ sơ; áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; nghiên cứu hồ sơ để chuẩn bị xét xử; quyết định đưa vụ án ra xét xử; giao các quyết định của Tòa án; triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa; tổ chức mở phiên tòa; điều khiển việc xét hỏi, tranh luận; tiến hành nghị án và ra các quyết định, bản án của Tòa án. Quá trình xét xử phải tuân thủ các nguyên tắc: khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; nguyên tắc xét xử công khai; nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số v.v... chỉ có thông qua hoạt động xét xử, Tòa án mới được ra những bản án, quyết định tuyên bố một người có tội hoặc không có tội và áp dụng biện pháp trừng trị hay khôi phục quyền lợi cho họ theo quy định của pháp luật. Đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp và chính đáng của Nhà nước, lợi ích của tập thể, cá nhân và các tổ chức theo quy định của pháp luật. Hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự là một quá trình phức tạp, yêu cầu phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, các Bộ luật và văn bản khác có liên quan. Đó chính là cơ sở để Tòa án đi đến một quyết định xác định một người phạm tội hay không phạm tội; nếu phạm tội thì tội phạm cụ thể là tội gì và mức hình phạt như thế nào, áp dụng các quy phạm pháp luật nào để quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Trong quá trình xét xử phải đảm bảo các nguyên tắc xét xử độc lập, khách quan, công bằng, chính xác. Bản án phải có tính thuyết phục để cải tạo giáo dục người phạm tội và răn đe, phòng ngừa chung. Như vậy, áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân là một hoạt động đặc biệt và quan trọng của hình thức áp dụng pháp luật nói chung. Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự có thể được quan niệm như sau: Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân là hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước của cơ quan Tòa án thông qua Hội đồng xét xử là những người được Nhà nước trao quyền tuân thủ những quy định của pháp luật Hình sự và pháp luật Tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục để xem xét, đánh giá các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Trên cơ sở đó lựa chọn các quy phạm pháp luật phù hợp để ban hành các bản án, quyết định tuyên bố một người có tội và phải chịu hình phạt tù cùng các biện pháp tư pháp khác; hoặc tuyên bố một người không bị coi là
  16. có tội và áp dụng các biện pháp để khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp cho người đó theo quy định của pháp luật. 1.1.3. Đặc điểm của áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân Hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân là một hình thức cụ thể của áp dụng pháp luật. Khi thực hiện việc áp dụng pháp luật, các chủ thể áp dụng pháp luật đều phải tuân thủ những nguyên tắc của pháp luật hình sự và thực hiện các giai đoạn áp dụng pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự có nhiều điểm tương tự với việc áp dụng pháp luật trong việc xét xử các loại vụ án khác. Đó là, đều được tiến hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước để giải quyết các vụ, việc theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự cũng có một số đặc điểm riêng biệt.Trong luận văn này, em xin nêu một số đặc điểm cơ bản của áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự như sau: Thứ nhất, áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước do Tòa án nhân dân tiến hành mà trực tiếp là Hội đồng xét xử Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy định “Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [36]. Quá trình giải quyết vụ án hình sự bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau và do nhiều cơ quan nhà nước tiến hành (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án), trong đó hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án là một khâu đặc biệt quan trọng thể hiện kết quả tiến hành các hoạt động tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát. Tòa án là cơ quan ra phán quyết cuối cùng để xác định tội phạm và hình phạt và các biện pháp tư pháp khác theo quy định của pháp luật. Hiến pháp năm 1992, được sửa đổi năm 2001 quy định: Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ở đây, yếu tố nhân danh quyền lực nhà nước nghĩa là, xét xử không phải là hoạt động của cá nhân công dân, cũng không phải hoạt động xã hội hay nghiệp đoàn. Do đó, khi cần thiết phán quyết của cơ quan nhân danh Nhà nước được đảm bảo thi hành bởi sự cưỡng chế hợp pháp của Nhà nước. Xem xét, đánh giá và ra phán quyết là những yếu tố đặc trưng của hoạt động xét
