intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Tư vấn đầu tư và Thương mại

Chia sẻ: Kim Kim | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:55

192
lượt xem
75
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'luận văn: một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty tư vấn đầu tư và thương mại', luận văn - báo cáo, quản trị kinh doanh phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Tư vấn đầu tư và Thương mại

  1. Luận văn: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Tư vấn đầu tư và Thương mại
  2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty T vấn đầu t và Thương m ại Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN I/ Khái niệm và phân loại vốn. 1. Khái niệm về vốn Do vai trò quan trọng của vốn trong sự tồn tại và phát triển một doanh nghi ệp nói riêng và của một nền kinh tế nói chung, từ trớc tới nay, không chỉ có các chủ doanh nghiệp, những nhà quản lý quan tâm, trăn trở về nguồn huy động và cách thức sử dụng vốn mà ngay cả các nhà kinh tế, nhà lý luận đã tốn không ít giấy mực và tâm trí để đa ra một định nghĩa, một nghiên cứu hoàn chỉnh nhất về vốn của doanh nghiệp. Dới giác độ các yếu tố sản xuất, Mark đã khái quát hoá vốn thành phạm trù cơ bản. Theo Mark, t bản là giá trị đem lại giá trị thặng d, là một đầu vào của quá trình sản xuất. Định nghĩa của Mark có tầm khái quát lớn. Tuy nhiên, do hạn chế của trình độ phát triển kinh tế lúc bấy giờ, Mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng d. Paul. A. Sammelson, nhà kinh tế học theo trờng phái “tân cổ điển” đã thừa kế quan niệm về các yếu tố sản xuất của trờng phái cổ điển và phân chia các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất ra thành ba loại chủ yếu là: đất đai, lao động và vốn. Theo ông, vốn là các hàng hoá đợc sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp: đó có thể là các máy móc, trang thiết bị, vật t, đất đai, giá trị nhà xởng... Trong quan niệm về vốn của mình, Sammelson không đề cập tới các tài sản tài chính, những giấy tờ có giá trị đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
  3. Trong cuốn kinh tế học của D. Begg, tác giả đã đa ra hai định nghĩa vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác; vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghi ệp. Nh vậy, D. Begg đã bổ sung vốn tài chính vào định nghĩa vốn của Sammelson. Trong hai định nghĩa trên, các tác giả đã thống nhất nhau ở điểm chung cơ bản: vốn là một đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trong cách định nghĩa của mình, các tác giả đã đều thống nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. Thực chất, vốn là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ. Vốn và tài sản là hai mặt hiện vật và giá trị của môt bộ phận nguồn lực mà doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Vốn biểu hiện mặt giá trị, nghĩa là vốn phải đại diện cho một loại giá trị hàng hoá, dịch vụ nhất định, một loại giá trị tài sản nhất định. Nó là kết tinh của giá trị chứ không phải là đồng tiền in ra một cách vô ý thức rồi bỏ vào đầu t. Trong nền kinh tế thị trờng, vốn là một loại hàng hoá. Nó giống các hàng hoá khác ở chỗ có chủ sở hữu nhất định. Song nó có điểm khác vì ngời sở hữu có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Giá của vốn (hay còn gọi là lãi suất) là cái giá phải trả về quyền sử dụng vốn. Chính nhờ sự tách dời về quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn nên vốn có thể lu chuyển trong đầu t kinh doanh và sinh lời. Dới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất cơ bản, kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong một quá trình sản xuất riêng biệt, chia cắt, mà trong toàn bộ các quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục, suốt trong thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên cho tới chu kỳ sản xuất cuối cùng. Tóm lại, vốn là một phạm trù đợc xem xét, đánh giá theo nhiều quan niệm, với nhiều mục đích khác nhau. Do đó, khó có thể đa ra một định nghĩa về vốn thoả mãn tất cả các yêu cầu, các quan niệm đa dạng. Song hiểu một cách khái quát, ta có thể coi: Vốn kinh doanh là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu hay các giá trị tích luỹ đợc cho các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp. 2. Vai trò của vốn Vốn là điều kiện không thể thiếu đợc để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Để doanh nghiệp đợc phép thành lập, bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải đầu t một số vốn nhất định không nhỏ hơn mức vốn pháp định, là mức vốn tối thiểu mà pháp luật qui định đối với mỗi nghành nghề.
  4. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn đóng vai trò đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp đợc tiến hành thuận lợi theo mục đích đã định. Nó là một trong bốn yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đợc đảm khi hội đủ các yếu tố: vốn, lao động, tài nguyên và kỹ thuật công nghệ. Nhng xét cho cùng thì điều kiện đầu tiên và quyết định là vốn. Khi có vốn, doanh nghiệp có thể sử dụng để thuê lao động, mua tài nguyên và công nghệ. Vì thế, vốn đợc coi là yếu tố quan trọng hàng đầu, là điều kiện không thể thiếu để tiến hành sản xuất, tái sản xuất và mở rộng sản xuất kinh doanh. Vai trò của vốn chỉ có thể đợc phát huy trên cơ sở thực hiện các chức năng tài chính, thực hiện yêu cầu của cơ quan hạch toán kinh doanh. Điều đó nghĩa là thực hành tiết kiệm, hiệu quả. Trên cơ sở tự chủ về tài chính, doanh nghiệp phải sử dụng hợp lý, đúng mức đồng vốn bỏ ra, phải làm sao với số vốn nhất định có thể thực hiện đợc nhiều việc nhất. Để khẳng định vai trò của vốn, Mark đã nói: “t bản đứng vị trí hàng đầu vì t bản là tơng lai” (trích từ tài liệu: “Tích tụ và tập trung vốn trong nớc – NXB Thống kê 1997”). 3. Phân loại vốn trong doanh nghiệp Vốn trong doanh nghiệp thờng đợc chia thành nhiều phần khác nhau theo từng cách chia khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích, thời hạn, và tính chất sử dụng vốn mà ngời ta phân chia thành các loại khác nhau: 3.1. Xét về vai trò và tính chất luân chuyển vốn khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh có thể phân thành hai loại: Vốn cố định và vốn lu động 3.1.1. Vốn cố định Vốn cố định của một doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu t ứng trớc về tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng. Là số vốn đầu t ứng trớc để mua sắm, xây dựng các tài sản cố định nên qui mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô của tài sản cố định ảnh hởng rất lớn đến trình độ trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Song ngợc lại những đặc điểm kinh tế của tài sản cố định trong quá trình sử dụng lại có ảnh hởng quyết định, chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố định. Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh vì tài sản cố định của doanh nghiệp có thời gian luân chuyển dài. Tuỳ theo hình thái biểu hiện và kết hợp tính chất đầu t thì vốn cố định dới dạng tài sản cố định của doanh nghiệp đợc chia làm ba loại: tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình, tài sản cố định tài chính.
  5. a. Tài sản cố định vô hình là những tài sản cố định không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện một lợng giá trị đã đợc đầu t có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp nh chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về đất sử dụng, chi phí mua bằng sáng chế, phát minh hay nhãn hiệu thơng mại, giá trị lợi thế thơng mại... tài sản cố định vô hình cũng có thể đợc hình thành do doanh nghiệp đầu t hay cho thuê dài hạn. b. Tài sản cố định hữu hình là những t liệu lao động chủ yếu đợc biểu hiện bằng các hình thái vật chất cụ thể nh nhà xởng, máy móc, thiết bị phơng tiện vận tải, các vật kiến trúc..., những tài sản cố định hữu hình này có thể là từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống bao gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tài sản cố định hữu hình có thể do doanh nghiệp tự mua sắm, xây dựng hoặc cho thuê dài hạn. c. Tài sản cố định tài chính là giá trị các khoản đầu t tài chính dài hạn với mục đích kiếm lời nh đầu t vốn vào liên doanh dài hạn, cho thuê tài sản cố định dài hạn... Đây là những khoản vốn đầu t có thời gian thu hồi dài (lớn hơn một năm hay một chu kỳ kinh doanh). Vốn cố định đợc luân chuyển giá trị dần dần từng phần. Khi tham gia vào quá trình sản xuất thì tài sản không bị thay đổi hình dáng hiện vật ban đầu nhng tính năng và công suất bị giảm dần, tức là nó bị hao mòn cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng của nó cũng bị giảm đi. Vốn cố định đợc tách làm hai phần sau: - Một phần tơng ứng với giá trị hao mòn đợc chuyển vào giá trị sản phẩm dới hình thức chi phí khâu hao và đợc tích luỹ lại thành quỹ khấu hao sau khi sản phẩm hàng hoá đợc tiêu thụ. Quỹ khấu hao này dùng để tái sản xuất tài sản cố định nhằm duy trì năng lực sản xuất của doanh nghi ệp. - Phần còn lại của vốn cố định đợc “cố định” trong hình thái hiện vật của tài sản cố định ngày càng giảm đi trong khi phần vốn luân chuyển càng tăng lên tơng ứng với sự suy giảm dần giá trị sử dụng tài sản cố định. Kết thúc quá trình vận động đó cũng là lúc tài sản cố định hết thời gian sử dụng và vốn cố định cũng hoàn thành một vòng luân chuyển. Thông thờng, vốn cố định là bộ phận quan trọng và chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp, đặc điểm luân chuyển của nó lại tuân theo quy luật riêng, do đó việc quản lý và sử dụng vốn cố định có ảnh hởng trực tiếp tới hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh. 3.1.2. Vốn lu động
  6. Vốn lu động trong doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trớc để đầu t, mua sắm tài sản lu động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh đợc tiến hành liên tục. Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lu động nên đặc điểm vận động của vốn lu động chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lu động. Trong các doanh nghiệp ngời ta thờng chia tài sản lu động thành hai loại: tài sản lu động sản xuất và tài sản lu động lu thông. - Tài sản lu động sản xuất bao gồm các loại nguyên nhiên vật liệu, phụ từng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang... đang trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc chế biến. - Tài sản lu động lu thông bao gồm các sản phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trớc. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tài sản lu động sản xuất và tài sản xuất lu thông luôn vận động, thay thế và chyển hoá lẫn cho nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất đợc diễn ra thuờng xuyên liên tục. Phù hợp với những đặc điểm trên của tài sản lu động, vốn lu động của doanh nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh. Vốn lu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu. Vì vậy giá trị của nó đợc chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm: - Khởi đầu vòng tuần hoàn vốn, vốn lu động từ hình thái tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn vật t hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất. Kết thúc vòng tuần hoàn, sau khi sản phẩm đợc tiêu thụ, vốn lu động lại trở về hình thái tiền tệ nh điểm xuất phát ban đầu của nó . - Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách thờng xuyên liên tục nên cùng một thời điểm vốn lu động tồn tại dới các hình thái khác nhau trong lĩnh vực sản xuất và lu thông. - Các giai đoạn vận động của vốn đợc đan xen vào nhau, các chu kỳ sản xuất đợc lặp đi lặp lại. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lu động hoàn thành một vòng luân chuyển. Từ những đặc điểm trên ta thấy quản lý và sử dụng vốn lu động là bộ phận quan trọng trong công tác quản lý tài chính của mỗi doanh nghiệp. Trong đó cần phải xác định đúng đắn nhu cầu vốn lu động giúp cho doanh nghiệp đảm bảo vốn lu động để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, tránh tình trạng ứ đọng vốn. Trên cơ sở đó doanh nghiệp nên có những biện pháp khai thác và huy động các nguồn tài trợ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và
  7. thực hiện tốt công tác quản lý và sử dụng vốn, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. 3.2. Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả Căn cứ vào nguồn hình thành thì vốn đợc chia làm hai loại: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. 3.2.1. Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt. Số vốn này không phải là một khoản nợ và doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng nh: vốn đầu t từ ngân sách Nhà nớc, vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra, vốn góp cổ phần... Vốn chủ sở hữu đợc xác định là phần vốn còn lại trong tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ đi toàn bộ nợ phải trả. 3.2.2. Công nợ phải trả Là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế. Đó là số tiền vốn mà doanh nghiệp đi vay, chiếm dụng của các đơn vị, tổ chức, cá nhân nh: vốn vay của ngân hàng thơng mại, các tổ chức tài chính khác, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ khách hàng cha thanh toán. 3.3. Nguồn vốn thờng xuyên và nguồn vốn tạm thời Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn có thể phân chia nguồn vốn doanh nghiệp thành hai loại: Nguồn vốn thờng xuyên và nguồn vốn tạm thời. 3.3.1. Nguồn vốn thờng xuyên Là nguồn vốn từ một năm trở lên bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn. Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng dành cho việc đầu t mua sắm tài sản cố định và một bộ phận tài sản lu động tối thiểu thờng xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 3.3.2. Nguồn vốn tạm thời Đây là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn ( ít hơn một năm ) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thờng phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng cùng các khoản nợ khác.
  8. Việc phân loại nguồn vốn thờng xuyên và nguồn vốn tạm thời giúp cho ngời quản lý xem xét huy động các nguồn vốn một cách hợp lý với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Cách phân loại này còn giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp lập các kế hoạch tài chính hình thành nên những dự định và tổ chức nguồn vốn trong tơng lai trên cơ sở xác định quy mô thích hợp cho từng nguồn vốn đó, tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả cao. II/ Những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn Hiệu quả sử dụng vốn là sự so sánh giữa chí phí sử dụng vốn và những lợi ích mà đồng vốn đó mang lại cho doanh nghiệp. Thông qua sự so sánh nh vậy có thể thấy đợc ta sẽ đánh giá đợc hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp đó là cao hay thấp, tốt hay xấu… 2. Những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn 2.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung ã Hiệu suất sử dụng vốn: Doanh thu thuần trong kỳ Vòng quay toàn bộ vốn trong kỳ = ------------------------------------------- Số vốn sử dụng bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này phản ánh vốn của doanh nghiệp trong một kỳ quay đợc bao nhiêu vòng. Qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá đợc khả năng sử dụng tài sản của doanh nghiệp thể hiện qua doanh thu thuần đợc sinh ra từ tài sản doanh nghiệp đã đầu t. Vòng quay càng lớn thì hiệu quả càng cao. ã Suất hao phí vốn: Là chỉ tiêu nghịch đảo chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn, phản ánh một đồng doanh thu cần có bao nhiêu đồng vốn. Số vốn sử dụng bình quân trong kỳ Suất hao phí vốn trong kỳ = ----------------------------------------------- Doanh thu thuần trong kỳ ã Tỷ lệ doanh lợi trên tổng vốn: Lợi nhuận thuần trong kỳ Tỷ lệ doanh lợi trên tổng vốn trong kỳ = --------------------------------------------- Số vốn sử dụng bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết số lợi nhuận đợc tạo ra trên một đồng vốn sản xuất trong kỳ. 2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định ã Hiệu suất sử dụng vốn cố định:
  9. Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định, nó giúp cho các nhà phân tích biết đợc đầu t một đồng vốn cố định có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Doanh thu thuần trong kỳ Hiệu suất sử dụng vốn cố định = -------------------------------------------- Vốn cố định bình quân trong kỳ ã Suất hao phí vốn cố định: Là đại lợng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định. Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu cần phải bỏ vào sản xuất bao nhiêu đồng vốn cố định. Vốn cố định bình quân trong kỳ Suất hao phí vốn cố định = ------------------------------------------------ Doanh thu thuần trong kỳ ã Tỷ lệ doanh lợi trên vốn cố định: Lợi nhuận trong kỳ Tỷ lệ doanh lợi trên vốn cố định = ----------------------------------------------- Vốn cố định bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn cố định. Chỉ tiêu này thể hiện một đồng vốn cố định bỏ vào sản xuất đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Khả năng sinh lời của vốn cố định càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn càng tốt. 2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu động ã Hiệu suất sử dụng vốn lu động: Doanh thu thuần Vòng quay vốn lu động trong kỳ = --------------------------------- Vốn lu động bình quân Vòng quay vốn lu động phản ánh trong kỳ vốn lu động quay đợc mấy vòng. Qua đó cho biết một đồng lu động bỏ vào sản xuất kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này tỷ lệ thuận với hiệu quả sử dụng vốn lu động. ã Tỷ lệ doanh lợi trên vốn lu động: SLợi nhuận Tỷ lệ doanh lợi trên vốn lu động = -------------------------------------------- Vốn lu động bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lu động bỏ vào sản xuất kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ lệ này phản ánh hiệu qủa sử dụng vốn lu động. ã Kỳ luân chuyển vốn lu động: 360 K = ---------- L
  10. K: kỳ luân chuy ển vốn lu động. L: số lần luân chuyển (số vòng quay) của vốn lu động trong kỳ. Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để thực hiện một vòng quay vốn lu động. Vòng quay của vốn càng nhanh thì kỳ luân chuyển vốn càng đợc rút ngắn và chứng tỏ vốn lu động càng đợc sử dụng có hiệu quả. ã Hệ số đảm nhiệm vốn lu động: Hệ số này càng thấp thì hiệu quả sử dụng vốn cố định càng cao và ngợc lại. Vốn lu động Hệ số đảm nhiệm vốn lu động = ----------------------------------- Doanh thu sau thuế 2.4. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán Tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh rõ nét chất lợng công tác tài chính. Nếu hoạt động tài chính tốt, doanh nghi ệp sẽ ít công nợ, khả năng thanh toán dồi dào, ít bị chiếm dụng vốn cũng nh ít đi chiếm dụng vốn. Ngợc lại nếu hoạt động tài chính kém thì sẽ dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau, các khoản công nợ phải thu, phải trả sẽ dây da, kéo dài. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp chỉ tập trung vào thanh toán khoản vay nợ mà doanh nghiệp cần phải thanh toán trong năm. Do vậy doanh nghiệp phải dùng toàn bộ tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình để thanh toán nợ tới hạn. Nếu khả năng thanh toán yếu, doanh nghi ệp phải chịu lãi suất đồng thời làm ảnh hởng đến các mối quan hệ kinh tế trong kinh doanh. Vì vậy khi xét đến khả năng thanh toán ngời ta chỉ xét đến khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. Thuộc nhóm chỉ tiêu này bao gồm: Tổng tài sản ã Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = --------------------------- Tổng nợ phải trả Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa tổng tài sản hiện nay mà doanh nghiệp đang quản lý sử dụng với tổng số nợ phải trả ( nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, ... ). Nếu hệ số nay nhỏ hơn một là báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu bị mất toàn bộ, tổng số tài sản hiện có (tài sản lu động, tài sản cố định) không đủ trả số nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán. ã Hệ số khả năng thanh toán tạm thời: Hệ số khả năng Tài sản lu động và đầu t ngắn hạn trong kỳ thanh toán = --------------------------------------------------------------
  11. tạm thời trong kỳ Tổng nợ ngắn hạn trong kỳ Hệ số khả năng thanh toán tạm thời thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lu động với nợ ngắn hạn. Nợ ngắn hạn là khoản nợ phải thanh toán trong kỳ, do đó doanh nghiệp phải dùng tài sản thực có của mình để thanh toán bằng cách chuyển đổi một bộ phận tài sản thành tiền. Trong tổng số tài sản mà doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng và sở hữu, chỉ có tài sản lu động là trong kỳ có khả năng chuyển đổi thành tiền. ã Hệ số khả năng thanh toán nhanh: Tài sản lu động - Vốn vật t hàng hoá Hệ số khả năng thanh toán nhanh = ------------------------------------------------ Tổng nợ ngắn hạn Trong đó: Tài sản lu động bao gồm: tiền, các khoản phải thu, các khoản đầu t ngắn hạn. Việc phân tích và tính toán các hệ số khả năng thanh toán nhanh giúp cho doanh nghiệp biết đợc thực trạng các khoản cần thanh toán nhanh để có kế hoạch dự trữ nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán. 2.5. Các chỉ tiêu về khả năng cân đối vốn Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng cân đối vốn bao gồm các tỷ lệ sau: ã H ệ s ố nợ : Các doanh nghiệp cần phải xác định các chỉ tiêu hệ số nợ. Chỉ tiêu này phản ánh mức độ nợ trong tổng số tài sản của dong nghiệp, từ đó cho thấy trong tổng tài sản của doanh nghiệp, tài sản sở hữu thực chất của doanh nghiệp là bao nhiêu. Nếu tỷ số này tăng lên, mức độ đơn vị cần đợc thanh toán tăng điều này gây ảnh hởng đến khả năng thanh toán của doanh nghi ệp. Tổng số nợ Hệ số nợ = -------------------------- Tổng tài sản Trong đó: Tổng nợ phải trả bao gồm: - Nợ ngắn hạn - N ợ dà i hạ n - Nợ khác Tổng tài sản bao gồm: - Tài sản lu động
  12. - Tài sản cố định Khi hệ số nợ cao tức là chủ doanh nghiệp chỉ đóng góp một phần nhỏ trên tổng số tài sản thì sự rủi ro trong kinh doanh đợc chuyển sang cho chủ nợ gánh chịu một phần. Đồng thời khi hệ số nợ cao thì chủ doanh nghiệp càng có lợi rõ rệt vì khi đó họ chỉ bỏ ra một lợng vốn nhỏ nhng lại đợc sử dụng một lợng tài sản lớn. Và khi kinh doanh vốn lớn hơn lãi suất tiền vay thì lợi nhuận của họ gia tăng rất nhanh. Tuy nhiên khi hệ số nợ cao thì độ an toàn trong kinh doanh càng kém vì chỉ cần một khoản nợ tới hạn trả, không trả đợc sẽ rất dễ làm cho cán cân thanh toán mất cân bằng và xuất hiện nguy cơ phá sản. ã Tỷ suất tự tài trợ: Đây là một chỉ tiêu tài chính đo lờng sự góp vốn của chủ sở hữu trong tổng số vốn hiện có của doanh nghiệp. Nguồn vốn chủ sở hữu Tỷ suất tự tài trợ = ---------------------------------- = 1 - hệ số nợ Tổng nguồn vốn Tỷ suất tự tài trợ càng lớn chứng tỏ doanh nghi ệp có nhiều vốn tự có, có tính độc lập cao với các chủ nợ, do đó không bị ràng buộc hoặc bị sức ép của các khoản vay. Các chủ nợ thờng thích tỷ suất tự tài trợ càng cao càng tốt. Chủ nợ nhìn vào tỷ số này để tin tởng một sự đảm bảo cho các món nợ vay đợc hoàn trả đúng hạn. ã Tỷ số nợ dài hạn: Chỉ tiêu này đợc dùng để chỉ ra phần tài sản của doanh nghiệp đợc hình thành bằng nguồn vốn vay dài hạn. Nợ dài hạn là những khoản nợ có thời gian đáo nợ trên một năm, do vậy tài sản đợc hình thành từ nguồn vốn này có hệ số an toàn cao hơn tài sản đợc hình thành từ nguồn vốn vay ngắn hạn. Tổng số nợ dài hạn Tỷ số nợ dài hạn = ------------------------------- Tổng nguồn vốn Tổng số nợ dài hạn đợc xác định bằng tổng các khoản vay dài hạn và nợ dài hạn trên bảng cân đối tài sản, phần nguồn vốn. ã Hệ số thanh toán lãi vay: Lãi vay phải trả là một khoản chi phí cố định, nguốn để trả lãi vay là lợi nhuận gộp sau khi đã trừ đi chi phí quản lý kinh doanh và chi phí bán hàng. So sánh nguốn vốn để trả lãi
  13. với lãi vay phải trả sẽ cho chúng ta biết doanh nghiệp đã sẵn sàng trả tiền lãi tới mức độ nào. Lãi vay + lợi nhuận trớc thuế Hệ số thanh toán lãi vay = -------------------------------------------------- Lãi vay phải trả Hệ số này dùng để đo lờng mức độ lợi nhuận có đợc do sử dụng vốn để đảm bảo trả lãi cho chủ nợ. Nói cách khác, hệ số thanh toán lãi vay cho chúng ta biết đợc số vốn đi vay đã sử dụng tốt tới mức độ nào và đem lại một khoản lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả hay không. 2.6. Các chỉ tiêu về khả năng hoạt động Các chỉ tiêu này dùng để đo lờng hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của một doanh nghiệp bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh dới các loại tài sản khác nhau. ã Vòng quay hàng tồn kho Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ . Giá vốn hàng bán Số vòng quay hàng tồn kho = ------------------------------------ Hàng tồn kho bình quân Số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh đợc đánh giá càng tốt. ã Số ngày một vòng quay hàng tồn kho Phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho. Công thức xác định là: 360 ngày Số ngày một vòng quay hàng tồn kho = -------------------------------------- Số vòng quay hàng tồn kho ã Vòng quay các khoản thu Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp. Doanh thu thuần trong kỳ Vòng quay các khoản phải thu = --------------------------------------------------- Số d bình quân các khoản phải thu Vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản thu nhanh là tốt ã Kỳ thu tiền trung bình Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu đợc các khoản phải thu (số ngày của một vòng quay các khoản phải thu).
  14. 360 ngày Kỳ thu tiền trung bình = ---------------------------------------------- Vòng quay các khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền trung bình càng nhỏ, và ngợc lại. Tuy nhiên kỳ thu tiền trung bình cao hay thấp trong nhiều trờng hợp cha thể có kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại các mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp nh: mục tiêu mở rộng thị trờng, chính sách tín dụng của doanh nghiệp. III/ Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Kinh doanh là một hoạt động kiếm lời, lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng. Để đạt tới lợi nhuận tối đa các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ sản xuất – kinh doanh, trong đó, quản lý và sử dụng vốn là một bộ phận rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong cơ chế quản lý hành chính quan liêu bao cấp, các doanh nghiệp Nhà nớc đợc Nhà nớc tài trợ và cấp phát vốn đầy đủ, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không cần quan tâm do nhiệm vụ của họ chỉ thực hiện đúng kế hoạch Nhà nớc giao. Do đó hiệu quả sử dụng vốn cũng không đợc các doanh nghiệp Nhà nớc quan tâm tới. Từ khi chuyển đổi sang cơ chế thị trờng, các doanh nghiệp Nhà nớc phải hạch toán độc lập, tự chủ trong hoạt động kinh doanh và quản lý nguồn vốn, có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn, các doanh nghiệp Nhà nớc phải quan tâm đúng mức đến hiệu quả sử dụng vốn. Muốn vậy, các doanh nghiệp phải thờng xuyên tự đánh giá mình về phơng diện sử dụng vốn, qua đó, thấy đợc chất lợng quản lý sản xuất - kinh doanh, khả năng khai thác các tiềm năng sẵn có, biết đợc mình đang ở cung đoạn nào trong quá trình phát triển (thịnh vợng hay suy thoái), đang ở vị trí nào trong quá trình thi đua, cạnh tranh với các xí nghi ệp khác. Qua phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nhằm có biện pháp tăng cờng quản lý, sử dụng tiết kiệm các yếu tố của sản xuất để đạt hiệu quả cao hơn. IV/ Các nhân tố ảnh hởng tới cơ cấu vốn của doanh nghiệp Trong thực tế, các doanh nghiệp ở các nghành khác nhau, thậm chí các doanh nghiệp trong cùng một nghành cũng có cơ cấu vốn rất khác biệt. Có nhiều yếu tố ảnh hởng tới sự khác biệt của cơ cấu vốn nh: sự dao động của doanh thu, cơ cấu tài sản, thái độ của ngời cho vay và mức độ chấp nhận rủi ro của ngời lãnh đạo. Chúng ta có thể đa ra một số nhân tố sau: 1. Sự ổn định của doanh thu và lợi nhuận
  15. Sự ổn định của doanh thu và lợi nhuận có ảnh hởng trực tiếp tới quy mô của vốn huy động. Khi doanh thu ổn định sẽ có nguồn để lập quỹ trả nợ đến hạn, khi kết quả kinh doanh có lãi sẽ là nguồn để trả lãi vay. Trong trờng hợp này tỷ trọng của vốn huy động trong tổng số vốn của doanh nghiệp sẽ cao và ngợc lại 2. Cơ cấu tài sản Vốn là biểu hiện bằng tiền của tài sản nên đặc điểm cơ cấu vốn cũng chịu sự chi phối của cơ cấu tài sản. Toàn bộ tài sản của doanh nghiệp có thể chia ra tài sản lu động và tài sản số định. Tài sản cố định là tài sản có thời gian thu hồi vốn dài, do đó nó đợc đầu t bằng nguồn vốn dài hạn ( Vốn chủ sở hữu và vay nợ dài hạn ). Ngợc lại, tài sản lu động sẽ đợc đầu t một phần của vốn dài hạn, còn chủ yếu là vốn ngắn hạn. 3. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của nghành Những doanh nghi ệp nào có chu kỳ sản xuất dài, vòng quay của vốn chậm thì cơ cấu của vốn sẽ nghiêng về vốn chủ sở hữu ( hầm mỏ, khai thác, chế biến... ) ngợc lại những nghành nào có mức cầu về loại sản phẩm cố định, ít thăng trầm, vòng quay của vốn nhanh... ( dịch vụ, bán buôn... ) thì vốn đợc tài trợ trừ các khoản nợ sẽ chiếm tỷ trọng lớn. 4. Doanh lợi vốn và lãi suất vốn huy động Khi doanh lợi vốn lớn hơn lãi suất vốn vay là cơ hội tốt nhất để gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, do đó khi có nhu cầu tăng vốn ngời ta thờng chọn hình thức tài trợ từ vốn vay, từ thị trờng vốn. Ngợc lại, khi có doanh lợi vốn nhỏ hơn lãi suất vay thì cấu trúc vốn lại nghiêng về vốn chủ sở hữu. 5. Mức độ chấp nhận rủi ro của ngời lãnh đạo Trong kinh doanh phải chấp nhận mạo hiểm có nghĩa là phải chấp nhận sự rủi ro, nhng điều đó lại đồng nghĩa với cơ hội để gia tăng lợi nhuận (mạo hiểm càng cao thì rủi ro càng nhiều nhng lợi nhuận càng lớn). Do đó có thể có một số nhà quản lý sẵn sàng sử dụng nhiều nợ hơn để gia tăng lợi nhuận. Tuy nhiên các nhà quản lý cần phải cân nhắc kỹ trớc khi ra quyết định tăng tỷ trọng vốn vay nợ bởi lẽ tăng mức độ mạo hiểm và chỉ cần một sự thay đổi nhỏ về doanh thu và lợi nhuận theo chiều hớng giảm sút sẽ làm cho cán cân thanh toán mất thăng bằng, nguy cơ phá sản sẽ hiện thực. 6. Thái độ của ngời cho vay Thông thờng ngời cho vay thích các doanh nghi ệp có cấu trúc vốn nghiêng về vốn chủ sở hữu hơn, bởi lẽ với cấu trúc này nó hứa hẹn sự trả nợ đúng hạn, một sự an toàn của
  16. đồng vốn mà họ đã bỏ ra cho vay. Khi tỷ lệ vốn vay nợ quá cao sẽ làm giảm độ tín nhiệm của ngời cho vay, do đó chủ nợ sẽ không chấp nhận cho doanh nghiệp vay thêm. Các nhân tố trên ảnh hởng rất lớn tới cơ cấu vốn của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn về việc quản lý và sử dụng vốn. Tóm lại, trong những điều kiện khác nhau và trong những thời kỳ khác nhau mỗi doanh nghiệp đều phải xác định đợc cơ cấu vốn hợp lý phù hợp với đặc điểm riêng của từng doanh nghiệp, luôn có sự tính toán các nhân tố có thể làm thay đổi cơ cấu tạo sự chủ động trong sản xuất kinh doanh. V/ Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh bao gồm hàng loạt các phơng pháp, biện pháp, công cụ quản lý nhằm sử dụng tiết kiệm, với hiệu quả kinh tế cao nhất các nguồn vốn hiện có, các tiềm năng về kỹ thuật công nghệ, lao động và các lợi thế khác của doanh nghiệp. Dới đây là một số biện pháp chủ yếu: - Lựa chọn phơng án kinh doanh, phơng án sản phẩm - Lựa chọn và sử dụng hợp lý các nguồn vốn - Tổ chức và quản lý tốt quá trình sản xuất kinh doanh - Tăng cờng hoạt động Marketing - Mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh - Tổ chức tốt công tác kế toán và phân tích hoạt động kinh tế. 1. Lựa chọn phơng án kinh doanh, phơng án sản phẩm Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, quy mô và tính chất sản xuất, kinh doanh không phải do chủ quan doanh nghi ệp quyết định, mà do thị trờng quyết định. Khả năng nhận biết, dự đoán thị trờng và nắm bắt thời cơ... là những yếu tố quyết định thành công hay thất bại trong kinh doanh. Vì vậy, giải pháp đầu tiên có ý nghĩa quyết định hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn là phải lựa chọn đúng đắn phơng án kinh doanh, phơng án sản phẩm. Các phơng án kinh doanh, phơng án sản phẩm phải đợc xây dựng trên cơ sở tiếp cận thị trờng để quyết định quy mô, chủng loại, mẫu mã, chất lợng và giá bán sản phẩm. 2. Lựa chọn và sử dụng hợp lý các nguồn vốn Thu hút và huy động vốn đầu t có hiệu quả là điều kiện ảnh hởng trực tiếp tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Các nguồn huy động bổ sung vốn trong nền kinh tế thị trờng bao gồm rất nhiều nguồn: nguồn vốn doanh nghiệp tự bổ sung, vay ngân hàng, vay các đối tợng khác, liên doanh liên kết... Việc lựa chọn nguồn vốn nào rất quan trọng và cần phải
  17. dựa trên nguyên tắc hiệu quả kinh tế. Đối với những doanh nghiệp thừa vốn thì tuỳ từng điều kiện cụ thể có thể lựa chọ khả năng sử dụng. Nếu đa đi liên doanh liên kết hoặc cho các doanh nghiệp khác vay thì cần phải thận trọng, thẩm tra kỹ các dự án liên doanh, kiểm tra t cách khách hàng nhằm đảm bảo liên doanh có hiệu quả kinh tế, cho vay không bị chiếm dụng vốn do quá hạn cha trả, hoặc mất vốn do khách hàng không có khả năng thanh toán. 3. Tổ chức và quản lý tốt quá trình sản xuất kinh doanh Điều hành và quản lý tốt sản xuất kinh doanh là một giải pháp rất quan trọng nhằm đạt kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh cao. Tổ chức tốt quá trình sản xuất tức đảm bảo cho quá trình đó đợc tiến hành thông suốt, đều đặn, nhịp nhàng giữa các khâu dự trữ, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá và đảm bảo sự phối hợp ăn khớp, chặt chẽ giữa các bộ phận, đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp nhằm sản xuất ra nhiều sản phẩm chất lợng tốt, tiêu thụ nhanh. Các biện pháp điều hành và quản lý sản xuất kinh doanh phải nhằm hạn chế tối đa tình trạng ngừng việc của máy móc, thiết bị, ứ đọng vật t dự trữ và thành phẩm chất lợng sản phẩm kém, gây lãng phí các yếu tố sản xuất và làm chậm tốc độ luân chuyển vốn. Để đạt mục tiêu nêu trên, các doanh nghiệp phải tăng cờng quản lý từng yếu tố của quá trình sản xuất. ã Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định: - Bố trí dây chuyền sản xuất hợp lý, khai thác hết công suất thiết kế và nâng cao hiệu suất máy móc, thiết bị , sử dụng triệt để diện tích sản xuất, giảm chi phí khấu hao trong giá thành sản phẩm. - Xử lý nhanh những tài sản cố định không cần dùng, h hỏng nhằm thu hồi vốn nhanh, bổ sung thêm vốn cho sản xuất kinh doanh. - Phân cấp quản lý tài sản cố định cho các bộ phận sản xuất nhằm nâng cao trách nhiệm trong quản lý và sử dụng tài sản cố định, giảm tối đa thời gian nghỉ việc. - Thờng xuyên quan tâm đến việc bảo toàn vốn cố định, thực hiện nghiêm chỉnh các nội dung của công tác bảo toàn và phát triển vốn. ã Một số biện pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lu động: Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn lu động nói riêng phụ thuộc vào việc tiết kiệm và tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn lu động. Các biện pháp chủ yếu thờng đợc áp dụng trong quản lý vốn lu động nh sau:
  18. - Xác định đúng nhu cầu vốn lu động cần thiết cho từng thời kỳ sản xuất, kinh doanh nhằm huy động hợp lý các nguồn vốn bổ sung. - Tổ chức tốt quá trình thu mua, dự trữ vật t nhằm đảm bảo hạ giá thành thu mua vật t, hạn chế tình trạng ứ đọng vật t dự trữ, dẫn đến kém phẩm chất gây ứ đọng vốn lu động. - Quản lý chặt chẽ việc tiêu dùng vật t theo định mức nhằm giảm chi phí nguyên, nhiên, vật liệu trong giá thành sản phẩm. - Tổ chức hợp lý quá trình lao động, tăng cờng các biện pháp nâng cao chất lợng sản phẩm, áp dụng các hình thức khen thởng vật chất và tinh thần cho ngời lao động. - Tổ chức đa dạng các hình thức tiêu thụ sản phẩm. - Xây dựng quan hệ bạn hàng tốt với khách hàng nhằm củng cố uy tín trên thơng trờng. Tổ chức tốt quá trình thanh toán tránh và giảm các khoản nợ đến hạn hoặc quá hạn cha đòi đợc. - Tiết kiệm các yếu tố chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lu thông góp phần giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận. 4. Tăng cờng hoạt động Marketing Để sản xuất kinh doanh đáp ứng tối đã nhu cầu thị trờng, các doanh nghiệp cần phải hiểu biết và vận dụng tốt phơng pháp Marketing. Marketing có vai trò đặc biệt quan trọng trong khâu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Sản phẩm tiêu thụ nhanh làm rút ngắn thời gian luân chuyển vốn, do đó khả năng sử dụng vốn hiệu quả nhiều hơn. Các doanh nghiệp phải tổ chức chuyên trách về vấn đề tìm hiểu thị trờng để thờng xuyên có đợc những thông tin đầy đủ, chính xác, tin cậy về diễn biến của thị trờng. Trên cơ sở đó các doanh nghiệp có thể kịp thời thay đổi phơng án kinh doanh, phơng án sản phẩm, xác định phơng thức tiêu thụ sản phẩm và chính sách giả cả hợp lý. 5. Mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh Kỹ thuật tiến bộ và công nghệ hiện đại là điều kiện vật chất để doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm mới, hợp thị hiếu, chất lợng cao, nhờ đó mà doanh nghiệp có thể tăng khối lợng sản phẩm tiêu thụ, tăng giá bán, tăng lợi nhuận. Đồng thời nhờ áp dụng kỹ thuật tiến bộ, doanh nghiệp có thể rút ngắn chu kỳ sản xuất sản phẩm, giảm tiêu hao nguyên vật liệu hoặc sử dụng các loại vật t thay thế nhằm tăng tốc độ luân chuyển vốn, tiết kiệm chi phí vật t, hạ giá thành sản phẩm. 6. Tổ chức tốt công tác kế toán và phân tích hoạt động kinh tế Qua số liệu, tài liệu kế toán, đặc biệt là các báo cáo kế toán tài chính doanh nghiệp thờng xuyên nắm đợc số vốn hiện có, cả về mặt giá trị và hiện vật, nguồn hình thành và
  19. các biến động tăng, giảm vốn trong kỳ, mức độ đảm bảo vốn lu động, tình hình và khả năng thanh toán... Nhờ đó, doanh nghiệp có thể đề ra các giải pháp đúng đắn để xử lý kịp thời các vấn đề về tài chính nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh đợc tiến hành thuận lợi theo các chơng trình, kế hoạch đề ra. Vì vậy tổ chức tốt công tác kế toán ở doanh nghiệp là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tăng cờng quản lý, kiểm tra kiểm soát quá trình kinh doanh, sử dụng các loại vốn nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao. Bên cạnh việc tổ chức tốt công tác kế toán, cần thực hiện phân tích công tác hoạt động kinh doanh trong đó có phân tích tình hình tài chính và hiệu quả sử dụng vốn. Việc đánh giá phân tích các số liệu kế toán sẽ giúp các doanh nghiệp tìm ra những giải pháp để đạt hiệu quả sử dụng vốn ngày càng cao. Chơng II THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CỦA CÔNG TY T VẤN ĐẦU T VÀ THƠNG MẠI I/ Đặc điểm tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty t vấn đầu t và thơng mại. 1. Lịch sử hình thành và phát triển
  20. Tên đầy đủ: Công ty T vấn đầu t và Thơng mại Thuộc Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt nam Địa chỉ: 120B Hàng Trống – Hà Nội – Việt nam Điện thoại: 84 – 4 – 8289562/9285617 Fax: 84 – 8287444 Công ty T vấn đầu t và Thơng mại ra đời và phát triển khi mà nền kinh tế đang có sự chuyển đổi từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc. Công ty – một doanh nghiệp Nhà nớc - đơn vị thành viên của Tổng Công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt nam có lịch sử hình thành và phát triển đợc đánh dấu bằng các mốc chính sau đây: - Ngày 11/5/1991. Đánh dấu dự ra đời của Công ty với tên gọi ban đầu là Công ty đầu t và phát triển đóng tàu nòng cốt là các cán bộ nhân viên từ các phòng ban của Liên hiệp khoa học sản xuất đóng tàu cũ tách ra. - Năm 1994. Theo văn bản số 161/TB ngày 29/11/1994 về thông báo của Thủ tớng Chính phủ cho phép thành lập lại doanh nghiệp nhà nớc và quyết định số 2557/QĐ/TCCB- LĐ của Bộ Giao thông vận tải quyết định cho phép Công ty đổi tên là Công ty t vấn đầu t và phát triển đóng tàu. - Năm 1996. Tổng công ty cho phép sát nhập Công ty T vấn và Công ty Tài chính thành công ty mới có tên là Công ty T vấn đầu t và Tài chính công nghiệp tàu thuỷ. - Năm 1999. Nhận thấy trớc tình hình kinh tế có nhiều thay đổi, nhằm phù hợp với chức năng nhiệm vụ của mình, công ty đề nghị và đợc chấp nhận của các ban nghành có liên quan Công ty T vấn đầu t và Tài chính công nghi ệp tàu thuỷ tách ra làm hai công ty: + Công ty Tài chính công nghiệp tàu thuỷ + Công ty T vấn đầu t và Thơng mại trực thuộc Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt nam . Công ty T vấn đầu t và Thơng mại có chức năng nhiệm vụ chính đợc giao là T vấn đầu t và môi giới phát triển công nghiệp đóng tàu, dịch vụ khoa học kỹ thuật chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực tàu thuỷ, dịch vụ vật t thiết bị đóng tàu, t vấn xây dựng thuộc lĩnh vực công nghiệp đóng tàu, đào tạo và xuất khẩu lao động trong nghành công nghiệp tàu thuỷ. Tháng 12/1995. Bộ xây dựng cấp chứng chỉ hành nghề t vấn xây dựng thì chức năng nhiệm vụ của công ty đợc mở rộng không những trong phạm vi nghành mà còn cả ngoài ngành không thuộc Tổng công ty nh các đơn vị thuộc nghành Thuỷ sản hay các đơn vị Hải
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2