intTypePromotion=1

Luận văn: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại tại Cục Hải quan Hà Nội

Chia sẻ: Nguyen Bao Ngoc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:106

0
90
lượt xem
60
download

Luận văn: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại tại Cục Hải quan Hà Nội

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong những năm vừa qua đất nước ta ổn định về chính tri và xã hội, kinh tế đã đạt được nhiều thành tựu đáng mừng, giao lưu kinh tế được mở rộng, công cuộc cải cách hành chính phát triển nổi bật, đặc biệt là những định hướng phát triển kinh tế và xã hội đưa ra trong nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX của Đảng đề ra, như đa phương hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ, Viêt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trên thế giới, đồng thời đảy mạnh các...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại tại Cục Hải quan Hà Nội

  1. Luận văn Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại tại Cục Hải quan Hà Nội
  2. LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm vừa qua đất nước ta ổn định về chính tri và xã hội, kinh tế đã đạt được nhiều thành tựu đáng mừng, giao lưu kinh tế được mở rộng, công cuộc cải cách hành chính phát triển nổi bật, đặc biệt là những định hướng phát triển kinh tế và xã hội đưa ra trong nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX của Đảng đề ra, như đa phương hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ, Viêt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trên thế giới, đồng thời đảy mạnh các hoat động kinh tế đối ngoại, đây chính là bước tiến quan trọng cho hoat động XNK trên địa bàn thủ đô. Ngoài ra, chúng ta còn phải nhắc tới những bước tiến quan trọng trong quá trình hiện đại hoá ngành Hải quan như quy chế hoá, quy trình hoá, thống nhất hoá hoạt động nghiệp vụ chuyên môn và xây dựng lực lượng Hải quan vững mạnh .Bên cạnh đó, viêc thực thi những hiệp đinh quốc tế song phương và đa phương như hiệp định thương mại Viêt-Mĩ, việc gia nhập AFTA, thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan theo hiệp định CEPT đã góp phần đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại với các nước trên thế giới đăc biệt là Châu Mĩ và Châu Âu là những thị trương còn rất xa lạ với chúng ta trong thời kỳ trước đây. Thủ đô Hà Nội là đầu não kinh tế-văn hoá-chính trị, khoa học-kĩ thuật và là một trung tâm giao dịch thương mại quốc tế lớn của cả nước. Vị trí quan trọng nay một mặt thúc đẩy hoạt động giao lưu buôn bán với nước ngoài tạo điều kiện cho thủ đô phát triển nhanh chóng nhưng mặt khác nó cũng là môi trường thuận lợi cho hành vi buôn lậu và gian lận thương mại sinh sôi, nảy nở đây là một thách thức không nhỏ đối với thành phố. Trong những năm gần đây tình hình buôn lậu và gian lân thương mại trên địa bàn thành phố phát triển hết sức nhanh chóng đáng chú ý là những mặt hàng như: hàng chuyển tiếp, hàng đầu tư nước ngoài, hàng chế độ riêng, hàng tạm nhập-tái xuất. Để có những biện pháp khắc phục kịp thời, Cục Hải quan thành phố Hà Nội đã tiến hành kiểm soát chặt chẽ các hàng hoá, hành lí, ngoại
  3. hối, bưu phẩm, bưu kiện xuất nhập khẩu qua Chi cục Hải quan Gia Lâm, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài, Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội, Chi cục Hải quan Ga đường sắt quốc tế Yên Viên, Chi cục Hải quan quản lý hàng đầu tư gia công, Chi cục Hải quan Hà Tây, Chi cục Hải quan Gia Thuỵ, Chi cục Hải quan Bắc ninh, Chi cục Hải quan Vĩnh Phúc, Chi cục Hải quan Phú Thọ. Cục Hải quan Hà nội có phạm vi quản lý rộng, phức tạp, không có cửa khẩu biên giới, không có cửa khẩu trực tiếp với biển nhưng Hà nội lại có hệ thống giao thông toả đi các miền trong cả nước và có sân bay quốc tế Nội Bài là cửa khẩu lớn đón nhận hầu hết sự giao lưu quốc tế với Viêt nam qua đường hàng không . Hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn Hà nội diễn ra rất sội động, đa dạng và phức tạp đối với đủ các loại hình của hơn 4000 doanh nghiệp, công ty trong và ngoài nước. Nhưng cùng với sự phát triển về hoạt động xuất nhập khẩu, lưu thông hàng hoá cũng phát sinh không ít những hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và những hành vi vi phạm pháp luật Hải quan. Chính vì những đặc điểm nêu trên, nên kết quả đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại của Hải quan Thành phố Hà nội trong thời gian qua tuy đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, hiệu quả thấp , chỉ mới phát hiện được những vụ nhỏ với những phương thức giản đơn và phổ biến. Những vụ buôn lậu quy mô lớn ít được phát hiện và xử lý, nhất là những vụ xuất nhập hàng cấm qua cửa khẩu và những vụ gian lận trốn lậu thuế có thủ đoạn tinh vi và có tính chất nước ngoài. Hoạt động buôn lậu và gian lận thương mại không những không giảm mà ngày càng gia tăng với những tình tiết ngay càng phức tạp. Chính vì vậy việc nghiên cứu đề tài:”Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại tại Cục Hải quan Hà Nội” không những mang tính cấp thiết về mặt lý luận mà còn là đòi hỏi