  17. xử. Do đó, có thể gọi hoạt động tư pháp là hoạt động xét xử chứ không phải là sự phán quyết của một cấp quản lý này đối với cấp quản lý khác Hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án là một giai đoạn tố tụng độc lập. Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu mà cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã thu thập được và kết quả điều tra công khai tại phiên tòa để ra một văn bản áp dụng pháp luật khách quan, chính xác và đúng pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của công dân. Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự, Tòa án phải bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc cơ bản theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự như: Nguyên tắc xét xử công khai; nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật; nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia; nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Nguyên tắc hai cấp xét xử; nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo; nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số; nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng... nhằm bảo đảm sự công bằng vô tư, khách quan trong việc ban hành các văn bản áp dụng pháp luật. Để thực hiện được việc nhân danh quyền lực nhà nước khi xét xử án hình sự, Luật tổ chức Toà án nhân dân đã quy định: "Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước" [36, tr.27]; "Phó chánh án và các Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức" [36, tr27]; "các Chánh án, Phó chánh án, Thẩm phán Tòa án nhân dân địa phương do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức "[36, tr27-28]. Để đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động xét xử của Tòa án, pháp luật còn quy định Tòa án phải thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia. Hội thẩm nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra để tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án. Hội thẩm nhân dân cùng với Thẩm phán là những người được Nhân danh Nhà nước tiến hành hoạt động xét xử nói chung và hoạt động xét xử án hình sự nói riêng và đưa ra phán quyết cuối cùng của Tòa án. Pháp luật quy định “Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì thành phần Hội đồng xét xử gồm hai Thẩm
  18. phán và ba Hội thẩm nhân dân” [38, tr146]; “Thành phần của Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thêm hai Hội thẩm nhân dân”[38, tr176-177]. Vì vậy, hoạt động xét xử của Tòa án nói chung và hoạt động xét xử án hình sự nói riêng là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, mà những người tiến hành hoạt động xét xử là Hội đồng xét xử bao gồm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Việc Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước trong xét xử án hình sự càng được thể hiện rõ hơn ở nguyên tắc: Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Như vậy, có nghĩa Thẩm phán và hội thẩm nhân dân cùng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những phán quyết của một vụ án cụ thể được thể hiện thông qua văn bản áp dụng pháp luật mà Hội đồng xét xử ban hành là quyết định, bản án. Mỗi văn bản áp dụng pháp luật của Tòa án ban hành công bằng, đúng pháp luật và được thi hành nghiêm minh là thể hiện nền pháp chế xã hội chủ nghĩa được đảm bảo. Lòng tin của nhân dân vào chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước được củng cố và ngược lại, mỗi bản án oan, sai của Tòa án không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến uy tín của ngành Tòa án, đến lòng tin của quần chúng nhân dân vào pháp luật và Nhà nước. Do vậy, mỗi quyết định, bản án của cơ quan của Tòa án cần hết sức thận trọng và đảm bảo đúng pháp luật. Thứ hai, áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân quá trình cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hình sự đối với một hay nhiều hành vi phạm tội trong một vụ án để quyết định hình phạt, các biện pháp tư pháp, trách nhiệm dân sự đối với người phạm tội theo quy định của pháp luật Việc xác định sự thật khách quan của một vụ án thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong đó có Toà án. Xác định sự thật khách quan của vụ án bao gồm các việc như xác định các giai đoạn của quá trình thực hiện tội phạm từ khi bắt đầu cho tới khi kết thúc; xác định hành vi đó là hành động hay không hành động; hành vi đó có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không; nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì đó là tội gì, ai là người phạm tội; vụ án có đồng phạm hay không có đồng phạm; ý thức chủ quan của tội phạm và xác định người thực hiện tội phạm có lỗi hay không có lỗi; những dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm như công cụ, phương tiện phạm tội; hậu quả nguy hiểm cho
