intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Những chuyển biến tâm lý xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức thành phố Hà Nội và Hải Dương trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

Chia sẻ: Nguyen Uyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:91

0
108
lượt xem
27
download

LUẬN VĂN: Những chuyển biến tâm lý xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức thành phố Hà Nội và Hải Dương trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm xây dựng xó hội theo mục tiờu: “ Dõn giàu, nước mạnh, xó hội cụng bằng, dõn chủ, văn minh” mà Đảng và Nhân dân ta đang tiến hành từ nền kinh tế thị trường theo định hướng xó hội chủ nghĩa trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, đang đặt đội ngũ cán bộ, công chức nước nhà trước những cơ hội, những thuận lợi mới, song cũng không ít thử thách, khó khăn, phức tạp. Cựng với sức mạnh toàn dõn tộc trong tiến trỡnh lịch...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Những chuyển biến tâm lý xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức thành phố Hà Nội và Hải Dương trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

  1. LUẬN VĂN: Những chuyển biến tâm lý xó hội của đội ngũ cán bộ, công chức thành phố Hà Nội và Hải Dương trong quá trỡnh hội nhập quốc tế hiện nay
  2. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm xây dựng xó hội theo mục tiờu: “ Dõn giàu, nước mạnh, xó hội cụng bằng, dõn chủ, văn minh” mà Đảng và Nhân dân ta đang tiến hành từ nền kinh tế thị trường theo định hướng xó hội chủ nghĩa trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, đang đặt đội ngũ cán bộ, công chức nước nhà trước những cơ hội, những thuận lợi mới, song cũng không ít thử thách, khó khăn, phức tạp. Cựng với sức mạnh toàn dõn tộc trong tiến trỡnh lịch sử xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, Đảng và Nhân dân ta luôn coi trọng và đặt niềm tin vào đội ngũ cán bộ, công chức – lực lượng nũng cốt của sự nghiệp cỏch mạng. Thực tiễn nhiều thập kỷ qua và hiện nay đó, đang khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Ý thức được vai trũ quan trọng của đội ngũ cán bộ cán bộ, công chức nhà nước, góp phần vào xây dựng thành công chủ nghĩa xó hội trong điều kiện hội nhập và hợp tác quốc tế hôm nay, Đảng và chính phủ chủ trương tiến hành công cuộc cải cách hành chính, trong đó cải cách cán bộ, công tác cán bộ là một trong bốn trọng điểm (Bộ máy; thể chế; cán bộ; tài chính công). Nhận thức và quán triệt sâu sắc di huấn của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, đội ngũ cán bộ, công chức nước ta trong nhiều chục năm qua đó cú những đóng góp đáng kể vào sự nghiệp xây dựng xó hội theo định hướng xó hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhân dân đó giao phú. Khụng thể khụng thừa nhận rằng: trong những thành tựu kinh tế - xó hội đó đạt được, nhất là từ thời kỳ đổi mới đến nay ở nước ta, có sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ, công chức, trong đó đặc biệt nói đến tính tiên phong, gương mẫu, luôn không ngừng phấn đấu trau dồi năng lực, nâng cao phẩm chất, rèn luyện ý chớ, tỏc phong làm việc đáp ứng yêu cầu thực tiễn mới là những nhân tố tâm lý đắc lực nhất giúp đội ngũ cán bộ, công chức có được những thành tích đáng kể đó. Trở thành thành viên chính thức trong tổ chức thương mại thế giới (WTO) và sự hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu, càng đặt đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước vào nhiệm vụ, vị thế và những trọng trách mới, thuận lợi có, song khó khăn, thử thách cũng không ít. Thực tế đang cho thấy: hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay vẫn
  3. đang cũn là vấn đề mới mẻ, có tính bước ngoặt trên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống kinh tế - xó hội núi chung, dẫn đến làm thay đổi một cách vừa có tích cực vừa tiờu cực về tõm lý, tỏc phong và lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ công chức. Để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay và những năm tiếp theo, hơn lúc nào hết, đội ngũ cán bộ công chức nhà nước càng phải nỗ lực nhiều hơn nữa, phát huy vai trũ tiờn phong, gương mẫu nhiều hơn nữa, mà trước hết phải bắt đầu từ nội lực, trong đó lấy sự nhận diện đúng tâm lý và diễn biến tõm lý là một trong những nhõn tố “căn cốt” nhất. Qua khảo sát thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức trước tiến trỡnh hội nhập quốc tế trong điều kiện kinh tế thị trường của một số địa phương ở nước ta cho thấy: Sự nghiệp đổi mới gần hai mươi nhăm năm qua (1986 - 2010) có sự chuyển biến sâu sắc trong đời sống tâm lý được biểu hiện qua nhận thức, thái độ, hành vi của đội ngũ cán bộ, công chức do chịu sự tác động mạnh của quá trỡnh chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng xó hội chủ nghĩa, nhất là trong thời kỳ hội nhập quốc tế trong nhữn g năm gần đây. Trong những chuyển biến tâm lý đó, có sự sàng lọc, bổ sung, và phỏt huy giữa tõm lý truyền thống với đương đại; giữa bản địa với sự du nhập các nước trên thế giới và khu vực. Cũng trong sự chuyển biến tâm lý đó, có những đặc điểm tâm lý truyền thống có giá trị đang được kế thừa, phát huy trong hiện tại, cũng có những đặc điểm tâm lý trong truyền thống được lưu giữ sang hiện tại nhưng không cũn phự hợp, trở thành lực cản, kỡm hóm sự phỏt triển như một phản giá trị cần được loại bỏ và thay thế. Đồng thời, cùng với sự giao lưu, hội nhập, trong tâm lý đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước hôm nay cũng đang du nhập và hỡnh thành những tõm lý mới…Điều đó có ảnh hưởng nhất định đến quỏ trỡnh trau dồi năng lực, tu dưỡng phẩm chất, rèn luyện phong cách đáp ứng yêu cầu thực tiễn hội nhập quốc tế của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Trong những nghiên cứu gần đây về xu hướng chuyển biến tõm lý xó hội núi chung, đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng, ý nghĩa cần thiết không phải chỉ xác định những tác động của môi trường khách quan, mà quan trọng hơn là cần phải nhận diện đúng nguyên nhân, và tính chất biểu hiện của diễn biến tâm lý trước sự tác động của môi trường ngoại cảnh đó. Trước những chuyển biến tâm lý xó hội theo hướng tích cực của đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay, cũn có những đặc điểm tâm lý đó “định hỡnh” là do hoặc từ sự “hoài niệm truyền thống như một giá trị”, hoặc do thói quen, kinh nghiệm làm ảnh hưởng nhất định đến quá trỡnh cụng tỏc của họ trước những yêu