  4. thực tiễn cấp thiết nhằm góp phần năng cao hiệu quả của công tác này trong thời gian tới. 2.Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống thực trạng của công tác chống buôn lậu và gian lận thương mại tại Cục Hải quan TP Hà nội. Chuyên đề làm rõ các nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự xuất hiện và phát triển của buôn lậu và gian lận thương mại trong hoạt động XNK do Cục Hải quan TP Hà nội quản lý để từ đó đề ra một số giải pháp nhằm hạn chế và từng bước đẩy lùi tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại. 3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Buôn lậu và gian lận thương mại là một đề tài có phạm vi rất rộng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên để việc nghiên cứu được tập trung và có trọng điểm chuyên đề chỉ đề cập đến Buôn lậu và gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan , qua công tác chống buôn lậu và gian lận thương mại , công tác kiểm tra ,giám sát của Cục Hải quan TP Hà nội 4.Phương pháp nghiên cứu Chuyên đề được nghiên cứu dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp khảo sát thực tế ,thống kê, phân tích ,tổng hợp... 5.Kết cấu của chuyên đề: Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục , nội dung chuyên đề bao gồm 03 chương. Chương I: Tổng quan về phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại trong thương mại quốc tế Chương II: Thực trạng các hoạt động phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại tại Cục hải quan TP Hà nội
  5. Chương III : Định hướng và các giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại của Cục Hải quan Hà Nội trong thời gian tới CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ PHÒNG CHỐNG BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1.KHÁI NIỆM BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI TRONG THƯƠNG MẬI QUỐC TẾ (TMQT) 1.1Khái niệm Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ, sự gian lận trong buôn bán hàng giữa các nước cũng phát triển không ngừng cả về quy mô lẫn tính chất, thủ đoạn. Để hiểu rõ thế nào là Buôn lậu và gian lận thương mại, chúng ta lần lượt nghiên cứu từng nội dung của khái niệm: 1.1.1 Buôn lâu và vận chuyển hàng hoá trái phép : -Buôn lậu: theo Luật hình sự Việt Nam, được định nghĩa là " buôn bán hàng trốn thuế hoặc hàng quốc cấm". Đó là định nghĩa buôn lậu nói chung. Còn trong ngữ cảnh quốc tế, buôn lậu được hiểu là buôn bán hàng hoá, tiền tệ và các phương tiện thanh toán khác qua biên giới trốn tránh sự kiểm soát nhà nước nhằm mục đích kiếm lời. Buôn lậu là hành vi mang hàng hoá một cách bí mật và không hợp pháp vào và ra khỏi một nước mà không chịu trả thuế. Công ước NAIROBI - Công ước quốc tế về giúp đỡ hành chính lẫn nhau, ngăn ngừa ,điều tra và trấn áp các vi phạm hải quan- cũng đưa ra khái niệm buôn lậu là gian lận thương mại nhằm che dấu sự kiểm tra, kiểm soát của Hải
  6. quan bằng mọi thủ đoạn, mọi phương tiện trong việc đưa hàng hoá lén lút qua biên giới. Về tội danh buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới nhiều nước quy định tội danh buôn lậu vận chuyển đồ cấm (thuốc phiện, vũ khí, thuốc nổ...) là tội hình sự, còn các tội buôn lậu hàng hoá khác nằm trong tội danh gian lận thương mại thì bị truy thu thuế và phạt rất nặng (gia tăng theo số lần vi phạm) tức là có xu hướng không hình sự hóa các mối quan hệ dân sự trong hoạt động kiểm tra thương mại. Đối với Việt nam, hành vi buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá tiền tệ qua biên giới là một tội danh được quy định tại điều 97 của Bộ luật hình sự. Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện qua các hành vi: - Buôn lậu trái phép hàng hoá tiền tệ hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá tiền tệ qua biên giới trái với quy định của pháp luật với mục đích kiếm lợi nhuận bất hợp pháp. - Không khai báo hoặc khai báo gian dối, giả mạo giấy tờ, dấu giếm hàng hoá, tiền tệ trái phép không có giấy tờ hợp lệ của cơ quan có thẩm quyền đã được Nhà nước quy định. - Không đi qua các cửa khẩu, cố tình trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của Cơ quan Hải quan và cơ quan quản lý cửa khẩu. Hành vi mang hàng hóa trái phép qua biên giới rõ ràng có mục đích buôn bán thì cấu thành tội buôn lậu .... Nếu không có mục đích buôn bán thì cấu thành tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới. Dấu hiệu bắt buộc của tội phạm qua biên giới là tội phạm được hoàn thành từ thời điểm thực hiện hành vi mang hàng hoá trái phép qua biên giới. Hành vi nhập khẩu trái phép trót lọt hàng hoá hay tiền tệ qua biên giới vào trong nội địa mới bị phát hiện vẫn cấu thành tội buôn lậu vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới.