  19. xã hội do hành vi phạm tội gây ra; mối quan hệ nhân quả của hành vi phạm tội; xác định khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội nào. Đồng thời khi nghiên cứu hồ sơ để chuẩn bị xét xử, những người có thẩm quyền xét xử cần xác định hành vi phạm tội trên thực tế thực hiện ở giai đoạn nào (chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành...), các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của từng bị cáo trong vụ án (nếu vụ án có đồng phạm)... Để có cơ sở áp dụng đúng pháp luật và đi đến phán quyết cuối cùng, Hội đồng xét xử của cơ quan Toà án còn phải lựa chọn quy phạm pháp luật nội dung (Bộ luật hình sự) và quy phạm pháp luật hình thức (Bộ luật tố tụng hình sự) phù hợp để áp dụng và xem xét việc bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố có đúng người, đúng tội hay không, ai là người phải chịu trách nhiệm dân sự (nếu có), xử lý tang vật của vụ án như thế nào... Từ đó làm cơ sở cho những người có thẩm quyền xét xử lựa chọn quy phạm pháp luật nội dung, quy phạm pháp luật hình thức để quyết định hình phạt, các biện pháp tư pháp khác và trách nhiệm dân sự đối với bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đúng pháp luật. Áp dụng quy phạm pháp luật trong xét xử án hình sự là nội dung chủ yếu trong hoạt động xét xử án hình sự của cơ quan Toà án. Vì vậy, muốn áp dụng một quy phạm pháp luật để xử lý tội phạm hình sự, chủ thể áp dụng pháp luật phải căn cứ vào dấu hiệu của các yếu tố cấu thành tội phạm để xác định hành vi bị truy tố có phải là tội phạm hay không; nghiên cứu để xác định có hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế hay không; tội đó là tội gì; các chứng cứ chứng minh cho hành vi phạm tội thông qua hoạt động chứng minh của các cơ quan tiến hành tố tụng và áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự và các bộ luật khác có liên quan để giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật. Để thực hiện được điều này, các chủ thể áp dụng pháp luật phải có kiến thức pháp lý, có kinh nghiệm thực tiễn và có sự hiểu biết rộng về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai tại phiên toà làm cơ sở để các chủ thể áp dụng pháp luật xác định bị cáo phạm tội gì hoặc không phạm tội, từ đó quyết định trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với bị cáo hoặc tuyên bố bị cáo không phạm tội. Để quyết định trách nhiệm hình sự phải thực hiện các công việc như sau:
  20. - Căn cứ các quy định của pháp luật để xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để đảm bảo nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự và cá thể hoá hình phạt đối với các vụ án có đồng phạm; có cần thiết áp dụng hình phạt đối với bị cáo hay không? Vì Bộ luật hình sự 1999 còn có những quy định như: Điều 25 quy định về miễn trách nhiệm hình sự; Điều 43 quy định các biện pháp tư pháp khác như bắt buộc chữa bệnh; Điều 70 quy định các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội như: giáo dục tại xã phường, đưa vào trường giáo dưỡng; Điều 54 quy định về miễn hình phạt [ 35, tr27,35,43, 54]. Khi thấy có đủ căn cứ để quyết định hình phạt, chủ thể áp dụng pháp luật cần lựa chọn những chế tài cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự để: - Quyết định một mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo theo quy định tại Điều 45 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999; điều 50 quyết định hình phạt trong trường hợp bị cáo phạm nhiều tội [35, tr40]; điều 53 quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm [35, tr43]… - Quyết định biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo được quy định tại điều 28 đến Điều 40 Bộ luật hình sự năm 1999 [35, tr28-33]. - Quyết định trách nhiệm dân sự theo quy định tại điều 42 Bộ luật Hình sự "Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đọat cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa bồi thường thiệt hại ngoài vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra" [35, tr34] để buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm vật chất đối với các thiệt hại bị cáo đã gây ra, những thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tinh thần, danh dự nhân phẩm... Đối với thiệt hại về tinh thần là không thể khắc phục được, tuy Toà án nhân dân tối cao cũng đã có hướng dẫn cụ thể về cách tính mức bồi thường thiệt hại về tinh thần để bù đắp cho người bị hại, nhưng pháp luật hình sự và pháp luật dân sự còn buộc người gây thiệt hại ngoài việc bồi thường về vật chất cho người bị hại, bị cáo còn phải công khai xin lỗi người bị hại trong trường hợp cần thiết. Thứ ba, xét xử án hình sự của Toà án là hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành theo một thủ tục tố tụng chặt chẽ.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2