  4. cầu thực tiễn trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, trong đời sống tâm lý đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước cũng đang bộc lộ những biểu hiện tõm lý xó hội mới do sự tác động của hội nhập quốc tế mà được hỡnh thành trờn hai khớa cạnh: tự phát và tự giác. Sự chuyển biến và hỡnh thành tõm lý mới một cỏch tự phỏt nghĩa là: từ những quan sát, nhận thấy được và lĩnh hội do tiếp xúc trực tiếp với những diễn biến hàng ngày của thực tiễn hội nhập. Sự chuyển biến và hỡnh thành tõm lý mới theo hướng tự giác nghĩa là tính chủ động của quỏ trỡnh chớnh trị thụng qua các hệ thống giáo dục, đào tạo và các “kênh” truyền thông đại chúng có tổ chức. Sự chuyển biến tâm lý xó hội mang tớnh tự phỏt và tự giỏc này cũng cú những biểu hiện tõm lý tớch cực và tiờu cực. Xu hướng chuyển biến tâm lý xó hội như đó khỏi quỏt là vấn đề có tính quy luật tâm lý xó hội với nghĩa là sự phản ỏnh khỏch quan trờn cơ sở hiện thực xó hội và chịu sự quy định của thực tiễn xó hội trong xu thế phỏt triển tất yếu của hiện thực. Trong những chuyển biến tõm lý xó hội chung đó, đội ngũ cán bộ, công chức thành phố Hà Nội và Hải Dương chịu sự ảnh hưởng đáng kể, trước hết từ tớnh chất, vị thế và bối cảnh tự nhiờn – xó hội trước tiến trỡnh hội nhập, đặc biệt là thành phố Hà Nội. Qua quan sát, nghiên cứu thực tế cho thấy: Hà Nội và Hải Dương từ khi hội nhập có những phát triển khá mạnh và toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - xó hội của địa phương. Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa… của các nước - Hà Nội là một trong những thành phố có tốc độ phát triển cao, đặc biệt có sự sát nhập Hà Tây được xác định thành phố đa chức năng. Nằm trên trục đường 5 nối Hà Nội và hầu hết các địa phương trên địa bàn cả nước với Hải Phũng – trung tâm giao thông cảng biển phía bắc tổ quốc, Thành phố Hải Dương bước vào hội nhập với những tốc độ phát triển đáng khích lệ đặc biệt trên hai phương diện: mở mang, chỉnh trang đô thị xứng đáng là thành phố loại 2 và thu hút đầu tư từ các khu công nghiệp, khu chế xuất…Điều đó cho thấy: đội ngũ cán bộ, công chức Thành phố Hà Nội và Hải Dương đó và đang tích cực trước xu hướng chuyển biến tâm lý xó hội chung để từng bước thích ứng tích cực với quá trỡnh hội nhập quốc tế hôm nay. Hơn nữa, thực tế Hà Nội và Hải Dương trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay cũng đang đối mặt với sự giao thoa giữa một vùng đất giàu truyền thống văn hiến với những điều kiện, môi trường xó hội khỏ thuận lợi về giao lưu, hội nhập để cách tân, hiện đại. Bên cạnh đó, tại các đô thị lớn, đặc biệt là Hà Nội, nguồn cán bộ, công chức đang công tác trên địa bàn không thuần túy là người bản địa mà thường từ nhiều địa phương khác về hội tụ, càng phản ánh tính phong phú, đa diện, đa sắc trong xu hướng chuyển
  5. biến tâm lý xó hội của đội ngũ cán bộ, công chức…Do đó, rất cần được nghiên cứu đại diện. Chuyển biến tõm lý xó hội là xu thế phỏt triển trong sự phát triển chung của xó hội hiện thực. Đó là quy luật tất yếu cần được quan tâm, coi trọng. Với ý nghĩa đó, để góp phần thành công vào công cuộc xây dựng, phát triển xó hội trong thời kỳ hội nhập quốc tế, rất cần có những nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu từ góc độ khoa học tâm lý về những chuyển biến tâm lý xó hội đáp ứng yêu cầu thời kỳ phát triển mới với tính cách là khoa học nghiên cứu tâm lý người. Chỉ ra đặc điểm, diện mạo chung về xu hướng chuyển biến tâm lý xó hội, nhất là của đội ngũ cán bộ, công chức trước thực tiễn phát triển là vấn đề quan trọng, song ý nghĩa quan trọng hơn là nghiên cứu xác định đúng nguyên nhân, tính chất biểu hiện của những chuyển biến tâm lý mới và tác dụng ảnh hưởng của nó đối với hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong sự nghiệp xó hội ta hiện nay. Đề tài: “Những chuyển biến tâm lý xó hội của đội ngũ cán bộ, công chức thành phố Hà Nội và Hải Dương trong quá trỡnh hội nhập quốc tế hiện nay” được lựa chọn nghiên cứu trước hết từ những yêu cầu cấp thiết đó. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Liên quan đến đề tài, đã có nhiều công trình, nhiều bài viết được các tác giả nghiên cứu, đề cập trên các dạng: Công trình đề tài khoa học; Sách tham khảo, chuyên khảo, luận án; luận văn; tham luận hội thảo, tạp chí… Trong quá trình sưu tầm, tham khảo chúng tôi nhận thấy có thể phân thành ba nhóm vấn đề nghiên cứu chính: 1) Nghiên cứu những tác động đến sự hình thành, phát triển và biến đổi tâm lý người Việt và đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam từ các điều kiện khách quan. Đó là các điều kiện tự nhiên - xã hội bao gồm các yếu tố như: địa lý; kinh tế; chính trị; văn hoá; truyền thống – xã hội… nói chung, vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng. Tiêu biểu trong nhóm nghiên cứu này có các tác giả: Phan Huy Lê – Vũ Minh Giang: Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay.(1994); Nguyễn Chí Mỳ. Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay.(1997) Trần Đình Hựu: Đến hiện đại từ truyền thống (1998); Phan Ngọc: Văn hoá Việt nam và cách tiếp cận mới.(1998); Phan Đại Doãn – Mai Văn Hai: Quan hệ dòng họ ở châu thổ sông Hồng. 2000. Trần Đức: Nền văn minh sông Hồng xưa và nay (1997); Tô Duy Hợp: Sự biến đổi làng xã Việt Nam ngày nay ở đồng bằng sông Hồng. (2001). Nguyễn Thế Kiệt: Vai trò của những điều kiện khách/chủ
  6. quan trong việc xây dựng con người mới thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. (1998). Nguyễn Công Huân(LATS): Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với việc phát huy nhân tố Con người trong CNH,HĐH ở Việt Nam hiện nay. (2001). Nguyễn văn Nhớn(LATS): ảnh hưởng chính sách xã hội đối với việc nâng cao vai trò nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới theo định hướng XHCN ở nước ta. (1996). Đặng Hữu Toàn: Phát triển con người trong quan điểm của Các Mác và sự nghiệp CNH,HĐH nhằm mục tiêu phát triển con người ở nước ta hiện nay.(1997). Đinh Hùng Tuấn: Giao lưu văn hoá và những tác động tiêu cực của quá trình hội nhập ASEAN.(2005). Vũ Như Khôi: Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam trong tương đồng văn hoá và hội nhập ASEAN.(2003). Trịnh thị Kim Ngọc: Một số vấn đề thực tiễnvề phát triển nhân cách con người Việt Nam dưới tác động của hội nhập ASEAN. (2006). Nguyễn Ngọc Phú: Hội nhập ASEAN – tác động tích cực và tiêu cực đến tâm lý người Việt Nam hiện nay. (2006). Bùi văn Nhơn. Các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ công chức hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay.(2005), Nguyễn Đình Tấn. Phân tầng xã hội trong hợp tác kinh tế quốc tế và hội nhập (2007)… 2) Nghiên cứu Tâm lý, tâm lý truyền thống với xu hướng biến đổi tâm lý của người Việt và sự ảnh hưởng của chúng đến sự hình thành tâm lý đội ngũ cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường và quá trình hợp tác quốc tế, hội nhập…Trong nhóm nghiên cứu này có các tác giả tiêu biểu như: Trần Ngọc Khuê (Chủ biên): Xu hướng biến đổi tâm lý xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị tr ường ở nước ta.(1998); Đỗ Long – Vũ Dũng (chủ biên): Tâm lý nông dân trong thời kỳ đầu kinh tế thị trường(2002); Phạm Minh Hạc: Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH,HĐH (1994); Nghiên cứu con người Việt Nam – nguồn lực trong công cuộc đổi mới (1999); Tâm lý người Việt Nam đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hoá - những điều cần khắc phục. (2004); Nghiên cứu giá trị nhân cách trong thời kỳ toàn cầu hoá (2007); Thái Duy Tuyên: Một số điều cần khắc phục trong nhân cách người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. (2007); Tô Minh Giới. Những tư tưởng lệch lạc trong đời sống xã hội hiện nay (2003); Trần Trọng Thuỷ. Mô hình nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá - một căn cứ quan trọng của chiến lược giáo dục - đào tạo (2006); Lê Hữu Xanh.(chủ biên). Tác động tâm lý làng xã đến đời sống con người ở đồng bằng bắc bộ trong thời kỳ CNH, HĐH (2004); Phạm văn Đức. Mấy suy nghĩ về vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp CNH,HĐH đất nước. (2003); Nguyễn
  7. Linh Khiếu. Con người và vấn đề phát triển bền vững ở Việt Nam. (2003); Phạm Văn Đức. Thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay.(2000); Đặng Hữu Toàn. Gắn phát triển con người Việt Nam hiện đại với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. (2000); Nguyễn Văn Huyên. Giáo dục nhân cách vì sự phát triển con người Việt Nam. (1999);Vũ Anh Tuấn. Tính cách người Việt Nam với quá trình hội nhập Asean (T/C TLH 2004); Nguyễn Hồi Loan. Một số đặc điểm tâm lý của người nông dân Việt Nam ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình hội nhập kinh tế (2005); Nguyễn Ngọc Phú. Bàn về chuẩn mực đạo đức chủ yếu của con người Việt Nam hiện nay (2007)… 3) Nghiên cứu ảnh hưởng tâm lý, các phẩm chất tâm lý và những biến đổi tâm lý của đội ngũ cán bộ, công chức trên các lĩnh vực hoạt động đời sống xã hội. Trong nhóm nghiên cứu này, tiêu biểu có các tác giả như: Lê Hữu Xanh (Chủ biên). ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước (2005); Bùi Văn Nhơn. Các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay (2005); Lương Trọng Yên. Xây dựng và đổi mới đội ngũ công chức hành chính nhà nước (1993); Nguyễn Chí Mỳ. Sự biến đổi các thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay (1997); Lê Hữu Xanh. Những yếu tố tâm lý của cán bộ, công chức đang cản trở chương trình cải cách hành chính ở đồng bằng sông Hồng (2007). Trần Xuân Sầm. Xác định tiêu chuẩn và cơ cấu cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới (1998); Nguyễn Phú Trọng – Trần Xuân Sầm (chủ biên). Luận cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH (2001); Vũ Anh Tuấn. ảnh hưởng những yếu tổ tâm lý của đội ngũ cán bộ, công chức đến cải cách hành chính ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng – thực trạng và giải pháp (2006). Nguyễn Thị Tuyết Mai (chủ biên). Nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn của cán bộ chủ chốt cấp xã - qua khảo sát ở đồng bằng sông Hồng (2007); Trần hương Thanh. Tính tích cực lao động của đội ngũ cán bộ, công chức hành chính ở nước ta hiện nay – qua khảo sát các tỉnh trung du bắc bộ (2007); Trương Thị Thông – Lê Kim Việt (chủ biên). Bệnh quan liêu trong công tác cán bộ ở nước ta hiện nay – thực trạng, nguyên nhân và giải pháp (2008)… Tóm lại, qua tìm hiểu, nghiên cứu, tham khảo và kế thừa các kết quả nghiên cứu đã được công bố của các công trình khoa học trong ba nhóm lược khảo trên, chúng tôi rút ra một số khái quát sau:
  8. Thứ nhất – Các công trình trên được triển khai nghiên cứu tập trung chủ yếu trên một số chuyên ngành khoa học như: Triết học; Xây dựng đảng; Lịch sử đảng, Văn hoá học, Tâm lý học… đã có những đóng góp tích cực trong phương pháp tiếp cận mang tính hệ thống về con người nói chung, đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng trên cả ba bình diện: 1. Những điều kiện khách quan tác động đến sự hình thành, biến đổi tâm lý con người Việt Nam nói chung, đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Môi trường địa lý, nền kinh tế thị trường, phân tầng xã hội; xu thế hội nhập, văn hoá truyền thống, giá trị đạo đức xã hội, Tư tưởng, thể chế, chính sách xã hội, cải cách hành chính… 2. ảnh hưởng từ những yếu tố tâm lý con người Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và xu thế hội nhập tác động đến sự hình thành, biến đổi tâm lý đội ngũ cán bộ, công chức: Tâm lý truyền thống; nguồn nhân lực; giáo dục nhân cách – giá trị nhân cách và chuẩn mực đạo đức nhân cách… 3. Những yếu tố tâm lý và xu hướng biến đổi của đội ngũ cán bộ, công chức trong nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập: Những yếu tố tâm lý trong cải cách hành chính; trong hệ thống chính trị; nâng cao năng lực lãnh đạo; tổ chức thực tiễn, tính tích cực lao động, bệnh quan liêu… ở đội ngũ cán bộ, công chức… Thứ hai – Hợp tác kinh tế quốc tế và hội nhập là vấn đề phản ánh xu thế phát triển đang được diễn ra rất mới đối với nước ta, nên, hiện tại chưa có được nhiều những công trình nghiên cứu, đánh giá về vấn đề này, nhất là những công trình thuộc lĩnh vực chuyên ngành tâm lý học lãnh đạo, quản lý. Phần lớn các công trình khoa học trên được triển khai trên các chuyên ngành khoa học chủ yếu nghiên cứu trong điều kiện kinh tế thị trường và sự hội nhập mang tính khu vực…Hơn nữa, hiện nay công tác nghiên cứu khoa học đang cần những phương pháp tiếp cận mới mang tính chất “định lượng” dự báo trong tổ chức triển khai, do đó trong những nghiên cứu về đội ngũ cán bộ, công chức giai đoạn hiện nay rất cần được triển khai từ góc độ tâm lý học lãnh đạo, quản lý với tính chất là khoa học ứng dụng có ưu thế về phương pháp “chẩn đoán” và “định lượng” trong nghiên cứu khoa học. Thứ ba – Trước thực tế phân tích khái quát trên, căn cứ vào tính cấp thiết, vào mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài, chúng tôi cho rằng: nếu đề tài được triển
  9. khai, sẽ có được những giá trị đóng góp nhất định đáp ứng yêu cầu nghiên cứu khoa học - thực tiễn trong điều kiện hiện nay ở nước ta. 3. Mục tiêu của đề tài Đề tài tổ chức nghiên cứu, triển khai trên cơ sở thực hiện hai mục tiêu đặt ra: Thứ nhất – Nghiên cứu, phân tích hiện trạng đời sống tâm lý – những đặc điểm, phẩm chất và những chuyển biến tâm lý của đội ngũ cán bộ, công chức ở thành phố Hà Nội và Hải Dương trong quá trình tham gia hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. Thứ hai - Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị từ góc độ tâm lý học lãnh đạo, quản lý góp phần khơi dậy và phát huy những phẩm chất tâm lý tích cực, đồng thời chỉ ra những biện pháp khắc phục, hạn chế những phát sinh tâm lý tiêu cực trong quá trình chuyển biến tâm lý xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức thành phố Hà Nội và Hải Dương trước xu thế hội nhập quốc tế nhằm thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu thực tiễn mới đang đặt ra. 4. Đối tượng nghiên cứu của đề tài. Nghiên cứu những chuyển biến tõm lý xó hội của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong quá trỡnh hội nhập quốc tế. 5. Khách thể và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Đội ngũ cán bộ có chức nghiệp và chức vụ cấp trưởng, phó phũng, ban và công chức nghiệp vụ ở các sở, ngành thuộc khối chính quyền cấp tỉnh, thành phố trên địa bàn Hà Nội và Hải Dương trong quá trỡnh hội nhập quốc tế hiện nay, qua những nghiên cứu, phân tích thống kê và khảo sát thực tế từ năm 2000 - 2009. 6. Nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu. Để thực hiện mục tiêu đặt ra, đề tài nghiên cứu, triển khai trên cơ sở những nhiệm vụ sau: Thứ nhất – Nghiên cứu cơ bản và có tính hệ thống về tâm lý, tõm lý xó hội, những hiện tượng tâm lý xó hội và những chuyển biến tõm lý xó hội với tớnh cỏch cơ sở lý luận của đề tài. Thứ hai – Tổ chức nghiên cứu khảo sát thực trạng đời sống tâm lý, đặc điểm tâm lý và những chuyển biến tõm lý của đội ngũ cán bộ, công chức thành phố Hà Nội, Hải Dương trong quá trỡnh hội nhập quốc tế. Thứ ba – Đề xuất các biện pháp và kiến nghị nhằm phát huy những yếu tố tõm lý tớch cực, khắc phục tõm lý tiờu cực phỏt sinh của sự chuyển biến tõm lý trong quỏ
  10. trỡnh hội nhập quốc tế của đội ngũ cán bộ, công chức thành phố Hà Nội và Hải Dương đáp ứng yêu cầu thời kỳ phát triển mới – thời kỳ hội nhập quốc tế. 7. Phương pháp luận nghiên cứu Trên cơ sở quan điểm duy vật khoa học và phương pháp biện chứng mác xít – đề tài được tổ chức nghiên cứu bằng những phương pháp cụ thể: Lịch sử - logic; Phân tích – tổng hợp; Phân tích văn bản; điều tra phiếu; quan sát và phỏng vấn sâu… 8. Gỉa thuyết khoa học của vấn đề nghiên cứu Chuyển biến tõm lý xó hội của đội ngũ cán bộ, công chức trong bối cảnh kinh tế - xó hội của nước ta nói chung, thành phố Hà Nội và Hải Dương nói riêng vừa có tự giác, vừa có tự phát, bởi chịu sự tác động của thực tiễn hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu, phản ánh quy luật khách quan. Hội nhập quốc tế ở nước ta đang cũn là vấn đề mới mẻ dẫn đến những chuyển biến tõm lý trong đội ngũ cán bộ, công chức, đồng thời chúng có ảnh hưởng nhất định đến thực tiễn công tác của đội ngũ cán bộ, công chức Hà Nội, Hải Dương trên hai khía cạnh: tích cực và tiêu cực. Chương I TÂM Lí XÃ HỘI, CHUYỂN BIẾN TÂM Lí XÃ HỘI – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.I. Khái niệm công cụ - Tõm lý: Là khái niệm tổng quát để chỉ tất cả những chức năng, quỏ trỡnh, trạng thỏi nội tõm của con người mà cơ sở của nó là quá trỡnh hoạt động của hệ sinh lý thần kinh cấp cao trong quá trỡnh tiếp nhận và phản ỏnh thế giới khỏch quan của con người thông qua hành vi và điều hành các hành vi hoạt động của con người. Cú thể hiểu khỏi niệm tõm lý trờn ba khớa cạnh: Thứ nhất – Là những chức năng, quá trỡnh, trạng thỏi bờn trong của con người, tâm lý cú cơ sở là hoạt động của hệ sinh lý thần kinh cấp cao của con người. Trong đời sống tự nhiên – xó hội, mỗi con người có cấu tạo sinh học và các kiểu hoạt động sinh lý
  11. thần kinh khác nhau, phản ánh nét đặc trưng quy định sự hỡnh thành tõm lý của con người nhằm phân biệt với tâm lý của con người khác. Điều đó cho thấy: tâm lý con người trong xó hội luụn tồn tại và phỏt triển một cách phong phú, sinh động, đa dạng và phức tạp. không có tâm lý người nào giống người nào (kể cả những trường hợp sinh đôi cùng trứng). Do đó, sự chuyển biến tâm lý trong mỗi con người cũng khác nhau. Thứ hai – Tõm lý là sự phản ỏnh thế giới khỏch quan của con người được biểu đạt qua hành vi và điều hành các hành vi, hoạt động của con người. Tâm lý là quỏ trỡnh tiếp nhận cỏc tỏc động từ thế giới khách quan vào óc người và là sự phản ánh thế giới khách quan đó bởi con người. Thông qua hoạt động nói chung, hoạt động thực tiễn nói riêng, tâm lý được hỡnh thành và củng cố với nghĩa là quỏ trỡnh “biến” cỏc tri thức khỏch quan thành tri thức chủ quan của con người. Đến lượt nó, tâm lý phản ỏnh thế giới khỏch quan thụng qua hành vi với nghĩa là bản chất của hành vi, điều hành các hành vi hoạt động của con người. Tâm lý là quỏ trỡnh phản ỏnh tớch cực, chủ động và sáng tạo của con người. Thứ ba – Nhận thức, tỡnh cảm, ý chớ là ba yếu tố cơ bản của tâm lý phản ánh sự hiểu biết, thái độ và chí hướng hành động được biểu đạt qua lối sống, nếp nghĩ và cách ứng xử hàng ngày. Nhận thức, tỡnh cảm, ý chớ cú quan hệ chặt chẽ với nhau trong tớnh độc lập tương đối giữa chúng, nhờ đó mà con người chủ động trong quỏ trỡnh thực hiện các mối quan hệ với tự nhiờn với xó hội và với chớnh bản thõn mỡnh, đồng thời khẳng định được vai trũ khỏm phỏ và chinh phục thế giới xung quanh con người. Thụng qua quỏ trỡnh nhận thức, con người hỡnh thành thế giới quan và quan điểm cho sự nhận biết bản chất các sự vật, hiện tượng trong đời sống tự nhiờn và xó hội. Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trỡnh khỏc nhau: cảm giỏc, tri giỏc, trớ nhớ, tư duy, tưởng tượng. Trí nhớ là giai đoạn quá độ giữa hai quá trỡnh nhận thức cảm tớnh và lý tớnh. Hai giai đoạn cảm tính và lý tớnh cú quan hệ chặt chẽ và tác động tương hỗ lẫn nhau trong quá trỡnh nhận thức thế giới khỏch quan, nhận thức chõn lý bởi con người. Đánh giá vai trũ của nhận thức trong tõm lý người, trong lý luận phản ỏnh - Lê Nin đó khái quát: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chõn lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan”. Nếu quỏ trỡnh nhận thức phản ánh thế giới khách quan bằng các cảm giác, tri giác, khái niệm, phán đoán, suy lý thỡ tỡnh cảm lại phản ỏnh hiện thực khách quan đó bằng các rung động và cách biểu cảm của “tâm hồn” được đo ở các trạng thỏi cảm xỳc
  12. khỏc nhau: sự hài lũng, niềm vui, nỗi buồn, nỗi niềm day dứt…Trong tõm lý, tỡnh cảm là những thỏi độ cảm xúc ổn định của con người đối với những tác động của đời sống xó hội hiện thực, phản ỏnh ý nghĩa của chỳng trong mối liờn quan với nhu cầu và động cơ của con người. Xúc cảm và tỡnh cảm cú quan hệ hữu cơ tạo thành hệ thống thái độ của con người trước các tác động của bên ngoài trên các cung bậc rung động khác nhau. Tỡnh cảm là cung bậc cao của sự phỏt triển cỏc quỏ trỡnh xỳc cảm trong những điều kiện xó hội. Xỳc cảm và tỡnh cảm thể hiện trong đời sống con người trên cả hai mặt: sinh lý và tõm lý. Xỳc cảm và tỡnh cảm phản ỏnh trờn hai cấp độ trạng thái rung động khác nhau: Xúc cảm là các rung động bị chi phối bởi các yếu tố sinh lý, bản năng, nên mạnh mẽ song thiếu tính ổn định hơn so với tỡnh cảm. Tỡnh cảm là những rung động mang tính xó hội cao, phản ỏnh những đặc trưng: tính nhận thức, tính xó hội, tớnh khỏi quát, tính ổn định và tính đối cực. Cao hơn xúc cảm, trong tâm lý xó hội, tỡnh cảm xó hội được thể hiện qua các cấp độ cao, thấp khác nhau: Tỡnh cảm cấp thấp là tỡnh cảm cú liờn quan đến sự thỏa món hay khụng thỏa món những nhu cầu mang tớnh sinh lý. Chỳng cú ý nghĩa sinh học to lớn trong việc “báo hiệu” cho con người biết mức độ trạng thái cơ thể của mỡnh. Tỡnh cảm cấp cao liờn quan đến thỏa món nhu cầu tinh thần xó hội: tỡnh cảm đạo đức; tỡnh cảm trớ tuệ; tỡnh cảm thẩm mỹ…Trờn cơ sở các xúc cảm được động hỡnh húa và khỏi quỏt húa – tỡnh cảm cú vai trũ đặc biệt quan trọng của tâm lý trong quá trỡnh tiếp nhận và phản ỏnh thế giới khỏch quan. Đánh giá vai trũ của cảm xỳc, tỡnh cảm trong đời sống xó hội của con người, Lê Nin: “ Nếu không có những cảm xúc của con người” thỡ trước đây, hiện nay và sau này sẽ không có và không thể có sự tỡm kiếm của con người về chân lý”. Phõn biệt khoa học về sự phản ỏnh thế giới khỏch quan của nhận thức và tỡnh cảm trong tõm lý người – ý chớ phản ỏnh hiện thực khỏch quan bằng chí hướng hành động hóa, thông qua các mức độ của sự nỗ lực và sự khắc phục khó khăn của tõm lý, ý thức. “Là mặt năng động của tâm lý, ý thức - ý chí biểu hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đũi hỏi phải cú sự nỗ lực, khắc phục khú khăn”. Trong hành động tâm lý của con người, ý chí giữ hai chức năng có liên quan với nhau, đó là chức năng kích thích và chức năng kỡm hóm. Chức năng kích thích được phản ánh ở chí khí nghị lực, khát vọng, kiên trỡ và quyết tõm khụng sợ gian, khú…Chức năng kỡm hóm thể hiện ở sự thiếu kiờn quyết, nản chớ, thiếu kiờn trỡ, nụn núng, muốn “đốt cháy giai đoạn”…í chớ là phẩm chất tõm lý cỏ nhõn và là một thuộc tớnh tõm lý của nhõn
  13. cỏch, thể hiện tớnh năng động của ý thức trong quá trỡnh điều chỉnh hành vi một cách tích cực nhất. Có được sự điều chỉnh hành vi một cách tích cực trong hành động ý chí, bởi lẽ - ý chí đó kết được trong nó cả mặt năng động của trí tuệ và cả mặt năng động của tỡnh cảm đạo đức như I.M. Xêtrenôp đó chỉ ra: “í chớ – đó là mặt hành động của trí tuệ và của tỡnh cảm đạo đức”. Nhờ ý chí, con người chuyển được từ nhận thức và rung động sang hoạt động thực tiễn, biến đổi thực tại theo nhu cầu, dự định và lợi ích của mỡnh. Nhờ ý chớ, con người tổ chức các hoạt động, điều khiển, điều chỉnh được hành vi của mỡnh. Người không có ý chớ là người vô dụng. Con người có ý chớ mạnh sẽ thành cụng trong nhiều cụng việc. Qỳa trỡnh tõm lý – từ sự tiếp nhận các tác động từ hiện thực khách quan, quá trỡnh tõm lý là sự phản ỏnh thế giới khỏch quan trờn cơ sở có sự khởi đầu, có diễn biến và kết thúc khi đó cú được những thông tin và hỡnh ành nhất định về thế giới khách quan của quá trỡnh phản ỏnh đó. Các quá trỡnh tõm lý được phân loại trên ba yếu tố cơ bản: quỏ trỡnh nhận thức; quỏ trỡnh tỡnh cảm và quỏ trỡnh ý chớ. Qỳa trỡnh nhận thức là quỏ trỡnh từ giai đoạn nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính đến thực tiễn bao gồm các quỏ trỡnh cảm giỏc, tri giỏc, trớ nhớ, tư duy, tưởng tượng… Qỳa trỡnh tỡnh cảm là quỏ trỡnh phỏt triển từ cảm xỳc đến tỡnh cảm được phản ánh từ những rung động xúc cảm đến sự hỡnh thành thỏi độ và bày tỏ thái độ theo các cung bậc và cấp độ tỡnh cảm khỏc nhau biểu lộ phản ứng tõm lý của con người trước những tác động của khách thể. Qỳa trỡnh ý chớ là quỏ trỡnh hành động hóa những nhận thức, tỡnh cảm của con người bằng nỗ lực của ý chớ nghị lực và vượt khó khăn, trở ngại để đạt được mục đích đặt ra Cỏc quỏ trỡnh tõm lý núi trờn chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định và kết thúc khi hỡnh thành những quỏ trỡnh tõm lý mới. Trạng thỏi tõm lý. Trên cơ sở tác động lẫn nhau của các quá trỡnh tõm lý, hoặc sự lặp đi lặp lại của quá trỡnh tõm lý mà xuất hiện cỏc trạng thỏi tõm lý thể hiện cỏc mức độ tiếp nhận thông tin từ các quá trỡnh tõm lý. Trạng thỏi tõm lý diễn ra th ường không rừ lỳc mở đầu và khi kết thúc được phản ảnh trên ba yếu tố: Trạng thái nhận thức: Tập trung, chú ý hay sự phõn tỏn tư duy…Trạng thỏi tỡnh cảm: Phấn chấn, vui sướng hay lo âu, buồn phiền.., Trạng thỏi ý chớ: quyết tõm, kiờn trỡ hay hoang mang, dao
  14. động, nản chí…So với quỏ trỡnh tõm lý, thời gian tồn tại của trạng thỏi tõm lý kộo dài hơn, có tính ổn định hơn, qua đó trở thành “nền” cho sự hỡnh thành các quỏ trỡnh tõm lý tương thích. Ví dụ: Khi đang công tác ở nước ngoài, trong trạng thỏi tỡnh cảm nhớ nhà, con người thường suy nghĩ và tưởng nhớ đến những người thân và những ký ức của mỡnh khi ở quờ hương. Khi đó các quá trỡnh tõm lý hiện tại được diễn ra tương thích và “hỗ trợ” cho trạng thái tâm lý đang nhớ nhà. Thuộc tớnh tõm lý. Những phẩm chất tõm lý mang dấu hiệu đặc trưng, bản chất có tính ổn định, bền vững làm cơ sở phân biệt tâm lý giữa người này với người khác. Thuộc tớnh tõm lý hỡnh thành trờn hai khớa cạnh: sinh học (do di truyền) và do rèn luyện, trở thành tập nhiễm, thói quen của môi trường và thâm niên nghề nghiệp. Để thay đổi thuộc tính tâm lý cần phải có thời gian, sự kiờn trỡ và nỗ lực phấn đấu của bản thân. Trong tâm lý cá nhân có bốn thuộc tính tâm lý cơ bản có ảnh hưởng đến chuyển biến tâm lý xó hội: Xu hướng, năng lực, tính cách, tính khí. - Xu hướng. Với nghĩa là sự lựa chọn giá trị cho con người hướng tới, thể hiện và lấy đó làm lẽ sống, được biểu đạt qua: nhu cầu, hứng thú, thế giới quan, lý tưởng và niềm tin – xu hướng là một thuộc tớnh tõm lý có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hình thành tâm lý người . Xu hướng là hướng sống được thể hiện ở chiều hướng phấn đấu, mục tiêu phấn đấu của con người phản ánh qua nhu cầu, hứng thú, thế giới quan, lý tưởng, niềm tin. Do đó, vấn đề cốt yếu của xu hướng trong hình thành tâm lý người là năng lực lựa chọn giá trị trong sự phân biệt giữa các giá trị xã hội hiện nay: giá trị khách quan; giá trị thừa nhận; giá trị ảo… trong hệ thống giá trị thông qua các thang và các chuẩn giá trị khác nhau của đời sống xã hội hiện thực. Một sự sai lệch trong lựa chọn giá trị, tất yếu dẫn đến lệch chuẩn trong xu hướng phát triển tâm lý có ảnh hưởng bất lợi đến quá trình hình thành các phẩm chất tâm lý – nhân cách. - Năng lực. Là tổng hoà các phẩm chất tâm, sinh lý của mỗi con người làm điều kiện chủ quan cho cá nhân đó thực hiện có kết quả một hoạt động nhất định – năng lực là một thuộc tớnh tõm lý biểu thị mức độ chất lượng và xác định khả năng thực hiện các hoạt động của tâm lý người. Trong tâm lý người - năng lực được thể hiện trên hai cấp độ của sự phản ánh chủ thể: Năng lực chung và năng lực riêng, trong đó năng lực riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự khẳng định sắc thái độc đáo của mỗi con người và là cơ sở phân biệt với các người khác. Năng lực chung là năng lực vốn có của mọi người: Quan sát, phân tích, khái quát, tổng hợp, dự báo…Năng lực riêng gắn với hoạt
  15. động chủ đạo, chuyên biệt của con người, trong đó biểu đạt các mức độ năng lực khác nhau: Tư chất, năng khiếu/ sở trường, thiên tư. Qua đó cho thấy, trong tâm lý người, năng lực là một thuộc tớnh tõm lý có ý nghĩa quan trọng tr ước hết, tạo điều kiện cho việc tiếp thu các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách thuận lợi chứ không chỉ là bản thân các kỹ năng, kỹ xảo (năng khiếu, sở trường) trong tiếp thu các tri thức . Thứ hai, năng lực là cơ sở xác định hiệu quả các hoạt động nói chung và phẩm chất tõm lý riêng của con người. - Tính cách. Sự hình thành các phẩm chất đặc trưng trong tâm lý người - tính cách là một thuộc tớnh tõm lý biểu lộ thái độ của người trong ứng xử với các mối quan hệ xã hội thông qua hệ thống hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ….Ví dụ: Quan hệ với lao động là người chăm chỉ hay lười nhác; quan hệ với mọi người là người cởi mở, khiêm tốn, chân thành, hay giữ ý, tự phụ, giả dối; quan hệ với kinh tế, tiền bạc là người phóng khoáng hay chặt chẽ…ảnh hưởng của tính cách đến sự hình thành các phẩm chất đặc trưng của tâm lý người không chỉ ở sự biểu lộ thái độ của người đó trong các mối quan hệ xã hội mà còn biểu thị các phẩm chất ý chí trong hoạt động thực tiễn. Ví dụ: sự kìm nén cảm xúc để đạt được mục đích, hoặc sự nỗ lực, quyết tâm vượt khó để hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu đặt ra. Do đó, hình thành các tố chất nói chung, tính cách được quan niệm như “bộ mặt” tâm lý đạo đức - xã hội của con người - Tính khí. Nếu tính cách biểu lộ thái độ, đạo đức, ý chí qua hành vi, ngôn ngữ, cử chỉ…thì tính khí là một thuộc tớnh tõm lý biểu lộ qua hành vi, ngôn ngữ, cử chỉ bằng các sắc thái: Mạnh, yếu; Nhanh, chậm; cân bằng, linh hoạt về các phản ứng tâm lý của con người. Nếu tính cách thể hiện mặt xã hội của cá nhân thì tính khí phản ánh cấu trúc tâm, sinh lý “tự nhiên” trong các hoạt động và các mối quan hệ xã hội của con người. Tính khí chịu sự quy định của cơ chế sinh học trong cấu tạo các kiểu hoạt động thần kinh cấp cao, do đó, sự hình thành các phẩm chất đặc trưng trong tâm lý người chịu sự ảnh hưởng khá “bền vững” của bốn kiểu tính khí: Nóng nảy; Hoạt bát; Điềm đạm; Ưu tư…Và sự ảnh hưởng này không chỉ tác động đến sự hình thành các phẩm chất đặc trưng trong tâm lý người mà ảnh hưởng quan trọng hơn đến việc tạo vị thế và hiệu quả hoạt động thực tiễn của con người đó. Tớnh khớ là sự phản ỏnh cỏc sắc thỏi tõm lý tự nhiờn, chịu sự quy định đáng kể của hệ thống phản xạ trong các kiểu hoạt động thần kinh, nên không tuyệt đối có tính khí nào xấu, cũng như không tuyệt đối có tính khí nào tốt. Vấn đề là con người cần được rèn luyện, biết điều chỉnh tính khí một cách phù hợp
  16. với từng tỡnh huống, từng đối tượng tiếp xúc., đề phũng những quan niệm thiếu khỏch quan khi đánh giá tính khí của nhau. Ví dụ: Người cán bộ tính khí nóng (thiếu kiềm chế) thường dễ làm “mất lòng” mọi người; Người cán bộ tỏ ra quá hoạt bát, nhiều khi lại bị cho rằng “không thật”; Người cán bộ tỏ ra điềm tĩnh lại dễ bị coi là “thâm trầm”; Người cán bộ ưu tư thường bị coi là “bạc nhược”… Qỳa trỡnh tõm lý, trạng thái tõm lý và thuộc tớnh tõm lý là ba hỡnh thức và tớnh chất biểu hiện của tõm lý con người, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau trong quỏ trỡnh tiếp nhận cỏc tỏc động của thế giới khách quan và là sự phản ánh thế giới khách quan của tõm lý người. Dẫn đến sự chuyển biến tõm lý xó hội núi chung, thực chất là sự biến đổi của các quỏ trỡnh tõm lý, cỏc trạng thỏi tõm lý và cỏc thuộc tớnh tõm lý trong quỏ trỡnh tiếp nhận các tác động từ thế giới khách quan và là sự phản ánh thế giới khách quan đó của con người. Túm lại, nghiờn cứu tõm lý với tớnh cỏch là một khỏi niệm trong phõn tớch khoa học - thực tiễn hiện nay cần được đặt trong mối quan hệ giữa cỏc quỏ trỡnh tõm lý, cỏc trạng thỏi tõm lý và cỏc thuộc tớnh tõm lý, đồng thời đặt tâm lý trong mối quan hệ với các yếu tố sinh học khác như: Giới tính; độ tuổi; cấu trúc di truyền (AND); nhóm máu; cấu tạo thần kinh và các năng lượng sinh học khác... Đó cũng là cơ sở khoa học cho việc nghiờn cứu tõm lý xó hội và những chuyển biến tõm lý xó hội về bản chất và hỡnh thức biểu hiện của nú trong quỏ trỡnh tiếp nhận các tác động của hiện thực khách quan, đồng thời là quá trỡnh phản ánh các hiện thực khách quan đó trong đời sống tõm lý xó hội của con người. Tõm lý xó hội. Tõm lý xó hội là vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của tâm lý học xó hội.Về đối tượng nghiên cứu - tâm lý học xó hội chủ yếu nghiờn cứu tõm lý của cỏc nhúm, cộng đồng xó hội trong đó tâm lý cỏ nhõn là các cá thể nhân cách với tính cách là các thành viên của nhóm. Đối tượng nghiên cứu của tõm lý học xó hội nằm ở bản chất của cỏc hiện tượng tâm lý xó hội Như tâm lý học đó xác định: tõm lý trước hết là sự phản ánh của chủ thể mỗi con người đối với tác động của hiện thực khách quan. Những hiện tượng tâm lý bao giờ cũng diễn ra trong một con người cụ thể. Tuy nhiên, con người chỉ có thể tồn tại và hoạt động được trong một tập hợp người lớn, nhỏ khác nhau với những mối quan hệ cụ thể khác nhau. Cũng như, khi cũn nhỏ là thành viờn của gia đỡnh cú quan hệ trực tiếp với người thân cùng huyết thống. Khi lớn đi học, là thành viên của lớp trong mối quan hệ
  17. với bạn bè, thầy, cô và nhà trường. Đến tuổi trưởng thành ra công tác là thành viên của các tổ chức, công sở trong mối quan hệ với đồng sự, đồng nghiệp, cấp trên, cấp dưới và với chuyờn mụn. Ra xó hội là cụng dõn của một địa phương, một quốc gia đặt trong mối quan hệ với các công dân khác. Con người chỉ có thể tồn tại, phát triển và khẳng định được vai trũ của mỡnh, khi con người đó đặt trong một tập hợp người với một môi trường xó hội nhất định và trong một không gian, thời gian nhất định. Đó là quy luật “tự nhiên” của xó hội và với ý nghĩa đó, tâm lý xó hội được phản ánh trên hai phương diện: - Tớnh xó hội của tõm lý cỏ nhõn với nghĩa là “tớnh người” là “bản chất nhân cách” người xét đến cùng. - Tõm lý xó hội là tõm lý của những nhúm xó hội cụ thể, bao gồm những nột tõm lý chung nhất, đặc trưng nhất của nhóm được tạo nên từ sự tác động qua lại giữa cỏc cỏ nhõn trong nhúm. Tất nhiờn, tõm lý xó hội khụng phải là cỏi tõm lý như là sản phẩm hoạt động của mỗi cá nhân dưới tác động của hiện thực khách quan và càng không phải là cấp số cộng giản đơn của tâm lý cỏc cỏ nhõn gộp lại. Tõm lý xó hội trong những phẩm chất tâm lý cá nhân được phản ánh trên những phẩm chất tâm lý nhõn cỏch và uy tớn cỏ nhõn. Nhân cách. Là tổng hũa cỏc phẩm chất tõm lý ổn định có ý nghĩa xó hội của cỏ nhõn quy định giá trị và hành vi xó hội của cỏ nhõn đó – nhân cách được quan niệm là hiện tượng tâm lý xó hội. Nếu “cỏ thể” được xác định là một khái niệm chỉ một đơn vị người đại diện cho loài người trong sự phân biệt với các loài động khác trong tự nhiên với nghĩa là một “thực thể sinh học xó hội”, thỡ nhõn cỏch là khỏi niệm chỉ bản chất xó hội của con người, là một đơn vị người đại diện cho một người trong quan hệ xó hội “loài người” và với nghĩa là chủ thể tham gia vào sự “cải biến” giới tự nhiờn, xó hội và bản thõn. Núi bản chất xó hội trong tõm lý - nhõn cỏch khụng cú nghĩa phủ nhận “phần sinh vật bản thể” của con người mà với nghĩa “phần bản thể sinh vật được xó hội húa” trong con người. Hay cũn được xó hội quan niệm là “phần tớnh người” nhiều hơn “tính con” trong khái niệm CON NGƯỜI. Nhân cách là một hiện tượng tâm lý xó hội nghĩa là nhân cách chỉ được hỡnh thành trong quan hệ xó hội, thụng qua quan hệ xó hội với ba khớa cạnh cơ bản: + Con người được tự nhiên sinh ra, cũn nhõn cỏch thỡ khụng tự nhiờn sinh ra mà được hỡnh thành lờn.
  18. + Con người có thể chết đi theo quy luật: Sinh, Lóo, Bệnh, Tử song nhõn cỏch thỡ khụng bị chết đi mà tồn tại mói. + Nhõn cỏch là một “cấu tạo tõm lý mới” là “sản phẩm muộn” của con người. Nghĩa là, con người trong đời sống xó hội luụn phấn đấu, học hỏi để không ngừng hoàn thiện mỡnh thông qua: Giáo dục; hoạt động – hoạt động thực tiễn; giao lưu và quan hệ nhóm xó hội . Là một hiện tượng tâm lý xó hội – nhõn cỏch được xác định trên bốn đặc trưng nhân cách: Tính ổn định; Tính tích cực; Tính thống nhất và tính giao tiếp. Do đó, trong đời sống tâm lý xó hội hiện đại, nhân cách chính là khả năng thích ứng của con người trong sự lựa chọn giá trị mà giá trị đó càng gần với giá trị chung của xó hội trong quy luật phỏt triển của xó hội. Uy tín. Là một hiện tượng tâm lý xó hội của cỏ nhõn – uy tớn bao gồm: chủ thể mang quyền uy và sự ảnh hưởng của quyền uy đó đến mọi người, đồng thời được sự tín nhiệm, thừa nhận của mọi người. Uy tín chỉ được hỡnh thành trong quan hệ xó hội và thụng qua quan hệ xó hội và là tõm lý xó hội của nhõn cỏch. Trong khỏi niệm chung về uy tín cá nhân – quyền uy được hiểu là ưu thế của cá nhân trong sự khẳng định vai trũ chủ thể đối với xó hội và trong cỏc mối quan hệ xó hội. Ưu thế đó chính là phẩm chất tốt đẹp của nhân cách được thể hiện ở năng lực, phẩm chất và phong cách, được xó hội quan niệm chung là ĐỨC – TÀI. Và ưu thế đó được phản ánh trong quan hệ xó hội hàng ngày thụng qua ngụn ngữ, cử chỉ, dỏng điệu, tư thế, tác phong của cá nhân gây được sự tín nhiệm của mọi người trong đời sống xó hội. Trong uy tín cá nhân, đạo đức được thể hiện ở sự thống nhất giữa thái độ tính cách của cá nhân đó đối với công việc, với xó hội và với cỏc chuẩn mực đạo đức của xó hội. Cụ thể là sự đức độ - khiêm tốn, cầu thị, nhiệt huyết, biết sống vỡ mọi người, biết đặt lợi ích của cá nhân trong lợi ích chung của tập thể và xó hội, đồng thời biết ảnh hưởng để cùng mọi người thực hiện các chuẩn mực đạo đức xó hội như: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư…Trong uy tín cá nhân, tài năng được thể hiện bằng kết quả hoạt động thực tiễn thông qua các nhóm năng lực cụ thể như: Năng lực “tổ chức”, năng lực chuyên môn, năng lực trí tuệ và năng lực ứng xử. Trong đời sống tâm lý xó hội – uy tớn cỏ nhõn là một hiện tượng tâm lý xó hội tất yếu và mang tớnh lịch sử - xó hội. Uy tớn là “phương tiện” không thể thiếu nhằm giúp con người có được những vị thế trong thực hiện các mối quan hệ xó hội. Uy tớn cỏ nhõn gắn với mỗi lĩnh vực hoạt động của đời sống xó hội và chịu sự quy định của mỗi lĩnh vực