  7. Tất cả các đối tượng có hành vi vi phạm điều 97 Bộ luật hình sự đều là đối tượng đấu tranh của Hải quan và công tác đấu tranh chống buôn lậu là một trong nhiệm vụ quan trọng của Cục Hải quan Thành phố Hà Nội. Để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ quan trọng này Cục Hải quan Hà Nội phải được tổ chức chặt chẽ, thống nhất, có sự phân công rõ ràng giữa các phòng nghiệp vụ. Chúng ta cần phân biệt rõ giữa gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan và buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới. Đây là hai khái niệm khác nhau. Tuy nhiên trong thực tế ở Việt Nam nói chung, Cục Hải quan Hà Nội nói riêng khái niệm này chưa được phân định rõ ràng, thậm chí còn đ- ược gộp vào một. Chính sự lẫn lộn này dẫn đến khó khăn cho việc phân biệt tội danh để đấu tranh và xử lý các tội phạm và hình vi vi phạm pháp luật Hải quan. 1.1.2 Gian lận thương mại : - Gian lận: là hành vi dối trá, lừa đảo, mánh khoé của con người nhằm lừa người khác để đạt được mục đích nào đó. - Gian lận thương mại: là những hành vi dối trá, mánh khoé lừa lọc trong thương mại nhằm mục đích thu được một khoản lợi bất chính nào đó mà lẽ ra những khoản lợi thu được này họ không được hưởng. Ví dụ: Chủ hàng để lẫn lộn nhiều loại hàng hoá với nhau và khi Hải quan kiểm tra thì xuất trình những mạt hàng có thuế suất thấp. Hàng là sản phẩm hoàn chỉnh được khai là linh kiện, là nguyên phụ liệu để gia công, lắp ráp để trốn thuế. Hàng có xuất xứ từ nước này này lại khai báo là hàng có xuất xứ từ nước khác để được hưởng ưu đãi thuế... Chủ thể của hành vi gian lận thương mại có thể là người bán hoặc người mua hoặc cả người bán lẫn người mua. Họ sử dụng các thủ đoạn khác nhau để lừa dối cơ quan Nhà nước có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát hàng hoá. Ngoài ra đối với hàng cấm, do Nhà nước quản lý và hạn chế nhập khẩu, các chủ hàng
  8. cũng dùng các thủ đoạn gian lận thương mại để trốn tránh sự kiểm soát của các cơ quan chức năng. 1.1.3 Gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan : Vấn đề xác định rõ khái niệm gian lận thương mại cũng được Hội đồng hợp tác Hải quan quốc tế ( nay là tổ chức Hải quan thế giới WCO) đề cập, thảo luận nhiều lần. Ngày 09/06/1977 các nước thành viên đã ký kết công ước quốc tế về giúp đỡ hành chính giữa các nước nhằm ngăn ngừa, điều tra, trấn áp các hành vi vi phạm pháp luật Hải quan (gọi tắt là công ước NAIROBI ) đã đưa ra định nghĩa: " Gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan là hành vi vi phạm pháp luật Hải quan, lừa dối Hải quan để lẩn tránh một phần hoặc toàn bộ việc nộp thuế xuất nhập khẩu, vi phạm các biện pháp cấm hoặc hạn chế do luật pháp Hải quan quy định, để thu được một khoản lợi nhuận nào đó do việc vi phạm này". Về cơ bản, định nghĩa này đã khái quát được hành vi gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan. Hành vi đó được thể hiện bằng sự lừa dối thông qua hành động lẩn tránh việc nộp thuế và việc tuân thủ pháp luật Hải quan nhằm thu một khoản lợi nào đó. Tuy nhiên, đinh nghĩa nêu trên lại chưa đưa ra một cách đày đủ, chính xác các hành vi gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan . Do đó, tại Hội nghị quốc tế lần thứ năm về chống gian lận thưong mại do WCO tổ chức ngày 09/10 đến ngày 13/10/1995 đã đưa ra định nghĩa mới như sau : : " Gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan là hành vi vi phạm pháp luật Hải quan và các quy định liên quan khác, nhằm đạt được mục đích: - Trốn tránh hoặc có ý định trốn tránh việc nộp thuế Hải quan, phí và các khoản thu khác đối với việc di chuyển hàng hoá trong thương mại. - Tiếp nhận việc hoàn trả trợ cấp hoặc phụ cấp cho hàng hoá không thuộc đối tượng đó.
  9. - Cố ý đoạt được lợi thế thương mại bất hợp pháp gây hại cho các nguyên tắc và tập tục cạnh tranh thương mại chính đáng. Như vậy, định nghĩa gian lận thương mại rất rộng và liên quan đến nhiều khâu nghiệp vụ của ngành Hải quan. Qua đó cũng có thể thấy rằng định nghĩa về gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan mà Hội nghị quốc tế lần thứ V đưa ra là cụ thể, chính xác và có tính khái quát cao, thể hiện ở tính chất vi phạm và mục đích của hành vi gian lận thương mại. Hội nghị còn tổng kết và phân chia thành 16 loại hành vi gian lận thương mại chủ yếu hiện nay trong lĩnh vực Hải quan như sau: 1. Buôn lậu hàng hoá (kể cả hàng hoá bị cấm xuất nhập khẩu và đặc biệt hàng thuộc công ước WASHINGTON về bảo vệ động thực vật quý hiếm và các quy định quốc gia về bảo vệ môi trường) qua biên giới hoặc ra khỏi kho ngoại quan. 2. Khai báo sai tên hàng so với thực tế hàng hoá. 3. Khai tăng giá trị hoặc giảm giá trị hàng hoá. 4. Lợi dụng chế độ ưu đãi xuất xứ hay những quy định về chế độ ưu tiên đối với hàng hoá xuất nhập khẩu, kể cả chế độ hạn ngạch. 5. Lợi dụng chế độ ưu đãi về thuế đối với hàng gia công. 6. Lợi dụng chế độ tạm nhập (kể cả dùng thẻ ATA; Agreement on Temporary Admission). 7. Lợi dụng các quy định về giấy phép xuất nhập khẩu. 8. Lợi dụng các quy định về hàng chuyển khẩu, chuyển tiếp, quá cảnh, mượn đường để thay đổi hành trình đến đích của hàng hoá. 9. Khai báo sai về số lượng, trọng lượng, chất lượng hàng hoá. 10. Lợi dụng các quy định về mục đích sử dụng, kể cả buôn bán trái phép nhằm giảm thuế hàng hoá được cung cấp cho người tiêu dùng cụ thể.
