intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cường việc sử dụng BCLCTT ở các doanh nghiệp Việt Nam

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:26

0
63
lượt xem
3
download

LUẬN VĂN: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cường việc sử dụng BCLCTT ở các doanh nghiệp Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Quá trình đổi mới sâu sắc cơ chế quản lý kinh tế đòi hỏi nền tài chính quốc gia nói chung và hệ thống văn bản taì chính nói riêng phải được tiếp tục đổi mới một cách toàn diện,nhằm tạo ra sự ổn định của môi trường kinh tế cũng như lành mạnh hoá các quan hệ và các hoạt động tài chính. Trong cơ chế quản lý mới,tài chính luôn luôn là tổng hoà của các mối quan hệ kinh tế,tổng thể của các nội dung và giải pháp tài chính,tiền tệ.Tài chính không chỉ đơn thuần...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cường việc sử dụng BCLCTT ở các doanh nghiệp Việt Nam

  1. LUẬN VĂN: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cường việc sử dụng BCLCTT ở các doanh nghiệp Việt Nam
  2. Lời nói đầu Quá trình đổi mới sâu sắc cơ chế quản lý kinh tế đòi hỏi nền tài chính quốc gia nói chung và hệ thống văn bản taì chính nói riêng phải được tiếp tục đổi mới một cách toàn diện,nhằm tạo ra sự ổn định của môi trường kinh tế cũng như lành mạnh hoá các quan hệ và các hoạt động tài chính. Trong cơ chế quản lý mới,tài chính luôn luôn là tổng hoà của các mối quan hệ kinh tế,tổng thể của các nội dung và giải pháp tài chính,tiền tệ.Tài chính không chỉ đơn thuần là khai thác các nguồn lực tài chính nhằm tăng thu nhập, tăng trưởng kinh tế mà còn phải quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả mọi nguồn lực.Điều đó đòi hỏi các hoạt động tài chính cần phải được quản lý bằng luật pháp, bằng các công cụ và biện pháp quản lý có hiệu lực. Với tư cách là công cụ quản lý kinh tế,tài chính,kế toán là một lĩnh vực gắn liền với hoạt động kinh tế,tài chính,đảm nhiệm hệ thống tổ chức thông tin có ích cho các quyết định kinh tế.Vì vậy,kế toán có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ với hoạt động tài chính nhà nước mà còn vô cùng cần thiết và quan trọng với hạot động tài chính của doanh nghiệp. Trong thời gian qua,cùng với quá trình phát triển kinh tế,cùng với sự đổi mới sâu sắc của cơ chế kinh tế,hệ thống kế toán nước ta đã không ngừng được hoàn thiện và phát triển,góp phần tích cực vào việc tăng cường và nâng cao chất lượng quản lý tài chính quốc gia,tài chính doanh nghiệp.Tuy nhiên trong cơ chế mới, hệ thống kế toán này vẫn còn nhiều tồn tại, nó không còn phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường,của quá trình hội nhập chung vào nền kinh tế khu vực và nền kinh tế thế giới nữa. Do đó, nhiệm vụ cấp thiết đặt ra cho hệ thống kế toán nước ta trong giai đoạn hiện nay và sắp tới là phải cải cách triệt để,toàn diện hệ thống kế toán (kể cả kế toán doanh nghiệp và kế toán nhà nước) sao cho phù hợp với cơ chế kinh tế trong nước cũng như các chuẩn mực, thông lệ kế toán của các nước.Trong đó đặc biệt là hệ thống chứng từ kế toán mà trọng tâm là các Báo các lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT),bởi vì
  3. BCLCTT là một trong những báo cáo tài chính không thể thiếu đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, song việc lập BCLCTT lại chưa phải là một quy định bắt buộc trong hệ thống kế toán Việt Nam.Mặt khác việc thực thi báo cáo này ở các doanh nghiệp cũng rất hạn chế và chưa thật sự được coi trọng đúng mức. Việc đưa ra một giải pháp hữu hiệu nhằm áp dụng triệt để BCLCTT vào các doanh nghiệp nước ta (kể cả doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh) trong giai đoạn hiện nay và sắp tới luôn là đề tài nổi cộp được các nhà nghiên cứu,các cán bộ quản lý và những người làm công tác kế toán,những người quan tâm đến kế toán đề cập đến.Do vậy,trong cuốn chuyên đề này với vốn kiến thức nhỏ bé của mình, em mong muốn được đóng góp phần sức lực của mình vào công cuộc đổi mới chung của cả nước bằng việc đưa ra những dẫn chứng về vai trò của BCLCTT và sự cần thiết phải sử dụng BCLCTT trong các doanh nghiệp. Cuốn chuyên đề này được trình bày làm 3 phần: Phần I : Tổng quan về BCLCTT Phần II : Thực trạng việc lập và sử dụng BCLCTT ở các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Phần III : Một số kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cường việc sử dụng BCLCTT ở các doanh nghiệp Việt Nam.
  4. Phần i tổng quan về báo cáo lưu chuyển tiền tệ I.Khái niệm và yêu cầu của việc lập “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ”. 1.khái niệm: Cho đến nay, các nhà nghiên cứu,các nhà chuyên môn trong lĩnh vực kế toán cả trong và ngoài nước đã đưa ra rất nhiều các quan điểm khác nhau về BCLCTT,song tựu chung lại thì tất cả các quan điểm đó đều thống nhất rằng: BCLCTT là một trong những hình thức cơ bản của hệ thống báo cáo tài chính, nó phản ánh các khoản thu và chi tiền trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp theo từng hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính. Như vậy BCLCTT nhằm tổng hợp và trình bày cho người sử dụng một cách tổng quát và toàn diện về sự biến động của luồng tiền trong doanh nghiệp.Nó cho biết luồng tiền đã được sinh ra bằng cách nào và doanh nghiệp đã sử dụng chúng trong kỳ báo cáo ra sao. Hơn nữa, BCLCTT còn cung cấp các thông tin tài chính quan trọng cho việc phân tích đánh, giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp mà cụ thể hơn là thực trạng của quá trình lưu chuyển của luồng tièn trong kỳ đã qua và làm cơ sở để đưa những dự đoán tài chính cho tương lai cũng như đưa ra các quyết định trong việc điều hành và quản lý doanh nghiệp. 2.Yêu cầu của việc lập BCLCTT. Như trên đã trình bày,BCLCTT là một trong những báo cáo điển hình của hệ thống báo cáo tài chính vậy nên khi các doanh nghiệp sử dụng báo cáo này đòi hỏi phải đảm bảo được những yêu cầu cơ bản sau: _Các chỉ tiêu trong báo cáo phải thống nhất với các chỉ tiêu kế hoạch về cả nội dung và phương pháp tính toán. _Báo cáo phải được lập theo đúng mẫu quy định và gửi đến những nơi nhận báo cáo trong thời hạn quy định.Thông thường thời hạn gửi báo cáo là phụ thuộc vào loại hình báo cáo và doanh nghiệp lập báo cáo.
  5. ví dụ: Đối với báo cáo quý (thường được áp dụng cho các DNNN) +Các doanh nghiệp hoạt động theo phương thức hạch toán độc lập, hạch toán phụ thuộc tổng công ty và các doanh nghiệp hạch toán độc lập không nằm trong công tổng công ty,thì thời hạn nộp báo cáo quý chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày kết thúc quý. +Các tổng công ty thời hạn gửi báo cáo quý chậm nhất là sau 45 ngày kể từ ngày két thúc quý. _Đối với báo cáo năm: +Các doanh nghiệp nhà nước hoạch toán độc lập và hoạch toán phụ thuộc tổng công ty và các doanh nghiệp haọch toán độc lập không nằm trong tổng công ty thì thời hạn gửi báo cáo năm chậm nhất là sau 30 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính. +Các tổng công ty thời hạn gửi báo cáo năm chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính. +Các doanh nghiệp tư nhân thời hạn gửi báo cáo chậm nhất là 30 ngày kẻ từ ngày kết thúc năm tài chính. +Các công ty TNHH,công ty cổ phần,doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình hợp tác xã thì thời hạn gửi báo cáo năm chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính. Nơi nhận báo cáo tài chính của các doanh nghiệp là các cơ quan chức năng có thẩm quyền như: cơ quan tài chính, doanh nghiệp cấp trên, cơ quan thuế... II. Nội dung và phương pháp lập BCLCTT. 1.Nội dung của BCLCTT. Hệ thống chế độ kế toán ban hành theo quyết định số 1141 /TC /QĐ /CĐKT ra ngày 1/11/1995 đã đưa ra quy định chung về mẫu thống nhất của BCLCTT được áp
  6. dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực hoạt động kinh doanh, mọi thành phần kinh tế trong cả nước bao gồm 3 nội dung cơ bản sau:  Báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh  Báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư  Báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ các hoạt động tài chính khác. a. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Như đã biết, các luồng tiền chu chuyển vào_ra doanh nghiệp từ hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu là bắt nguồn từ các hoạt động sinh lời cơ bản của doanh nghiệp,ví dụ như: tiền nhận được từ hoạt động bán hàng, tiền thu từ hoạt động cung cấp các dịch vụ tư vấn, cho thuê nhãn hiệu bản quyền ... Do vậy, nhìn chung luồng tiền này chủ yếu là kết quả của các hoạt động giao dịch gắn liền với việc xác định lãi hoặc lỗ ròng của doanh nghiệp.Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. b. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư phản ánh toàn bộ các luồng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. ví dụ: tiền doanh nghiệp dùng để đầu tư trực tiếp vào nội bộ như đầu tư mua cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định... ; hoặc tiền doanh nghiệp dùng để đầu tư ra bên ngoài như: góp vốn liên doanh, đầu tư chứng khoán, cho vay ngắn hạn hay dài hạn...Và ứng với mỗi hoạt động đầu tư trên luôn có những luồng tiền lưu chuyển phản ánh từ hoạt động đầu tư, nó có thể bao gồm các khoản sau: _ Các khoản chi trả tiền mua nhà xưởng, máy móc, thiết bị, tài sản vô hình, các tài sản dài hạn khác liên quan đến các chi phí tăng đã được vốn hoá và các nhà xưởng máy móc thiết bị tự tạo; các khoản tiền nhận từ việc bán các nhà xưởng, máy móc thiết bị, tài sản vô hình và các tài sản dài hạn khác.
  7. _ Trả tiền để mua cổ phần hay các công cụ nợ của các doanh nghiệp khác và lợi tức trong các liên doanh; tiền thu từ việc bán lại cổ phần hay các công cụ nợ từ các doanh nghiệp khác và lợi tức trong các liên doanh. _ Tiền trả cho các hợp đồng trong tương lai, tiền thu từ các hoạt động trong tương lai, các hợp đồng có kỳ hạn... Như vậy thông qua báo cáo chi tiết về lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư, doanh nghiệp cũng như các cơ quan chủ quản có thể nhanh chóng nắm bắt được tình hình sử dụng vốn tiền tệ dùng cho tất cả các hoạt động đầu tư từ nội bộ cho đến đầu tư kiếm lợi bên ngoài của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh,và qua đó giúp cho doanh nghiệp có được những định hướng phù hợp về đầu tư trong tương lai. c. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ các hoạt động tài chính khác. Nếu việc tách biệt các luồng tiền phát sinh từ các hoạt động đầu tư thể hiện phạm vi mà các chi phí đã được thực hiện cho các nguồn dự định sẽ tạo ra lợi nhuận và các luồng tiền trong tương lai, thì việc tách biệt các luồng tiền từ các hoạt động tài chính sẽ rất hữu dụng trong việc dự đoán các khoản tiền mà những người cung cấp vốn cho doanh nghiệp đòi hỏi trong các luồng tiền tương lai. Các luồng tiền phát sinh từ các hoạt động tài chính bao gồm: tiền ròng thu được từ việc phát hành cổ phiếu hay các công cụ về vốn khác; tiền trả cho các chủ sở hữu để mua hay thanh toán các cổ phiếu của doanh nghiệp; tiền thu được từ việc phát hành trái phiếu, thương phiếu, tín phiếu và các khoản vay ngắn hạn hay dài hạn khác... Để theo dõi chính xác sự di chuyển của các luồng tiền phát sinh từ hoạt động này đòi hỏi doanh nghiệp phải tiến hành lập báo cáo riêng biệt các loại chính của tổng số tiền thu được cũng như tổng số tiền phải chi phát sinh từ các hoạt động đầu tư tài chính. Trong doanh nghiệp, ngoài các hoạt động chính phát sinh từ hoạt động kinh doanh, đầu tư hay tài chính, đôi khi các luồng tiền phát sinh liên quan đến các khoản mục bất thường, hay những trường hợp được xem là đặc biệt như các luồng tiền có nguồn gốc từ ngoại tệ, các vấn để phát sinh từ lãi vay và cổ tức, vấn đề góp vốn vào các xí nghiệp và các hoạt động mua bán cổ phần giữa các xí nghiệp, các cơ sở kinh
  8. doanh khác.Các luồng tiền liên quan đến các khoản mục này được thuyết trình riêng biệt với các khoản mục phát sinh từ các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư hay hoạt động tài chính trong BCLCTT nhằm giúp cho người sử dụng có thể hiểu được bản chất và ảnh hưởng của chúng tới luồng tiền của các doanh nghiệp hiện tại và trong tương lai. Ngoài ba nội dung bắt buộc phải có có trong mọi BCLCTT trên thì các doanh nghiệp cũng nên cung cấp thêm những thông tin khác mặc dù không mang tính chất bắt buộc, chẳng hạn như:việc bổ xung thêm các thuyết trình về các thông tin này sẽ giúp cho người sử dụng báo cáo tài chính đánh giá được dễ dàng hơn tình hình tài chính tiền tệ của doanh nghiệp, cũng như đáp ứng được mục đích cần quan tâm. Hơn nữa qua các thông tin bổ xung, người sử dụng cũng có thể biết rõ hơn về mối quan hệ giữa các luồng tiền tổng thể trong doanh nghiệp và các luồng tiền của từng thành phần cấu thành trong doanh nghiệp. 2. Phương pháp lập BCLCTT. Theo chế độ kế toán hiện hành,thời điểm lập bảng BCLCTT thường là cuối ngày của ngày cuối quý và cuối ngày của ngày cuối năm. Tuy nhiên ngoài thời điểm theo quy định trên doanh nghiệp cũng có thể lập bảng báo cáo ở những thời điểm khác phục vụ cho yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.Và cũng theo chế độ kế toán này thì BCLCTT sẽ được lập theo 2 phương pháp,đó là: phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp. Cả hai phương pháp này đều có những những nguyên tắc,những ưu nhược điểm riêng nên tuỳ theo điều kiện hiện có của mình mà các doanh nghiệp sẽ tự xác định cho mình một phương pháp phù hợp. Bởi vì việc lựa chọn cho được phương pháp phù hợp không chỉ giúp doanh nghiệp đơn giản hoá công việc kế toán,giảm thiểu chi phí mà còn giúp cho doanh nghiệp nắm bắt, đánh giá một cách chính xác những ảnh hưởng của các nội dung trong BCLCTT đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, cũng như đánh giá mối liên hệ giữa các nội dung, các hoạt động trong doanh nghiệp một cách hiệu quả nhất.
  9. a. Phương pháp trực tiếp. Phương pháp trực tiếp: phương pháp này trình bày chi tiết tổng các khoản tiền thu và tổng các khoản tiền chi mà doanh nghiệp đã thực hiện trong kỳ. Dòng tiền mặt của hoạt động kinh doanh thể hiện sự khác nhau giữa các khoản thu, các khoản chi tiền mặt như là các khoản thu từ bán hàng, lợi tức nhận được và các khoản chi thanh toán lương, chi phí hàng hoá dịch vụ mua vào, lãi tiền vay, thuế... Phương pháp trực tiếp cung cấp các thông tin chính xác hơn trong việc dự đoán các luồng tiền trong tương lai và các thông tin này không thể có được từ phương pháp gián tiếp. Đối với lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh (I): A.Tổng thu = (1)+(2)+(3) Trong đó: 1 Là tiền thu từ hoạt động bán hàng 2 Là tiền thu từ các khoản nợ phải thu 3 Là tiền thu từ các khoản khác B. Tổng chi =(1)+(2)+(3)+(4)+(5) Trong đó: 1 Là tiền đã trả cho người bán 2 Là tiền đã trả cho công nhân viên 3 Là tiền đã nộp thuế và các khoản khác cho nhà nước 4 Là tiền đã trả cho các khoản nợ khác 5 Là tiền đã trả cho các khoản khác
  10. Đối với lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư (II): A. Tổng số tiền thu vào từ các hoạt động đầu tư =(1)+(2)+(3) B. Là tiền thu từ lãi các khoản đầu từ vào đơn vị khác (lợi tức, cổ tức v.v..) C. Là tiền thu hồi các khoản đầu tư vào đơn vị khác D. Là tiền thu do bán TSCĐ B.Tổng số tiền chi ra từ các hoạt động đầu tư =(1)+(2)+(3) 1.Tiền đầu tư vào các đơn vị khác 2.Tiền mua TSCĐ 3. Tiền chi cho hoạt động thanh lý nhượng bán TSCĐ Đối với lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính khác(III). A. Tổng số tiền thu từ hoạt động tài chính =(1)+(2)+(3) 1. Tiền thu do đi vay 2. Tiền thu do các chủ sở hữu đóng góp 3. Tiền thu từ lãi tiền gửi, thu từ việc phát hành cổ phiếu, thu từ các khoản vay dài hạn B. Tổng số tiền chi từ hoạt động tài chính =(1)+(2)+(3) 1. Tiền đã trả nợ vay 2. Tiền lãi đã trả cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp 3. Trả nợ thuê tài chính Tổng lưu chuyển tiền thuần trong kỳ =(I)+(II)+(III).
  11. Hiện nay,các doanh nghiệp Việt Nam được khuyến khích sử dụng phương pháp lập trực tiếp cho việc báo các các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh. Vì các khoản mục trong báo cáo theo phương pháp trực tiếp được lập một cách chi tiết rõ ràng hơn so với báo cáo được lập theo phương pháp gián tiếp, và nó phù hợp với mọi loại hình, quy mô và hình thức kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. b. Phương pháp gián tiếp. Phương pháp gián tiếp:điều kiện để doanh nghiệp áp dụng phương pháp này là dựa trên sự phù hợp giữa lợi nhuận ròng với các dòng tiền mặt khác của hoạt động kinh doanh. Chẳn hạn như lợi nhuận ròng của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh phải phù hợp với các thay đổi trong kỳ về hàng tồn kho,các khoản phải thu, phải trả từ hoạt động kinh doanh và các khoản mục phaỉ trích bằng tiền khác như:quỹ khấu hao, quỹ dự phòng, khoản thực hiện do chuyển đổi ngoại tệ, lợi nhuận chưa phân phối, các khoản lợi tức cổ phần... tiếp đó là những ảnh hưởng từ việc điều chỉnh khoản bằng tiền mặt đối với lợi nhuận ròng được tính toán đến. Đối với luồng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh (I): A. Lợi nhuận trước thuế Điều chỉnh cho: B. Cộng các khoản: 1. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ lớn hơn số dư đầu kỳ của các tài khoản phản ánh dự phòng 2. Khấu hao TSCĐ 3. Lỗ do bán TSCĐ 4. Lỗ do đầu tư vào đơn vị khác 5. Lỗ do đánh giá lại tài sản và chuyển đổi tiền tệ
  12. C. Trừ các khoản: 1. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ nhỏ hơn số dư đầu kỳ của các tài khoản phản ánh dự phòng 2. Thu lãi tiền gửi 3. Lãi do bán TSCĐ 4. Lãi do đầu tư vào đơn vị khác 5. Lãi do đánh giá lại TSCĐ D. Lợi nhuận kinh doanh trước những thay đổi của vốn lưu động (=A+B-C) E. Cộng các khoản sau: 1. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ nhỏ hơn đầu kỳ của các khoản phải thu 2. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ nhỏ hơn đầu kỳ của hàng tồn kho 3. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ lớn hơn đầu kỳ của các khoản phải trả 4. Tiền thu từ các khoản khác F. Trừ các khoản sau: 1. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ lớn hơn đầu kỳ của các khoản phải thu 2. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ lớn hơn đầu kỳ của hàng tồn kho 3. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ nhỏ hơn đầu kỳ của các khoản phải trả 4. Tiền chi từ các khoản khác. G. Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh (=D+E+F) Đối với lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư (II): A. Tổng số tiền thu vào từ hoạt động đầu tư =(1)+(2)+(3)
  13. 1. Tiền thu hồi các khoản đầu tư vào đơn vị khác 2. Tiền thu từ lãi các khoản đầu tư vào đơn vị khác (lợi tức, cổ tức...) 3. Tiền thu do bán TSCĐ B. Tổng số tiền chi ra từ hoạt động đầu tư =(1)+(2)+(3) C. Tiền đầu tư vào các đơn vị khác 1. Tiền mua TSCĐ 2. Tiền chi cho hoạt động thanh lý, nhượng bán TSCĐ Đới với lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính khác (III): A. Tổng số tiền thu từ hoạt động tài chính 1. Tiền thu do đi vay 2. Tiền thu do các chủ sở hữu đóng góp 3. Tiền thu từ lãi tiền gửi, thu từ việc phát hành cổ phiếu, thu từ các khoản vay dài hạn B. Tổng số tiền chi từ hoạt động tài chính =(1)+(2)+(3) 1. Tiền đã trả nợ vay 2. Tiền lãi đã trả cho các nhà đầu tư vào doanh nghiệp 3. Trả nợ thuê tài chính... Tổng lưu chuyển tiền thuần trong kỳ =(I) + (II) + (III). Như vậy, nội dung của một BCLCTT đã phản ánh một cách tổng quát toàn bộ những vấn đề liên quan về tài chính trong một doanh nghiệp, đáp ứng được khá nhiều
  14. thông tin mà ngay chính bản thân doanh nghiệp cũng như những người cần quan tâm tới tình hình tài chính của doanh nghiệp có thể tìm thấy. 3. Vai trò của BCLCTT trong nền kinh tế thị trường. a. Công cụ phân tích vốn bằng tiền. Vốn là yếu tố cơ bản và tiên quyết để duy trì và phát triển sản xuất, đồng thời là cơ sở để phân phối lợi nhuận và đánh giá hiệu quả các hoạt động kinh tế. Vốn tồn tại ở nhiều dạng khác nhau chẳng hạn như: nhà xưởng,đất đai, bằng phát minh sáng chế... nhưng trong đó vốn bằng tiền đóng vai trò quan trọng hơn cả. Do vậy việc theo dõi và điều tiết quá trình hình thành và sử dụng lượng vốn bằng tiền trong doanh nghiệp là rất quan trọng.BCLCTT được lập ra trước hết được sử dụng như một công cụ để phân tích vốn bằng tiền. Vốn bằng tiền là một bộ phận tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp. Nó tham gia vào hầu hết các hoạt động của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn bằng tiền được sử dụng để đáp ứng nhu cầu về thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hoặc mua sắm vật tư, hàng hoá đồng thời là kết quả của việc mua bán hoặc thu hồi các khoản nợ. Qua phân tích tình hình sử dụng vốn bằng tiền, chúng ta có thể biết được chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. Và để tìm hiểu tình hình sử dụng vốn bằng tiền trong kỳ chúng ta có thể đánh giá tình hình thanh toán với người bán, thanh toán với người mua, thanh toán với ngân sách, tìm hiểu các khoản nợ quá han... Việc đánh giá các khoản mục liên quan đến các dòng tiền mặt sẽ giúp cho việc phân tích những gì đã xảy ra liên quan đến tình hình sử dụng vốn tiền mặt trong kỳ và vấn đề này chỉ có thể được giải quyết khi doanh nghiệp lập BCLCTT. Về tổng quát, sự vận động của tiền mặt bao gồm hai mặt: tăng và giảm hay nói cách khác là thu và chi. BCLCTT cung cấp những con số phản ánh sự vận động của tiền. Thông tin cơ bản nhất mà chúng ta thu được từ BCLCTT là lượng tiền tăng và giảm trong kỳ. Nhưng điều quan trọng hơn là thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa các con số, người quản lý biết được những nguyên nhân, những biến động làm ảnh hưởng đến tình hình tăng, giảm vốn tiền mặt đó. Thực tế thì sự tăng giảm tiền mặt
  15. của doanh nghiệp có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Chẳng hạn như tiền mặt tăng có thể là kết quả của việc tiêu thụ sản phẩm hay việc thu được các khoản nợ hoặc cũng có thể là từ việc bán các tài sản cố định... Tương tự như vậy, tiền mặt giảm trong kỳ có thể là do chi mua hàng, chi mua sắm các tài sản cố định hay trang trải các khoản nợ... Mặt khác, việc phân chia luồng tiền trên BCLCTT theo từng lĩnh vực hoạt động cũng đem lại cho chúng ta những thông tin hữu ích. Nó cho biết tỷ lệ đóng góp của từng lĩnh vực hoạt động vào vốn bằng tiền của doanh nghiệp. Đối với bất cứ doanh nghiệp nào thì việc phân tích chính xác về sự hình thành và sử dụng vốn bằng tiền cũng rất quan trọng. Người quản lý cần phải nắm được luồng tiền vào_ ra của doanh nghiệp đã hợp lý hay chưa để có sự điều chỉnh kịp thời, phù hợp. Tóm lại, BCLCTT thực sự là một công cụ phân tích tài chính hữu ích. Nó cung cấp những thông tin quan trọng cho những người quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Trong điều kiện hiện nay, người quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp rất đa dạng. Đó không chỉ là người quản lý doanh nghiệp, các cơ quan quản lý chức năng mà còn là những nhà đầu tư, các nhà cung cấp tính dụng, công nhân viên, các kiểm toán viên độc lập... BCLCTT có thể giúp họ có được những quyết định đúng đắn, hợp lý nhất. b. BCLCTT là cơ sở để ra các quyết định về tài chính. Báo cáo tài chính nói chung và BCLCTT nói riêng là nguồn thông tin quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn phục vụ chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như:các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà đầu tư, các nhà cung cấp tín dụng, kiểm toán viên độc lập... Do vậy, việc so sánh báo cáo giữa các doanh nghiệp là rất quan trọng trong việc đưa ra quyết định đối với các đối tượng sử dụng báo cáo của doanh nghiệp. Đối với người quản lý doanh nghiệp, BCLCTT cung cấp những thông tin quan trọng về việc hình thành và sử dụng lượng tiền trong kỳ báo cáo, những nguy cơ cũng như triển vọng về mặt tài chính của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, người quản lý doanh
  16. nghiệp phân tích, đánh giá những tồn tại và phát hiện khả năng tiềm tàng để ra các quyết định quản trị tài chính doanh nghiệp đúng đắn và có hiệu qủa nhất. Ngoài ra, các nhà quản lý cũng có thể sử dụng BCLCTT để thông báo cho các nhà đầu tư, các chủ nợ, các cơ quan nhà nước, công nhân viên... biết được tình hình tài chính của doanh nghiệp mình, qua đó thuyết phục các đối tượng có liên quan có các quyết định hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong tương lai. Đối với các cơ quan quản lý chức năng của nhà nước, BCLCTT cung cấp thông tin cần thiết giúp cho việc thực hiện chức năng quản lý vỹ mô của nhà nước đối với nền kinh tế. Chẳng hạn, nhà nước dựa vào BCLCTT để có những chính sách phù hợp đối với từng doanh nghiệp hoặc từng khu vực kinh tế như các chương trình tài trợ hay cấp vốn... Ngoài ra, nó còn là nguồn số liệu quan trọng để cơ quan thống kê tính toán các chỉ tiêu tổng hợp từng ngành, từng địa phương cũng như cả nước, giúp cho các cơ quan tài chính nhà nước thực hiện việc kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất đối với hoạt động của doanh nghiệp. Đối với các nhà đầu tư như:các đối tác tham gia liên doanh, các cổ đông thì dựa vào BCLCTT của doanh nghiệp để đánh giá khả năng tài chính của doanh nghiệp để họ đưa ra các quyết định sử dụng vốn đầu tư hợp lý trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi. Đối với các nhà cung cấp tín dụng, hàng hoá thì thông tin trên BCLCTT lại là nguồn số liệu quan trọng để họ phân tích đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp, từ đó họ có quyết định về phương thức cho vay, phương thức thanh toán hợp lý đối với doanh nghiệp. Đối với công nhân viên của doanh nghiệp, BCLCTT là cơ sở để họ đánh giá tính hợp lý của các khoản thu nhập mà họ được hưởng. Như vậy, BCLCTT là một yếu tố quan trọng đối với doanh nghiệp, đối với những cá nhân tổ chức có liên quan bởi vì nó cung cấp những thông tin quan trọng về tình hình và khả năng tài chính của doanh nghiệp, từ đó mà có được những quyết định đúng đắn. Ngoài ra, việc so sánh BCLCTT giữa các doanh nghiệp cũng giúp họ có
  17. những nhận xét xác đáng về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp để đưa ra các quyết định hợp lý đối với từng doanh nghiệp. PHầN ii THựC TRạNG VIệC LậP Và Sử DụNG BCLCTT ở CáC DOANH NGHIệP VIệT NAM HIệN NAY I. Sự cần thiết phải lập BCLCTT ở các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
  18. 1. Lập BCLCTT sẽ cung cấp được các thông tin về các luồng tiền vào và ra, tỷ trọng của các luồng tiền này trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính. BCLCTT là một trong những báo cáo tài chính không thể thiếu được đối với các doanh nghiệp ở những nước có nền kịnh tế thị trường đã và đang phát triển. Thật vậy, khi mà BCĐKT cho biết những nguồn lực tài sản và nguồn gốc của những tài sản đó và BCKQKD cho biết thu nhập và chi phí phát sinh để tính được kết qủa lãi, lỗ trong một kỳ thì BCLCTT được lập để trả lời các vấn đề liên quan đến các luồng tiền vào, ra trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ, đầu tư bằng tiền của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Mặt khác,BCLCTT cung cấp những thông tin về luồng vào, ra của tiền và các khoản coi như tiền, những khoản đầu tư ngắn hạn có tính lưu động cao, có thể nhanh chóng và sẵn sàng chuyển đổi thành một khoản tiền biết trước ít chịu rủi ro lỗ về giá trị do những sự thay đổi về lãi suất. Những luồng vào_ ra của tiền và các khoản tương đương tiền như ta đã biết được trong tổng hợp và chia thành 3 nhóm: lưu chuyển tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh, từ hoạt động đầu tư và từ hoạt động tài chính. Những con số trên BCLCTT sẽ giúp cho người sử dụng thông tin kế toán của doanh nghiệp có quyết định đúng đắn, từ đó nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài trong trường hợp doanh nghiệp có lợi thế về khả năng tài chính hoặc kịp thời có chính sách điều chỉnh nếu tình hình tài chính của doanh nghiệp không được như mong muốn. 2. BCLCTT là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp có thể nhận được các khoản vốn đầu tư từ nước ngoài. Hiện nay, nước ta đang trong quá trình phát triển và hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Vì vậy cùng với công cuộc cải cách hoàn thiện chung của tất cả các lĩnh vực khác trong nền kinh tế,hệ thống kế toán ở nước ta cũng đã và đang được cải cách triệt để toàn diện,nhất là hệ thống chứng từ báo cáo tài chính nhằm đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe nhất từ phía thị trường. ở những nước có nền kinh tế phát
  19. triển thì từ lâu BCLCTT đã là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc đối với mọi doanh nghiệp. Do vậy, trong khi hợp tác, liên doanh, liên kết với mước ngoài thì các doanh nghiệp phải tuân theo sự thoả thuận của hai bên trong đó hầu hết các chủ đầu tư nước ngoài đều đòi hỏi doanh nghiệp phải lập BCLCTT nhằm phù hợp với quy định của nước họ đồng thời có thể cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp cho tất cả những cổ đông đã góp vốn đầu ra vào doanh nghiệp. 3. BCLCTT là cơ sở để đánh giá thực trạng khả năng tài chính của doanh nghiệp. BCLCTT là một công cụ phân tích vốn bằng tiền rất hữu hiệu hiện nay. Thông qua các tỷ số tài chính ta có thể thấy tình hình tài chính phụ thuộc quá nhiều vào thời điểm tính của công việc chuẩn bị báo cáo tài chính và như vậy có thể có những đánh giá không trung thực về thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong một giai đoạn, một thời kỳ phân tích. Trong khi đó các tỷ số tiền mặt lại ổn định hơn nhiều vì phần lớn các khoản mục trên BCLCTT là kết quả của một quá trình được tích luỹ trong suốt một kỳ báo cáo. Vì vậy, các tỷ số tiền mặt phản ánh tương đối đầy đủ những gì đã xảy ra ảnh hưởng đến tài khoản “tiền mặt” trong một kỳ phân tích. Ngoài ra, phân tích tình hình sử dụng vốn bằng tiền còn là một bộ phận của phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp. Như vậy có thể nhận thấy rằng những thông tin từ BCLCTT và các báo cáo tài chính khác giúp người sử dụng phân tích, đánh giá khả năng tạo ra các luồng tiền trong tương lai, sự biến động tài sản thuần của doanh nghiệp, khả năng chi trả cổ tức, khả năng thanh toán các khoản nợ cũng như tình hình lưu chuyển tiền của kỳ tiếp theo. Trên cơ sở đó, dự đoán được nhu cầu và khả năng tài chính của doanh nghiệp. 4. BCLCTT rút ngắn khoảng cách giữa hệ thống kế toán Việt Nam với hệ thống kế toán quốc tế. So với hệ thống kế toán của các nước trên thế giới thì hệ thống kế toán Việt Nam vẫn là một hệ thống còn rất non trẻ. Do vậy, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập với thế giới thì càng cần phải thúc đầy quá trình cải cách hệ thống kế toán diễn ra một các mạnh mẽ hơn nữa. BCLCTT có thể được coi là một trong những công cụ làm
  20. cầu nối trung gian cho sự hoà nhập này. Hiện nay, không chỉ các nước có nền kinh tế phát triển mà ngay cả các nước trong khu vực cũng đã có quy đinh bắt buộc về việc lập BCLCTT trong hệ thống báo cáo kế toán. Do đó, lập BCLCTT là một hình thức phù hợp để Việt Nam rút ngắn thời gian và khoản cách hội nhập với thế giới. Thông qua các chương trình, dự án đầu tư vào nước mình, Việt Nam có thể ngày càng hoàn thiện hệ thống kết toán của mình để phù hợp với xu thế của thời đại và BCLCTT là một yếu tố không thể thiếu được trong sự phát triển này. II.Thực trạng việc lập BCLCTT hiện nay ở Việt Nam. BCLCTT với chức năng cung cấp thông tin về các vấn đề liên quan đến các luồng tiền vào_ra trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ đầu tư bằng tiền của doanh nghiệp trong từng thời kỳ đã trở thành một trong các báo cáo quan trọng đối với các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực. Tiền và các khoản có thể chuyển hoá ngay thành tiền có liên quan đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp và nhiều hoạt động khác, ví dụ: Nếu lượng tiền mặt trong doanh nghiệp quá lớn sẽ làm vốn doanh nghiệp bị tồn đọng không thúc đẩy quá trình quay vòng vốn làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị trì trệ,nhưng nếu doanh nghiệp duy trì lượng tiền tồn quá nhỏ sẽ làm doanh nghiệp bị hạn chế trong thanh toán và không nắm được các cơ hội đầu tư trong điều kiện cạnh tranh. Bởi vậy, việc lập ra một báo cáo kế toán theo dõi,kiểm soát tình hình sử dụng vốn bằng tiền của doanh nghiệp là điều rất cần thiết. Hiện nay, một số công ty lớn của Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của BCLCTT nhưng do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau nên việc đưa BCLCTT vào sử dụng vẫn chưa được phổ biến một cách rộng rãi. Phần lớn các công ty lập BCLCTT đều là công ty 100% vốn nước ngoài hoặc công ty liên doanh có sự tham gia góp vốn của nước ngoài. Còn các doanh nghiệp trong nước chủ yếu chú trọng vào các báo cáo bắt buộc như bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh. Họ cũng có sự lưu tâm đến vốn bằng tiền nhưng chỉ lấy thông tin từ các khoản mục về tiền trong bảng cân đối kế toán chứ không tiến hành lập riêng một báo cáo kế toán chuyên dùng theo dõi sự di chuyển ra_vào của luồng tiền. Ta có thể thấy rõ sự quan tâm này là chưa đúng mức vì bảng cân đối kế toán chỉ cung cấp những thông tin từ các
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2