  19. hoạt động xó hội đó. Ví dụ: Uy tín đạo đức; uy tín khoa học; uy tín lónh đạo…Để có được uy tín cá nhân, con người phải không ngừng kiên trỡ phấn đấu trau dồi năng lực, tu dưỡng phẩm chất đạo đức và rèn luyện bản lĩnh, phong cách làm việc trong thực tiễn, trong quan hệ xó hội, đồng thời thông qua các hiện tượng tâm lý xó hội khác. Tõm lý nhúm. Tõm lý học xó hội nghiờn cứu tõm lý xó hội thụng qua cỏc nhúm xó hội. Đời sống xó hội thực chất là sự cấu thành của cỏc nhúm xó hội khỏc nhau. Tớnh đa dạng, sinh động và phức tạp của đời sống xó hội bắt nguồn từ sự kết hợp giữa cỏc nhúm xó hội, trong đó tâm lý các nhóm xó hội là cơ sở của sự đa dạng, sinh động và phức tạp đó. Trong đời sống xó hội, cú bao nhiờu nhúm xó hội thỡ cú bấy nhiờu tõm lý nhúm xó hội tương ứng. Cơ sở khách quan của sự hỡnh thành tõm lý nhúm xó hội là hỡnh thức cố kết, tính mục đích, quy mô và số lượng người tham gia cùng quỏ trỡnh hoạt động của các nhóm xó hội. Khi có sự thay đổi về môi trường ngoại cảnh, về điều kiện khách quan, về tính chất và mục tiêu hoạt động của nhóm khi đó tâm lý nhóm có sự thay đổi theo. Sự thay đổi của tâm lý nhóm ảnh hưởng đến sự chuyển đổi tâm lý của cỏc thành viờn trong nhúm và ngược lại. Căn cứ vào phạm vi, quy mô hoạt động, vào số lượng người tham gia và vào tính chất quan hệ giữa các thành viên tham gia mà tâm lý học phõn ra thành cỏc nhúm xó hội khỏc nhau, với cỏc đặc điểm tâm lý nhóm xó hội khỏc nhau. Tõm lý cỏc nhúm xó hội được khái quát trên các loại nhóm khác nhau như: Nhóm lớn và nhóm nhỏ; Nhóm chính thức và nhóm không chính thức…Tính cố kết từ các dấu hiệu lónh thổ, giới tớnh, độ tuổi, nghề nghiệp và cỏc yếu tố chớnh trị xó hội khỏc và tính chất quan hệ mang tính gián tiếp giữa các thành viên tham gia mà hỡnh thành tõm lý cỏc nhúm xó hội lớn (tõm lý nhúm lớn): Tõm lý dõn tộc; tõm lý giai cấp; tõm lý cỏc tổ chức, tầng lớp xó hội; tâm lý nghề nghiệp (ví dụ: Bộ GD – ĐT, Hội Cựu chiến binh, Tập đoàn Bưu chính viễn thông…), tâm lý tụn giỏo; tõm lý thanh niờn, phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi….Trong chuyển biến tõm lý xó hội của tõm lý cỏc nhúm xó hội lớn được phản ảnh qua các nhóm nhỏ (nhóm chính thức và nhóm không chính thức) và biểu hiện qua các hiện tượng tâm lý nhúm nhỏ. Vớ dụ: Chuyển biến tõm lý xó hội trong giai cấp nụng dõn Việt nam được biểu hiện qua các định hướng giá trị của người nông dân trong các hợp tác xó nụng nghiệp…Tõm lý xó hội nhúm nhỏ được hỡnh thành trờn hai loại nhúm nhỏ chủ yếu: Nhúm chớnh thức và nhúm khụng chớnh thức. Nhúm chớnh thức là nhúm cú tớnh phỏp lý và là nhúm thành viờn chớnh thức trong hệ thống chớnh trị - xó hội. Vớ dụ: Văn phũng sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội; Vụ quản
  20. lý khoa học – Học viện CT – HC QG…Nhúm khụng chớnh thức là cỏc nhúm được cố kết nhỡn chung trờn cỏc dấu hiệu tõm lý xó hội khỏc…Vớ dụ: Nhúm bạn bố; Nhúm đồng hương; nhóm những thành viên có những sở thích giống nhau: nhóm thích xem bóng đá… Cũng căn cứ vào tính chất hoạt động của các loại nhóm nhỏ mà có các nhóm không chính thức như: Nhóm chuẩn, nhóm quy chiếu, nhóm ước lệ, nhóm kín, nhóm mở…Đặc điểm tâm lý xó hội của cỏc nhúm nhỏ chớnh thức và khụng chớnh thức chịu sự ảnh hưởng về tính chất và mục tiêu hoạt động của các loại nhóm đó mà hỡnh thành. Vớ dụ, đặc điểm tâm lý của nhóm kín và các thành viên trong nhóm kín thường chứa đựng những yếu tố tâm lý cú tớnh tiờu cực, do chỗ tớnh chất và mục tiờu hoạt động của nhóm kín thường đối lập với mục tiêu, tính chất hoạt động của nhóm chính thức, khi nhóm không chính thức đó đang là thành viên của nhóm chính chính thức. Ngược lại đặc điểm tâm lý của cỏc thành viờn thuộc nhúm mở thường có những yếu tố tâm lý tớch cực, tiờu biểu với tính cách là tõm lý của nhúm ưu trội, bởi lẽ, tuy chỉ là nhóm không chính thức, song tính chất và mục tiêu hoạt động của nhóm có tính đồng thuận với nhóm chính thức và thường được các thành viên trong nhóm chính thức tôn vinh như nhóm hạt nhân. Đặc điểm tâm lý xó hội trong các nhóm nhỏ mang “cấu trúc kép” và thường phức tạp hơn, do chỗ các thành viên tham gia vào nhóm nhỏ đều mang trong mỡnh đặc điểm tâm lý của một nhóm lớn nhất định nào đó và có quan hệ trực tiếp với nhau nên chịu sự ảnh hưởng tâm lý của nhau. vớ dụ: Thành viên A tham gia vào nhóm B có thành phần xuất thân là người dân tộc Mường – tỉnh Hũa Bỡnh, thuộc giai cấp nông dân hiện đang làm công việc kế toán của trường đại học X. Như vậy trong con người anh A có đặc điểm tâm lý của người nông dân Mường tỉnh Hũa Bỡnh, đồng thời chịu sự ảnh hưởng tâm lý nghề kế toán trong môi trường đào tạo. Do đó, những chuyển biến tâm lý xó hội trước sự tác động của hội nhập quốc tế ở nhóm B có biểu hiện khác với các nhóm khác trong đời sống tâm lý xó hội. Các hiện tượng tâm lý xó hội. Là sự biểu hiện của nhận thức, tỡnh cảm, ý chớ trong mối cỏ nhõn và cỏc nhúm xó hội được hỡnh thành và phản ỏnh cỏc mối quan hệ xó hội của con người trong các điều kiện kinh tế - xó hội nhất định – hiện tượng tâm lý xó hội phản ỏnh rừ nột nhất trong sự chuyển biến tõm lý xó hội trước tác động của quá trỡnh hội nhập quốc tế. Các hiện tượng tâm lý đó là: Nhu cầu xó hội; Dư luận xó hội; Bầu khụng khớ tõm lý xó hội; Truyền thống của cỏc nhúm xó hội và cỏc định hướng giá
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2