  10. 11. Vi phạm đạo luật về diễn giải thương mại hoặc quy định về bảo vệ người tiêu dùng. 12. Kinh doanh hàng giả, hàng ăn cắp mẫu mã. 13. Thực hiện các giao dịch buôn bán không có sổ sách. 14. Yêu cầu giả, khống việc hoàn hoặc truy hoàn thuế Hải quan (kể cả chứng từ giả về hàng hoá đã xuất khẩu). 15. Doanh nghiệp " ma" tức doanh nghiệp kinh doanh chỉ trên giấy tờ hoặc đăng ký kinh doanh bất hợp pháp để hưởng ưu đãi thuế. 16. Phá sản có tính toán, tức công ty kinh doanh trong một thời gian ngắn để nợ đọng thuế rồi tuyên bố phá sản để trốn tránh việc nộp thuế, sau đó giám đốc công ty lại thành lập công ty mới với cùng ý định và mục đích như ban đầu. Loại gian lận này còn được gọi là " hội chứng phượng hoàng". Ngoài ra Hội nghị cũng đề cập đến các biện pháp chống gian lận thương mại trong việc sử dụng máy tính, đồng thời đã chú ý đến hoạt động gian lận thương mại trong các sản phẩm sơ chế có trình độ cao. 1.2. Phân biệt giữa buôn lậu và gian lận thương mại. Trên đây chúng ta đã tìm hiểu khái niệm của Buôn lậu và khái niệm của gian lận thương mại. Từ định nghĩa về Buôn lậu và gian lận thương mại và sự phân chia các hành vi gian lận thương mại của Tổ chức Hải quan thế giới, có thể thấy rằng gian lận thương mại là một khái niệm có phạm vi rất rộng, bao hàm cả hành vi buôn lậu. Sự khác nhau cơ bản giữa buôn lậu và gian lận thương mại là ở chỗ buôn lậu trước hết là hành vi gian lận thương mại nhưng ở mức cao hơn, tính chất phức tạp nghiêm trọng hơn. Nó bao hàm các hành vi giấu giếm để trốn tránh hoàn toàn hoặc một phần việc kiểm tra của Hải quan bằng mọi thủ đoạn, mọi phương tiện. Còn gian lận thương mại được định nghĩa là việc cố ý làm trái các quy định của pháp luật, chính sách hoặc lợi dụng sự sơ hở, không rõ ràng, không chính xác, không đầy đủ khoa học của pháp luật, sự chưa hoàn thiện và hành vi gian dối, lừa gạt qua cửa khẩu một
  11. cách công khai ngay nơi kiểm tra, kiểm soát của Hải quan nhăm thu lợi bất chính. Buôn lậu hoạt động không công khai, còn các loại hình gian lận thương mại khác bằng những thủ đoạn tinh vi đã “ qua mặt” các cơ quan quản lý nhà nước một cách công khai. Trên thực tế, cả hai hành vi trên đều là sự vi phạm pháp luật nhà nước trong lĩnh vực hải quan nhưng hành vi buôn lậu dễ nhận dạng hơn, hình thức xử lý cũng rõ ràng hơn và nghiêm khắc hơn. Tuy nhiên, ở nước ta lại có quan điểm khác về buôn lậu và gian lận thương mại. Điều 97 Bộ luật hình sự năm 1990 ( đã sửa đổi bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 28/12/1989, ngày 22/12/1990 có hiệu lực ) đã bao hàm cả các hành vi gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan như: Không khai báo, khai báo gian dối, giả mạo giấy tờ, giấu giếm hàng hoá... Từ đó có thể hiểu rằng gian lận thương mại là một nội dung, một bộ phận trong tội danh buôn lậu.Việc quy định như vậy không phù hợp với thực tế bởi vì xét về góc độ áp dụng pháp luật không thể khởi tố tất cả các chủ thể có hành vi thoả mãn cấu thành tội “ buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá hoặc tiền tệ qua biên giới” như đã nêu trên. Mặt khác xu hướng của các nước trên thế giới cũng như ở nước ta trong thời gian gần đây là không hình sự hoá các sai phạm trên lĩnh vực kinh tế ,việc xác định này cũng trái hẳn với quan điểm của Hải quan các nước và Tổ chức Hải quan thế giới, do đó sẽ gây khó khăn lớn trong việc giải quyết các tranh chấp trong hoạt động thương mại quốc tế và trong việc xử lý vi phạm pháp luật Hải quan giữa nước ta với các nước khác trong quá trình hội nhập quốc tế. 1.3 Hậu quả của buôn lậu và gian lận thương mại 1.3.1 Hậu quả của buôn lậu và gian lận thương mại đối với nền kinh tế quốc dân Thu nhập từ thuế, trong đó có thuế xuất nhập khẩu là một trong những nguồn thu quan trọng của nhà nước. Một trong các mục đích của các hành vi
  12. buôn lậu và gian lận thương mại là nhằm trốn thuế, do đó tác hại của buôn lậu và gian lận thương mại đối với nền kinh tế trước hết ở chỗ nó gây thất thu cho ngân sách nhà nước dẫn đến tình trạng Nhà nước mất cân đối về thu chi ngân sách, làm ảnh hưởng tới các kế hoạch kinh tế, tài chính của đất nước, đặc biệt là tới quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các nước đang phát triển. Mặt khác, thuế quan là thuế đánh trên hàng hoá nhập khẩu nhằm mục đích làm tăng giá của hàng nhập khẩu để giảm sự cạnh tranh với hàng hoá trong nước, kích thích sản xuất trong nước. Nhờ trốn thuế mà giá hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn. Với mức giá thấp và chất lượng cao hơn do có công nghệ sản xuất tiến tiến, hiện đại, hàng ngoại dễ dàng lấn át hàng nội, phá thế bình ổn giá cả làm cho một số ngành sản xuất trong nước trở nên đình trệ. Hoạt động Buôn lậu và gian lận thương mại còn làm phương hại tới lợi ích đất nước, tới quyền lợi của người tiêu dùng. Hàng hoá nhập lậu không được giám định, kiểm tra chất lượng. Có nhiều trường hợp vì mục tiêu lợi nhuận mà người nhập khẩu về cả những hàng hoá kém chất lượng, máy móc công nghệ cũ kỹ lạc hậu, làm phương hại tới lợi ích đất nước và quyền lợi của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, Buôn lậu và gian lận thương mại còn là một trong những nguyên nhân gây chảy máu vàng, chảy máu các tài nguyên, đặc sản quý của đất nước, làm cho đất nước kiệt quệ về nguồn lực. Hàng bị xuất lậu chủ yếu là hàng thuộc dạng nguyên liệu, khoáng sản, nhiên liệu thô, có mặt hàng chiến lược, hàng quốc cấm... Có thời kỳ từng rộ lên nạn xuất lậu đồng, xuất lậu gỗ quý, đá ruby, nạn bắt trộm hải sản v.v... 1.3.2 Hậu quả của Buôn lậu gian lận thương mại đối với văn hoá xã hội Thực tế cho thấy Buôn lậu và gian lận thương mại gây nên những hậu quả nặng nề và phức tạp về mặt văn hoá xã hội.Trong số hàng hoá được đưa vào trong nước bằng con đường phi pháp có không ít văn hoá phẩm đồi trụy, tuyên truyền bạo lực hay kiểu sống thác loạn, bệnh hoạn đã ảnh hưởng tới nhân cách
  13. của nhiều người, nhất là tầng lớp thanh thiếu nhi, làm suy đồi nếp sống lành mạnh của xã hội và truyền thống văn hoá dân tộc. Đặc biệt, tình hình nhập lậu ma tuý và các chất gây nghiện khác đang ngày càng trở nên nghiêm trọng đã và đang huỷ hoại một bộ phận thế hệ trẻ của đất nước, làm suy kiệt giống nòi. Hơn thé nữa, buôn lậu và gian lận thương mại cũng là một nhân tố làm tăng chênh lệch giữa kẻ giàu và người nghèo, tạo đà cho việc thê mướn và bóc lột sức lao động. Một số lớn lực lượng lao động bị tiền thuê mướn cám dỗ bỏ cả công việc sản xuất đi làm " cửu vạn" cho bọn buôn lậu, trong số đó có cả trẻ em đang tuổi đến trường cũng bỏ học tham gia vào đường dây buôn lậu. Không ít các đối tượng chính sách cũng tham gia hoặc tiếp tay cho gian thương gây nhiều phức tạp cho các lực lượng làm nhiệm vụ chống gian lận thương mại, nhất là trong công tác xử lý vi phạm. 1.3.3 Hậu quả của buôn lậu và gian lận thưong mại đối với an ninh chính trị: Buôn lậu và Gian lận thương mại ảnh hưởng lớn đến uy tín của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước. Nhà nước phát huy năng lực thông qua hệ thống pháp luật. Luật pháp không được tuân thủ sẽ đưa đến tình trạng hỗn loạn. Những kẻ có tội mà không bị trừng trị bằng cách hình phạt thích đáng sẽ làm nảy sinh tâm lý coi thường pháp luật, coi thường Nhà nước, làm khủng hoảng cả hệ thống lập pháp, tư pháp cũng như công luận. Buôn lậu và Gian lận thương mại cũng gắn liền với hối lộ, tham nhũng, vừa làm thoái hoá, biến chất đội ngũ cán bộ nhân viên nhà nước, vừa đẻ ra nhiều tiêu cực, phiến hà. Thực trạng đó dễ làm cho nhân dân trở nên hoang mang, giảm lòng tin đối với Nhà nước, gây tâm lý bất lợi cho công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước. Mặt khác, trong bối cảnh thế giới ngày nay, cuộc chiến tranh thị trường- cuộc chiến tranh " biên giới mềm" đang diễn ra khá căng thẳng. Chủ quyền lãnh thổ bị đe doạ không phải bằng xe tăng đại bác mà bằng hàng hoá, tiền và
  14. công nghệ. Hàng hoá đến đâu là biên giới đến đó, là có thị trường, có cơ hội vơ vét tài nguyên của những nước nghèo, kém phát triển, khiến các nước nghèo rơi vào tình cảnh biên giới đất nước vẫn còn nguyên mà chủ quyền thì mất.Chiến tranh thông thường có thể giết chết nhiều người nhưng về lâu dài khó có thể giết được một nền độc lập, nhưng chiến tranh về kinh tế thì đã làm cho không ít quốc gia có sức mạnh quân sự hùng hậu cũng mất chủ quyền. Tình hình thế giới trong nhiều năm qua đã chứng tỏ điều này. 2. CÁC HÌNH THỨC BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI THƯỜNG GẶP TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN: 2.1 Các hình thức buôn lậu : Buôn lậu trái phép hàng hoá tiền tệ hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá tiền tệ qua biên giới trái với quy định của pháp luật với mục đích kiếm lợi nhuận bất hợp pháp. Không khai báo hoặc khai báo gian dối, giả mạo giấy tờ, dấu giếm hàng hoá, tiền tệ trái phép không có giấy tờ hợp lệ của cơ quan có thẩm quyền đã đ- ược Nhà nước quy định. Không đi qua các cửa khẩu, cố tình trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của Cơ quan Hải quan và cơ quan quản lý cửa khẩu. 2.2 Các hình thức gian lận thương mại 2.2.1.Khai báo không trung thực Đây là hành vi gian lận phổ biến nhất thường gặp. Để lẩn trốn kiểm tra, chủ hàng thường dùng các thủ đoạn như: - Khai báo không trung thực về mặt hàng thực xuất nhập khẩu. Tức là trên thực tế xuất nhập khẩu mặt hàng này nhưng trong bộ hồ sơ chứng từ, chủ hàng lại kê khai là mặt hàng khác. Mục đích của việc khai báo không trung thực này là để được hưởng thuế suất xuất nhập khẩu thấp hoặc không phải nộp thuế xuất nhập khẩu và các khoản thu khác của nhà nước. Thủ
  15. đoạn khai gian hàng hoá mà chủ hàng thường áp dụng là: Mô tả sai hàng hoá trong bộ chứng từ, trong tờ khai hải quan không ghi đúng mẫu mã theo quy định về áp mã hàng của công ước quốc tế về hệ thống thống nhất trong mô tả mã hàng hoá hoặc mô tả mập mờ, khó xác định chính xác nó xếp vào mã nào. Ngoài ra chủ hàng còn dùng mẹo để lẫn lộn hai loại hàng với nhau rồi khai báo một loại hàng... - Khai báo không trung thực về trị giá hàng hoá. Trong hình thức gian lận này có thể chia làm hai loại: + Khai báo trị giá thấp hơn thực tế ( Undervaluation): là việc chủ hàng khai hàng hoá có giá trị thấp hơn trị giá thực của nó nhằm trốn thuế xuất nhập khẩu. Đây là trường hợp người xuất khẩu và người nhập khẩu thông đồng với nhau để toàn bộ hồ sơ chứng từ đều ghi giá trị lô hàng giảm xuống thấp, nhờ đó trốn được khoản thuế phải nộp tương ứng với phần chênh lệch giữa trị giá thực tế với trị giá khai báo. Những biểu hiện gian lận này khá phổ biến ở những nước áp dụng sắc thuế theo giá hàng vì nếu đơn giá hàng hoá kê khai thấp thì số thuế sẽ phải nộp ít hơn. Chẳng hạn, trong thời gian Bộ Tài chính chưa quy định giá tối thiểu để tính thuế nhập khẩu linh kiện CKD xe máy Avenis, mặt hàng có thuế suất thuế nhập khẩu bằng 60%, giá tối thiểu các doanh nghiệp thường khai báo để tính thuế nhập khẩu là 1200USD/bộ và xe nguyên chiếc là 2400USD/chiếc trong khi đó trên thị trường nội địa, mặt hàng này được bán lẻ với giá 5000USD/chiếc. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp xuất nhập khẩu phải thông qua hạn ngạch hạn chế vì trị giá hàng hoá xuất nhập khẩu, chủ hàng thường tìm cách khai thấp trị giá hàng hoá để xuất nhập khẩu được số lượng hàng nhiều hơn. Cũng có trường hợp một số nước áp dụng thuế suất luỹ kế tính theo trị giá lô hàng, tức là nếu trị giá lô hàng X đồng thì thuế suất nhập khẩu của lô hàng đó là 5% nhưng nếu trị giá lô hàng vượt mức X đồng thì thuế suất áp dụng lúc này sẽ là 10%. Vì lẽ đó, chủ hàng sẽ tìm mọi cách để khai báo trị giá lô hàng
  16. thấp hơn thực tế hoặc chia nhỏ lô hàng thành nhiều lô để hưởng thuế suất thấp hơn. + Khai báo giá trị cao hơn thực tế ( Overvaluation) Trong thực tiễn hoạt động thương mại quốc tế còn xảy ra trường hợp chủ hàng khai báo trị giá hàng hoá cao hơn trị giá vốn có của lô hàng. Nguyên nhân của loại gian lận này có thể là do ở một số nước, thuế suất được xác định căn cứ vào trị giá hàng hoá, trị giá hàng hoá cao được áp dụng mức thuế suất thấp hơn, khi đó chủ hàng sẽ tìm cách khai báo trị giá hàng xuất nhập khẩu cao hơn giá hàng thực tế để được hưởng mức thuế suất thấp hơn. Như vậy trị giá chịu thuế tuy có cao hơn nhưng số tiền nộp thuế vẫn giảm đi. Trong trường hợp hạn ngạch xuất nhập khẩu bị hạn chế về số lượng hàng hoá, người ta lập hoá đơn chứng từ thanh toán và kết toán là hoàn toàn đúng với số tiền thực tế phải trả nhưng số lượng hàng hoá ghi ít hơn thực tế (để còn được tiếp tục xuất nhập khẩu ), vì thế đơn giá hàng hoá phải ghi cao hơn thực tế. Ngoài ra, hiện tượng khai báo trị giá hàng cao hơn thực tế vẫn còn xảy ra trong lĩnh vực liên doanh đầu tư với nước ngoài: các chủ đầu tư nước ngoài thường nâng giá máy móc, thiết bị, vật tư lên cao hơn nhiều so với giá cả thị trường quốc tế để làm tăng phần góp vốn của mình (tăng giả mạo) nhằm thu lợi nhuận cao qua phần thu hồi khấu hao thiết bị máy móc và lợi nhuận phân chia theo tỷ lệ góp vốn, đồng thời lại giảm phần thuế lợi tức phải nộp cho Nhà nước. - Khai báo không trung thực về số lượng, trọng lượng và chất lượng hàng hoá xuất nhập khẩu. Trong điều kiện hoạt động thương mại quốc tế ngày nay đang phát triển mạnh mẽ, lưu lượng hàng hoá đi qua cửa khẩu ngày càng nhiều, càng phong phú, đa dạng về chủng loại, trị giá xuất nhập khẩu ngày càng cao tất yếu nảy sinh yêu cầu ngành Hải quan các nước phải có sự cải tiến mạnh mẽ, đổi mới
  17. tích cực về thủ tục hải quan theo hướng đơn giản, thống nhất và tin học hoá nhằm tạo điều kiện thuận lợi và hiệu quả cho thương mại quốc tế, giải phóng được hàng hoá xuất nhập khẩu nhanh, giảm tối thiểu được các chi phí phát sinh do thủ tục hải quan gây ra. Lợi dụng những điểm trên, các chủ hàng đã xuất nhập khẩu hàng hoá với số lượng, trọng lượng nhiều nhưng chỉ khai một phần, hàng tốt khai thành hàng trung bình, hàng mới khai thành hàng cũ, hàng thành phẩm khai thành nguyên liệu, linh kiện, phụ kiện để trốn thuế về cả trị giá tính thuế, cả về thuế suất. Đáng lẽ phải nhập hàng theo quy định của giấy phép có hạn ngạch, nhưng chủ hàng muốn xuất nhập khẩu ngoài số lượng, trọng lượng quy định đó nên họ khai báo gian với Hải quan về lượng hàng hoá xuất nhập khẩu. - Khai báo không trung thực về xuất xứ hàng hoá. Xác định xuất xứ hàng hoá là vấn đề phức tạp và rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến hai vấn đề chính là: thuế suất xuất nhập khẩu của hàng hoá với cùng một mặt hàng nhưng xuất xứ khác nhau, thì trị giá tính thuế của mặt hàng đó được tính khác nhau. Nó cũng liên quan đến chính sách ưu đãi thuế quan giữa các nước thành viên có quan hệ giành cho nhau hưởng chế độ tối huệ quốc (MNF), các chương trình thương mại đặc biệt như hệ thống ưu đãi thuế quan chung hoặc chương trình tự do thương mại song phương… Chủ hàng thường lợi dụng chính sách này, tìm cách khai sai xuất xứ, hoặc cố ý gây khó khăn trong việc xác định xuất xứ để trốn thuế. Thủ đoạn phổ biến của loại gian lận này là người nhập khẩu yêu cầu người xuất khẩu cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá giả, có thể bằng nhiều cách chuyển tải hàng hoá sang nước thứ ba và xin giấy chứng nhận xuất xứ của nước này. Có khi chủ hàng còn cố ý để lộn hàng hoá của nước này với hàng hoá của nước kia, để rồi khi Hải quan kiểm tra thì trình hàng hoá có xuất xứ được ưu đãi. 2.2.2. Khai báo không đúng chủng loại hàng hoá.
  18. Nhằm giải phóng hàng hoá nhanh, không gây ách tắc, tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại trong thủ tục kiểm tra, kiểm soát hải quan, đối với nhiều mặt hàng, Hải quan đã áp dụng phương pháp kiểm tra đại diện, kiểm tra xác suất hoặc kiểm tra mẫu hàng... mà không tiến hành kiểm tra, kiếm hoá chi tiết. Các chủ hàng có thể lợi dụng điểm sơ hở này để thực hiện hành vi gian lận thương mại là khai báo không đúng chủng loại hàng hoá cho Hải quan kiểm tra. 2.2.3. Xuất trình giấy tờ, chứng từ xuất nhập khẩu hàng hoá không đầy đủ, thiếu tính chân thực. Cụ thể là: - Giả mạo bộ hồ sơ xuất nhập khẩu để phù hợp với mốc thời gian quy định khi có thay đổi chính sách thuế, chính sách mặt hàng. - Khai báo sai hoặc giả mạo chứng từ để được hưởng chế độ miễn giảm thuế do các trường hợp bất khả kháng gây ra trong hoạt động xuất nhập khẩu và vận chuyển, bốc. xếp, dỡ hàng hoá xuất nhập khẩu. - Giả mạo hồ sơ hàng hoá thông qua hình thức điều kiện tạm nhập tái xuất chuyển khẩu, hàng gửi kho ngoại quan, hàng để đưa vào tiêu thụ trong thị trường nội địa trốn thuế nhập khẩu. - Xuất nhập khẩu ngoài danh mục: các chủ hàng lợi dụng hàng hoá được Nhà nước cho xuất nhập khẩu miễn thuế hoặc có ưu đãi riêng đối với một số hàng hoá nào đó, để che đậy xuất nhập khẩu các loại hàng hoá khác ngoài danh mục hàng Nhà nước cho xuất nhập khẩu với ưu đãi đặc biệt. - Lập bộ chứng từ hàng hoá không đầy đủ, để ngoài hoá đơn và bộ hồ sơ xuất nhập khẩu hàng những yếu tố phụ, những chi phí thuộc loại phải thu thuế. - Khai báo vượt quá yêu cầu những mặt hàng được sử dụng vào mục đích ưu đãi nhưng thực chất để sử dụng vào mục đích khác nhằm trốn thuế.
  19. 3. CƠ SỞ PHÁP LÍ ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI: 3.1. Các quy định quốc tế về chống gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan. 3.1.1 Qui định trong hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) Trị giá Hải quan là một trong những kẽ hở mà gian thương triệt để lợi dụng, đặc biệt là vì gian lận về trị giá vì Hải quan không thể điều tra, nghiên cứu và xác định chính xác được trị giá của tất cả hàng hoá ngay tại cửa khẩu lúc xuất nhập hàng do hạn chế về thời gian, thông tin và cả về kiến thức, trình độ chuyên môn... Trước tình hinh đó Hiệp đình GATT đã ra đời GATT được ký lần đầu vào năm 1947. Các nước thành viên của hiệp định này đã thoả thuận về " giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu theo mục đích Hải quan" và ghi nhận trong điều 7 GATT những quy tắc về trị giá Hải quan như sau: Trị giá của hàng nhập khẩu phải: - Căn cứ vào trị giá thực tế của hàng hoá - Không được dựa vào trị giá hàng hoá của nước xuất xứ hoặc trị giá áp đặt tuỳ tiện vô căn cứ. - Phải là mức giá mà ở mức giá đó, hàng hoá tương tự có thể bán trong chu kỳ kinh doanh bình thường với điều kiện cạnh tranh lành mạnh, không có sự thông đồng giữa người bán với người mua để lập chứng từ giả làm sai lệch trị giá thực của hàng hoá xuất nhập khẩu. Đến năm 1994, hiệp định này được sửa đổi thành Hiệp định thực hiện 7 GATT -1994 gồm 4 phần 24 điều. Hiệp định thực hiện điều 7 GATT -1994 đã nhận thức được sự cần thiết phải có một hệ thống định giá công bằng, thống nhất và trung lập đối với việc định giá hàng hoá cho mục đích thuế quan để ngăn ngừa việc sử dụng các trị
  20. giá Hải quan tuỳ tiện hay giả mạo trên cơ sở các tiêu chuẩn đơn gian và công bằng phù hợp với các tập quán thương mại quốc tế và các thủ tục định giá được áp dụng chung không có sự phân biệt đối xử giữa các nguồn cung cấp. 3.1.2. Qui định trong công ước quốc tế về đơn giản hoá và hài hoà hoá toàn bộ thủ tục Hải quan (Công ước KYOTO). Công ước này được làm tại KYOTO - Nhật Bản ngày 18/5/1973 và đã được chấp nhận tại kỳ họp 41/42 của Hội đồng Hợp tác Hải quan thế giới ( nay là Tổ chức Hải quan thế giới WCO). Mục đích của Công ước là đơn giản hoá và hài hoá hoá thủ tục Hải quan giữa các nước, đưa ra các chuẩn mực về thủ tục Hải quan cho từng loại hình xuất nhập khẩu nhằm vừa tạo thuận lợi cho sự phát triển của thương mại quốc tế và các giao lưu quốc tế khác, vừa chống Buôn lậu và gian lận thương mại có hiệu quả, thúc đẩy các giao lưu quốc tế vì lợi ích chung của mọi quốc gia thành viên. Điểm quan trọng nhất khi áp dụng Công ước KYOTO là phải đạt được mục tiêu đơn giản hoá, hài hoà hoá thủ tục Hải quan đạt đến tính trong sáng, dễ hiểu trong thủ tục, tránh được sự mập mờ để cho gian lận thương mại có cơ hội lợi dụng. Khi tham gia ký kết Công ước KYOTO và các phụ lục của Công ước phải tính đến hiệu quả của công tác đấu tranh chống Buôn lậu và gian lận thương mại để hoàn chỉnh các luật pháp quốc gia, loại bỏ môi trường hoạt động của Buôn lậu và gian lận thương mại nhằm vừa đảm bảo cho hiệu quả của thương mại quốc tế, vừa đảm bảo lợi ích quốc gia. 3.1.3. Qui định trong công ước quốc tế về giúp đỡ hành chính lẫn nhau, điều tra, ngăn ngừa và trấn áp các vi phạm Hải quan (Công ước NAIROBI) Công ước này được ký kết ngày 9/6/1977 tại Nairobi - Cộng hoà Kenia. Theo công ước NAIROBI, các vi phạm pháp luật Hải quan, trong đó có buôn lậu và gian lận thương mại đã làm tổn hại tới những lợi ích kinh tế, xã hội của các quốc gia cũng như làm tổn hại đến những quyền lợi chính đáng của thương

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản