intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

LUẬN VĂN: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương – Techcombank : Thực trạng và giải pháp

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:49

0
117
lượt xem
48
download

LUẬN VĂN: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương – Techcombank : Thực trạng và giải pháp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá phát triển như vũ bão hiện nay, hội nhập kinh tế quốc gia vào nền kinh tế khu vực và thế giới đang là một vấn đề lý luận và thực tiễn nóng bỏng, sôi động. Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một quá trình tất yếu đối với bất kỳ một quốc gia nào muốn đạt được sự phát triển về kinh tế xã hội. Được xem như chất xúc tác cho sự phát triển thương mại quốc tế, công tác thanh...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương – Techcombank : Thực trạng và giải pháp

  1. LUẬN VĂN: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương – Techcombank : Thực trạng và giải pháp
  2. Lời nói đầu Trong xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá phát triển như vũ bão hiện nay, hội nhập kinh tế quốc gia vào nền kinh tế khu vực và thế giới đang là một vấn đề lý luận và thực tiễn nóng bỏng, sôi động. Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một quá trình tất yếu đối với bất kỳ một quốc gia nào muốn đạt được sự phát triển về kinh tế xã hội. Được xem như chất xúc tác cho sự phát triển thương mại quốc tế, công tác thanh toán quốc tế đã không ngừng được đổi mới và hoàn thiện, với việc đa dạng hoá các hình thức thanh toán. Thông qua hoạt động thanh toán quốc tế, các ngân hàng thương mại có cơ hội khẳng định mình trên trường quốc tế, tăng thu nhập và phát triển ổn định trong môi trường cạnh tranh. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng thương mại, trong thời gian thực tập tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Techcombank, em thấy mặc dù đạt được những kết quả đáng khích lệ song qui mô hoạt động của ngân hàng vẫn còn nhỏ, các phương thức thanh toán quốc tế hiện nay của Techcombank còn ít về số lượng và hạn chế về chất lượng, lại chịu sự cạnh tranh gay gắt từ phía các ngân hàng trong nước và các ngân hàng nước ngoài. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ Globus trong toàn bộ hệ thống của Techcombank đang đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải phát triển hoạt động thanh toán quốc tế nhằm khai thác có hiệu quả hệ thống này. Ngoài ra, việc không ngừng nâng cao chất lượng, đổi mới và đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ chính là lợi thế cạnh tranh mà không chỉ Techcombank mà các ngân hàng Thương mại Cổ phần khác cũng đã nhận ra và đang thực hiện. Chính vì vậy, việc tìm ra những giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng Techcombank là hết sức cần thiết, nó không những góp phần phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Techcombank nói riêng và hệ thống các Ngân hàng Thương mại nói chung mà còn thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu phát triển. Trên cơ sở những lý do trên, em đã lựa chọn đề tài :”Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương – Techcombank : Thực trạng và giải pháp “. Trong phạm vi của bài viết , em chủ yếu tìm hiểu tình hình thực tế, những vấn đề còn tồn tại trong công tác thanh toán quốc tế với ba phương thức thanh toán chủ
  3. yếu là Tín dụng chứng từ, Chuyển tiền và thanh toán nhờ thu tại Techcombank, trong đó phương thức thanh toán bằng chứng từ được tập trung hơn cả. Qua đó em xin đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Techcombank. Bố cục của bài viết ngoài phần Mở đầu và Kết luận gồm 3 chương: Chương I : Lý luận chung về thanh toán quốc tế tại các ngân hàng Thương mại. Chương II ; Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương – Techcombank. Chương III : Phương hướng và một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Techcombank.
  4. Chương I : Lý luận chung về thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế Thanh toán quốc tế ( TTQT) là sự chi trả bằng tiền ( ngoại tệ ) liên quan tới hoạt động mua bán hay cung ứng hàng hoá giữa các tổ chức hay cá nhân nước này với các tổ chức hay cá nhân nước khác; hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các Ngân hàng của các nước liên quan. TTQT chính là khâu cuối cùng để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế thông qua nhiều hình thức thanh toán khác nhau. Dưới giác độ kinh tế, các quan hệ quốc tế được chia thành hai loại : quan hệ mậu dịch và quan hệ phi mậu dịch.Do đó, thanh toán quốc tế cũng bao gồm thanh toán mậu dịch và thanh toán phi mậu dịch. + Thanh toán mậu dịch : Phát sinh trên cơ sở trao đổi hàng hoá và các dịch vụ thương mại theo giá cả quốc tế. Thông thường, thanh toán mậu dịch phải có giấy tờ kèm theo . Các bên mua bán bị ràng buộc với nhau bởi hợp đồng thương mại hoặc một hình thức cam kết khác như : thư , điện giao dịch…Mỗi hợp đồng chỉ ra một mối quan hệ nhất định, nội dung hợp đồng phải quy định rõ cách thức thanh toán dịch vụ thương mại, hàng hoá nhất định. + Thanh toán phi mậu dịch : là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan tới hàng hoá không có tính thương mại. Thanh toán phi mậu dịch bao gồm các chi phí của các cơ quan ngoại giao ở các nước sở tại, chi phí vận tải, chi phí đi lại của các đoàn khách Chính phủ của các tổ chức của các đoàn khách cá nhân. Dựa trên khái niệm ta có thể thấy thanh toán phi mậu dịch đơn giản hơn nhiều so với thanh toán mậu dịch, đối với ngân hàng thương mại thì thanh toán mậu dịch là đối tượng chính đặc biệt là trong chuyển kiều hối khi lượng kiều bào của mỗi quốc gia ngày càng gia tăng. Ngoài hai loại thanh toán nêu trên, trong TTQT còn có thanh toán vay nợ, viện trợ. Thực chất loại thanh toán này cũng là thanh toán mậu dịch chỉ khác là ở nguồn vốn. Thanh toán mậu dịch được thực hiện bằng vốn tự có, còn thanh toán vạy nợ hay viện trợ do nước ngoài cấp vốn.Ngày nay, hình thức thanh toán này chiếm một tỷ trọng khá
  5. lớn nhất là ở các nước bắt đầu phát triển hay các nước đang phát triển để thanh toán các khoản nợ, khoản viện trợ tới kỳ hạn hoàn trả của quốc gia. Có nhiều phương thức thanh toán khác nhau như tín dụng tín dụng chứng từ ( L/C), chuyển tiền bằng điện, nhờ thu, ghi sổ, hàng đổi hàng… nhưng có 3 phương thức thanh toán chủ yếu là : tín dụng chứng từ, chuyển tiền và nhờ thu.Việc áp dụng phương thức này tuỳ thuộc theo mức độ tin cậy giữa các bạn hàng. Bảng 1.1 Mức độ tin cậy Phương thức thanh toán Chi phí thanh toán Tin cậy nhiều Chi phí thấp Chuyển tiền Tin cậy vừa phải Chi phí vừa Nhờ thu Tin cậy ít Chi phí cao Tín dụng chứng từ Ngày nay khi hội nhập kinh tế và giao lưu quốc tế ngày càng trở thành một xu thế chủ yếu thì thanh toán quốc tế cũng ngày càng phát huy vai trò của mình. 1.2 Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế Hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta đang tiến hành xây dựng đất nước. Thông qua hoạt động TTQT, chúng ta có thể tận dụng được vốn , công nghệ nước ngoài để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, rút ngắn khoảng cách tụt hậu và đưa nền kinh tế đất nước hoà nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế giới. Hoạt động TTQT là khâu quan trọng trong quá trình mua bán, trao đổi hàng hoá dịch vụ. Hoạt động TTQT của các ngân hàng ngày càng có vị trí quan và vai trò quan trọng, nó là công cụ, là cầu nối trong quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ kinh tế và thương mại giữa các nước trên thế giới. Hoạt động TTQT giúp cho doanh nghiệp hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu. Do vị trí địa lý của các bạn hàng thường cách xa nhau làm hạn chế việc tìm hiểu khả năng tài chính, khả năng của người mua, của bên nợ, đồng thời trong điều kiện thị trường thường xuyên biến động, khả năng thanh toán của
  6. bên nợ bấp bênh, hoạt động thanh toán quốc tế sẽ giúp các nhà xuất khẩu hạn chế được rủi ro trong quá trình kinh doanh, nhờ đó sẽ thúc đẩy hoạt động xuát nhập khẩu phát triển. Đối với ngân hàng thương mại, việc mở rộng thanh toán quốc tế có vị trí hết sức quan trọng. Đây không phải là một dịch vụ thuần tuý mà còn được coi là một dịch vụ không thể thiếu được trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó bổ sung và hỗ trợ cho các hoạt động khác phát triển . Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho ngân hàng thu hút thêm khách hàng có nhu cầu giao dịch kinh doanh quốc tế.Trên cơ sở đó ngân hàng phát triển được các dịch vụ như huy động ngoại tệ, đẩy mạnh hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu và các dịch vụ khác, nhờ đó qui mô hoạt động của ngân hàng ngày càng lớn. Tóm lại, trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt, trong xu thế toàn cầu hoá, hoạt động TTQT có vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần tăng thu nhập ,uy tín và khả năng cạnh tranh cho ngân hàng. 1.3 Các phương tiện thanh toán quốc tế 1.3.1 Hối phiếu 1.3.1.1 Khái niệm Hối phiếu là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiếu, hoặc đến một ngày cụ thể nhất định hoặc đến một ngày có thể xác định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người này trả cho người cầm hối phiếu. Hối phiếu có những đặc điểm như sau:  Tính trừu tượng của hối phiếu: Trên hối phiếu không cần phải ghi nội dung quan hệ tín dụng, tức là nguyên nhân gây ra việc lập hối phiếu, mà chỉ cần ghi rõ số tiền phải trả và nội dung có liên quan đến việc trả tiền. Hiệu lực pháp lý của hối phiếu cũng không bị ràng buộc do nguyên nhân gì sinh ra hối phiếu. Một khi tách ra khỏi hợp đồng đến tay người thứ ba thì hồi phiếu trở thành một trái vụ độc lập, chứ không phải trái vụ sinh ra từ hợp đồng. Hay nói một cách khác, nghĩa vụ trả tiền của hối phiếu là trừu tượng.  Tính bắt buộc trả tiền của hối phiếu:
  7. Người trả tiền hối phiếu phải trả tiền theo đúng nội dung ghi trên tờ phiếu. Người trả tiền không thể viện những lý do riêng của mình với người ký phát phiếu, người ký hậu mà từ chối trả tiền, trừ trường hợp hối phiếu được lập ra trái với đạo luật chi phối nó.  Tính lưu thông của hối phiếu. Hối phiếu có thể được chuyển nhượng một hay nhiều lần trong thời hạn cuả nó. Sở dĩ có được đặc điểm này, bởi vì hối phiếu là lệnh đòi tiền của người này đối với người khác, hối phiếu có một trị giá tiền nhất định, có một thời hạn nhất định, thời hạn này thường là ngắn hạn và được người trả tiền chấp nhận. Tóm lại nhờ vào tính trừu tượng và tính bắt buộc trả tiền của hối phiếu, mà hối phiếu có được tính lưu thông. 1.3.1.2 Phân loại hối phiếu.  Căn cứ vào thời hạn trả tiền của hối phiếu, người ta chia hối phiều làm ba loại: + Hối phiếu trả tiền ngay: người trả tiền khi nhìn thấy hối phiếu này do người cầm phiếu xuất trình thì phải trả tiền ngay cho họ. + Hối phiếu trả tiền sau một số ngày nhất định, thường từ 5-7 ngày: người trả tiền khi nhìn thấy hối phiếu này do người cấm phiếu xuất trình thì tiến hành ký chấp nhận trả tiền, sau đó từ 5-7 ngày thì trả tiền tờ hối phiếu đó. + Hối phiếu có kỳ hạn: sau một thời gian nhất định ghi trên hối phiếu, người trả tiền hối phiếu phải trả tiền ghi trên hối phiếu, hoặc tính từ ngày chấp nhận hối phiếu, ngày ký phát hối phiếu, hoặc tính từ một ngày khác quy định cụ thể. Việc trả tiền cũng có thể phải thực hiện vào một ngày quy định cụ thể trong tương lai.  Căn cứ vào hối phiếu có kèm chứng từ hay không có thể được chia làm hai loại: + Hối phiếu trơn: Loại hối phiếu này được gửi đến đòi tiền người trả tiền không có kèm theo điều kiện có liên quan đến việc trao chứng từ hàng hoá. Trong thanh toán quốc tế, hối phiếu này được dùng để thu tiền cước phí vận tải, bảo hiểm, hoa hồng v.v... hoặc dùng để đòi tiền mua hàng của ngững thương nhân nhập khẩu tin cậy.
  8. + Hối phiếu kèm chứng từ: loại hối phiếu này được gửi đến cho người nhập khẩu có kèm theo chứng từ hàng hóa. Hối phiếu kèm chứng từ có hai loại. Loại hối phiếu kèm chứng từ trả tiền ngay (Documents against payment - viết tắt là D/P) và loại hối phiếu kèm chứng từ chấp nhận thanh toán (Documents against acceptance - viết tắt là D/A).  Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng của hối phiếu có thể chia làm ba loại: + Hối phiếu đích danh: là loại hối phiếu ghi rõ tên người hưởng lợi hối phiếu không kèm theo điều khoản theo lệnh. Ví dụ: hối phiếu ghi như sau “Sau khi nhìn thấy hối phiếu này trả cho ông X một số tiền là...”. Hối phiếu đích danh không chuyển nhượng được bằng thủ tục ký hậu theo luật định. + Hối phiếu theo lệnh: loại hối phiếu chi trả theo lệnh của người hưởng lợi hối phiếu. Ví dụ ghi như sau: “Sau khi nhìn thấy hối phiếu này , trả theo lệnh của ông X một số tiền là...”. Hối phiếu theo lệnh có thể được chuyển nhượng bằng thủ tục ký hậu theo luật định. Đây là loại hối phiếu được sử dụng rộng rãi trong thanh toàn quốc tế. + Hối phiếu trả cho người cầm phiếu( to bearer bill).  Căn cứ vào người ký phát hối phiếu, người ta chia hối phiếu làm hai loại: + Hối phiếu thương mại là hối phiếu do người xuất khẩu ký phát đòi tiền người nhập khẩu trong nghiệp vụ về thanh toán hàng hoá xuất khẩu hoặc dịch vụ cung ứng. + Hối phiếu ngân hàng là hối phiếu do ngân hàng phát ra lệnh cho đại lý của mình thanh toán một số tiền nhất định cho người hưởng lợi chỉ định trên hối phiếu. 1.3.2 Séc trong thanh toán quốc tế 1.3.2.1 Khái niệm Séc là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện của người chủ tài khoản, ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho người có tên trong séc, hoặc trả theo lệnh của người ấy hoặc trả cho người cầm séc một số tiền nhất định, bằng tiền mặt hay bằng chuyển khoản. Đối với người có tiền mở tại ngân hàng một tài khoản, ngân hàng sẽ cấp cho người gửi tiền một quyển séc. Mỗi lần muốn rút tiền ra thì viết một tờ séc đưa đến ngân hàng để lĩnh tiền. 1.3.2.2 Phân loại séc trong thanh toán quốc tế
  9. - Séc vô danh (cheque to bearer): Là loại séc không ghi tên người hưởng lợi, chỉ ghi câu “Trả cho người cầm séc” (Pay to the bearer). Đối với loại séc này, ai cầm được séc đều có thể lĩnh được tiền. - Séc đích danh (nominal cheque): Loại séc chỉ định rõ tên người được hưởng và chỉ có người này mới được lĩnh tiền. - Séc theo lệnh (cheque to order): Loại séc ghi “trả theo lệnh” của người hưởng lợi. Séc này được chuyển nhượng bằng hình thức ký hậu, vì vậy séc theo lệnh được dùng phổ biến trong thanh toán quốc tế. - Séc gạch chéo (crossed cheque): Là loại séc trên mặt trước của nó có hai gạch chéo song song với nhau từ góc này sang góc kia của tờ séc. Mục đích của gạch chéo là dùng để chuyển khoản qua ngân hàng để không rút tiền mặt. Có hai loại séc gạch chéo: + Séc gạch chéo không tên (séc gạch chéo th ường ) : giữa hai gạch chéo song song không ghi tên ngân hàng lĩnh hộ. + Séc gạch chéo có ghi tên ( séc gạch chéo đặc biệt ) : giữa hai gạch song song có ghi tên một ngân hàng nào đó. Theo đó, chỉ có ngân hàng đó mới có quyền lĩnh hộ tiền mà thôi. Séc không ghi tên có thể chuyển thành séc có tên nhưng séc có tên không thể chuyển thành séc gạch chéo không ghi tên bằng cách xoá tên đi được. - Séc chuyển khoản: Là loại séc mà ngân hàng phải trích tiền từ tài khoản của con nợ sang tài khoản của chủ nợ. Séc chuyển khoản không thể chuyển nh ượng và không lĩnh được tiền mặt. - Séc xác nhận: Là loại séc được ngân hàng xác nhận việc trả tiền. Mục đích của séc xác nhận là nhằm đảm bảo khả năng chi trả của tờ séc và chống việc phát hành séc khống. - Séc du lịch: Là loại séc do ngân hàng phát hành và được trả tiền tại bất cứ chi nhánh hay ở đại lý của ngân hàng đó ở trong hay ngoài nước. Kỳ phiếu Kỳ phiếu là một chứng từ cam kết trả tiền vô điều kiện do người lập hối phiếu ký phát, trong đó người lập hối phiếu cam kết trả một khoản tiền nhất định cho người hưởng lợi hoặc theo lệnh của người này trả cho một người thứ ba theo quy định trong kỳ phiếu.
  10. Kỳ phiếu có một số những đặc thù sau đây: Kỳ hạn kỳ phiếu được quy định rõ trên đó. Một kỳ phiếu có thể do một hay nhiều người ký phát để cam kết thanh toán cho một hay nhiều người hưởng lợi. Hối phiếu cần có sự bảo lãnh của ngân hàng hoặc công ty tài chính. Sự bảo lãnh này đảm bảo khả năng thanh toán của kỳ phiếu. Khác với hối phiếu thường có hai bản : số 1 và số 2, kỳ phiếu chỉ có một bản chính do con nợ phát ra để chuyển cho người hưởng lợi kỳ phiếu đó. Thư tín dụng ( L/C ) Thư tín dụng là một văn bản pháp lý trong đó ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình bộ chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung của L/C. 1.4 Các phương thức thanh toán quốc tế Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức trả tiền hàng trong giao dịch mua bán ngoại thương giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mở rộng và phát triển, các ph ương thức thanh toán quốc tế cũng ngày càng đa dạng và phong phú, nhằm đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về thanh toán cho khách hàng. Mỗi phương thức thanh toán có những ưu nhược điểm khác nhau. Việc nghiên cứu các phương thức thanh toán nhằm mục đích: - Hiểu rõ bản chất cũng như nguyên tắc của các phương thức. - Thấy được vai trò quan trọng của từng phương thức trong thanh toán quốc tế. - Nhận ra được những mặt hạn chế của các phương thức thanh toán đang áp dụng tại TechcomBank và đề xuất giải pháp hoàn thiện, phát triển các phương thức đó. 1.4.1 Phương thức chuyển tiền 1.4.1.1 Khái niệm Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán quốc tế mà khách hàng ( người trả tiền ) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người khác ( người hưởng lợi ) ở một địa điểm, trong một thờigian nhất định bằng phương thức chuyển tiền theo yêu cầu của khách hàng.
  11. 1.4.1.2 Điều kiện áp dụng phương thức thanh toán chuyển tiền - Hai bên có quan hệ lâu năm và tín nhiệm lẫn nhau - Thanh toán trong phi mậu dịch, chuyển vốn ra nước ngoài đầu tư, chuyển lợi nhuận về nước, chuyển kiều hối. 1.4.1.3 Ưu nhược điểm của phương thức thanh toán chuyển tiền - Ưu điểm: đây là phương thức đơn giản , thuận tiện; thanh toán trực tiếp giữa người bán và người mua, ngân hàng chỉ giữ vai trò trung gian. - Nhược điểm: Việc thanh toán phụ thuộc vào thiện chí của người mua, bên bán dễ bị chiếm dụng vốn trong thanh toán. Phương thức này thường chỉ sử dụng trong lĩnh vực thương mại, các chi phí có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá ( phí vận chuyển, bảo hiểm…) Hình 1.1 Trình tự tiến hành nghiệp vụ (4 Ngân hàng Ngân hàng ) chuyển tiền đại lý (3 (5 (2 ) ) (1) ) Người nhập Người xuất khẩu khẩu (1) : Sau khi ký kết hợp đồng ngoại thương, người xuất khẩu thực hiện cung ứng hàng hoá, dịch vụ và giao toàn bộ chứng từ hàng hoá cho bên nhập khẩu. (2) : Người nhập khẩu sau khi kiểm tra chứng từ hoá đơn, lập lệnh chuyển tiền, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển tiền cho người hưởng lợi. (3) : Ngân hàng chuyển tiền tiến hành kiểm tra nếu thấy hợp lệ và đủ khả năng thanh toán sẽ trích tài khoản của người nhập khẩu để chuyển tiền và gửi giấy báo nợ cho người nhập khẩu. (4) : Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài chuyển tiền cho người xuất khẩu. (5) : Ngân hàng đại lý ghi có và báo có cho người xuất khẩu. 1.4.2 Phương thức nhờ thu 1.4.2.1 Khái niệm
  12. Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng, uỷ thác cho ngân hàng mình thu hộ một số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu lập ra. Phương thức nhờ thu được thực hiện trên cơ sỏ những quy định của nguyên tắc thống nhất nhờ thu số 522 của phòng thương mại quốc tế sửa đổi năm 1995 có hiệu lực từ 1/1/1996. Phương thức nhờ thu bao gồm: nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu kèm chứng từ 1.4.2.2 Nhờ thu phiếu trơn * Khái niệm : Là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra còn chứng từ gửi hàng thì gửi thẳng cho người mua không thông qua ngân hàng. Phương thức nhờ mua phiếu trơn thường chỉ áp dụng trong trường hợp người mua và người bán tin cậy lẫn nhau hoặc phải có quan hệ liên doanh với nhau giữa công ty mẹ, công ty con hoặc là chi nhánh của nhau. Phương thức này cũng áp dụng trong thanh toán các dịch vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá vì việc thanh toán này không nhất thiết phải kèm theo chứng từ như cước phí vận tải, bảo hiểm… Ưu điểm của phương thức này : đơn giản và nhanh gọn Nhược điểm : phương thức này không áp dụng nhiều trong thanh toán về mậu dịch vì : Đối với người bán : Không đảm bảo quyền lợi cho họ vì việc nhận hàng của người mua hoàn toàn tách rời khâu thanh toán , do đó người mua có thể nhận hàng mà không trả tiền hoặc trả tiền chậm trễ. Đối với người mua : Khi áp dụng phương thức này cũng có điều bất lợi vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ ,người mua phải trả tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng của người bán có đúng hợp đồng hay không. Hình 1.2 Trình tự nghiệp vụ nhờ thu phiếu trơn (6) Ngân hàng đại Ngân hàng thu lý hộ (3 ) (7 (4 (2 (5 ) ) ) ) Người nhập khẩu Người xuất (1 khẩu )
  13. (1) Người nhập khẩu làm đơn xin mở L/C gửi đến ngân hàng của mình yêu cầu mở một L/C cho người xuất khẩu hưởng. (2) Ngân hàng mở L/C căn cứ vào đơn xin mở L/C sẽ lập một L/C và thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu thông báo việc mở L/C. (3) Ngân hàng thông báo L/C cho người xuất khẩu toàn bộ nội dung L/C (4) Nếu người xuất khẩu chấp nhận L/C sẽ giao hàng cho người nhập khẩu, nếu không thì yêu cầu sửa đổi bổ sung cho phù hợp. (5) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C và xuất trình tới ngân hàng thông báo để qua đó xin ngân hàng mở L/C thanh toán. (6) Ngân hàng mở L/C kiểm tra toàn bộ chứng từ ,nếu thấy phù hợp với L/C thì sẽ trả tiền cho người xuất khẩu, nếu không thấy phù hợp sẽ từ chối thanh toán và gửi lại chứng từ cho người xuất khẩu. (7) Ngân hàng mở L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển toàn bộ chứng từ cho người nhập khẩu nếu người nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền. (8) Người nhập khẩu kiểm tra chứng từ , nếu thấy phù hợp với L/C thì chấp nhận trả tiền hoặc từ chối không trả tiền. 1.4.2.3 Nhờ thu kèm chứng từ * Khái niệm: Là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền cho ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ gửi hàng gửi kèm theo với điều kiện là người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới tra bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để nhận hàng. * Trong nhờ thu kèm chứng từ, người bán uỷ thác cho ngân hàng ngoài việc thu hộ tiền còn có việc nhờ ngân hàng khống chế chứng từ vận tải đối với người mua. Đây là sự khác nhau cơ bản giữa nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu phiếu trơn. Đây cũng chính là ưu điểm của phương thức thanh toán này. * Nhược điểm: - Người bán thông qua ngân hàng mới khống chế được quyền định đoạt hàng hoá của người mua, chứ chưa khống chế được việc trả tiền của người mua. Người mua
  14. có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận chứng từ hoặc có thể không trả tiền trong trường hợp bất lợi cho họ. - Việc trả tiền còn quá chậm chạp, từ lúc giao hàng đến lúc nhận được tiền có khi kéo dài vài tháng hoặc nửa năm. - Trong phương thức này, ngân hàng chỉ đóng vai trò là người trung gian thu tiền hộ, còn không có trách nhiệm đến việc trả tiền của người mua. Hình 1.3 Trình tự nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ (7 Ngân hàng đại lý Ngân hàng thu ) hộ (3 ) (4 (8 (6 (5 (2 ) ) ) ) ) (1 Người xuất khẩu Người nhập khẩu ) (1) : Người xuất khẩu mang hàng sang nước nhập khẩu. (2) : Người xuất khẩu ký phát hối phiếu đòi tiền người nhập khẩu gửi kèm theo bộ chứng từ hàng hoá đến ngân hàng phục vụ mình để nhờ thu hộ tiền người nhập khẩu. (3) : Ngân hàng thu hộ gửi hối phiếu, chứng từ hàng hoá kèm theo thư uỷ nhiệm sang ngân hàng đại lý nước nhập khẩu nhờ thu hộ tiền. (4) : Ngân hàng đại lý sau khi kiểm tra, giữ lại bộ chứng từ, gửi hối phiếu đến người nhập khẩu yêu cầu trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền. (5) : Người nhập khẩu thông báo chấp nhận thanh toán hoặc từ chối thanh toán. (6) : Ngân hàng đại lý chuyển giao chứng từ hàng hoá cho người nhập khẩu để họ nhận hàng nếu người nhập khẩu đồng ý thanh toán. (7) : Ngân hàng đại lý thực hiện bút toán chuyển tiền và gửi giấy báo có hoặc hối phiếu đã chấp nhận về ngân hàng thu hộ, hoặc thông báo về việc từ chối thanh toán của bên nhập khẩu. (8) : Ngân hàng thu hộ tiền thanh toán hoặc chuyển hối phiếu đã chấp nhận thanh toán cho người xuất khẩu hoặc từ chối thanh toán. So với phương thức nhờ thu phiếu trơn thì phương thức nhờ thu kèm chứng từ đảm bảo hơn vì ngân hàng thay mặt cho người bán khống chế chứng từ. Ngân hàng
  15. đóng vai trò người trung gian thu hộ tiền, ngân hàng không có trách nhiệm về việc trả tiền của người mua và được hưởng hoa hồng. Phương thức nhờ thu thường được áp dụng trong trường hợp hàng hoá mới bán lần đầu ( mang tính chất chào hàng), hàng ứ đọng, khó tiêu thụ, thu cước phí vận tải , phí bảo hiểm, tiền bồi thường hoa hồng hoặc trong trường hợp hàng được thanh toán theo phương thức tín dụng chuyển sang nhờ thu. 1.4.3 Phương thức tín dụng chứng từ 1.4.3.1 Khái niệm Phương thức tín dụng chứng từ ( TDCT ) là một sự thoả thuận trong đó ngân hàng phát hành ( ngân hàng mở thư tín dụng ) theo yêu cầu của người mở thư tín dụng sẽ trả một số tiền nhất định cho người khác ( người hưởng lợi ) hoặc chấp nhận hôí phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình bộ hồ sơ thanh toán phù hợp với những quy định trong thư tín dụng. Trong đó, mối quan hệ giữa ngân hàng và người yêu cầu mở thư tín dụng về thực chất là một sự uỷ nhịêm. Thư tín dụng thực chất là một chứng thư ( điện hoặc ấn chỉ) trong đó ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với nội dụng L/C. Phương thức TDCT ra đời vào năm 1993, đáp ứng nhu cầu nâng cao hiệu quả thanh toán quốc tế và từ đó đến nay nó trở thành phương thức thanh toán quốc tế thông dụng nhất trong ngoại thương. 1.4.3.2 Đặc điểm của phương thức tín dụng chứng từ Thực chất đây là một hình thức đảm bảo thanh toán của ngân hàng tạo nên sự tin cậy giữa các bên trong quan hệ thương mại quốc tế. Tín dụng chứng từ chỉ là căn cứ để thanh toán giữa các bên chứ không phải là thực tế hàng hoá. Sự tồn tại của bộ chứng từ cũng nh ư sự phù hợp của nó với L/C tạo nên cơ sở nền tảng của tín dụng chứng từ, chứ không gắn liền với thực tế hàng hoá được giao giữa các bên theo như hợp đồng. Vai trò của các ngân hàng không còn là trung gian đơn thuần mà là người quản lý tổ chức trả tiền. Do vậy, khi sử dụng phương thức này các bên phải điều tra vị thế và khả năng của ngân hàng. 1.4.3.3 Ưu nhược điểm của phương thức TDCT trong thanh toán quốc tế
  16. a/. Ưu điểm: Đối với người xuất khẩu: - Được đảm bảo thanh toán: L/C là bản cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C khi người xuất khẩu nộp bộ chứng từ hàng hoá phù hợp với L/C. Do vậy trong phương thức TDCT, người xuất khẩu được đảm bảo thu hồi tiền hàng hoá dịch vụ đúng hạn với bộ chứng từ hoàn hảo, ngay cả khi người nhập khẩu không muốn thanh toán, đặc biệt đối với L/C được xác nhận của ngân hàng tại nước xuất khẩu sẽ tránh được rủi ro không được thanh toán khi tình hình tài chính, kinh tế, chính trị tại nước người nhập khẩu không được ổn định. - Người xuất khẩu có thể nhận được sự tài trợ của ngân hàng thông qua triết khấu bộ chứng từ hàng hoá hoặc có thể xin vay trên cơ sở thế chấp bộ chứng từ. Đối với người nhập khẩu: - Ngân hàng đã giúp khách hàng kiểm tra một phần chất lượng, số lượng, phẩm chất hàng hoá thông qua bộ chứng từ , tiết kiệm thời gian và tránh được một phần rủi ro do người bán không thực hiện đúng cam kết theo hợp đồng. - Do có sự cam kết trả tiền của ngân hàng nên người xuất khẩu mở rộng thanh toán cho người nhập khẩu (L/C trả chậm ) tạo điều kiện cho người nhập khẩu chủ động hơn trong việc thanh toán nhất là đối với những hợp đồng có giá trị lớn. - Khi sử dụng phương thức này, tuỳ theo mối quan hệ giữa ngân hàng với nhà nhập khẩu mà họ được cấp tín dụng khi mở L/C. Đối với ngân hàng: - Ngân hàng được hưởng phí khi cung ứng dịch vụ này, ngoài ra còn mở rộng hoạt động tín dụng thông qua cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, huy động nguồn ngoại tệ lớn qua các khoản ký quỹ của khách hàng, qua nguồn ngoại tệ khách hàng thu được trong tài khoản tại ngân hàng. - Thực hiện thanh toán quốc tế đòi hỏi ngân hàng phải có cơ sở vật chất nhất định, đội ngũ nhân viên có trình độ, mạng lưới ngân hàng rộng khắp. qua đó, nâng cao chất lượng uy tín ngân hàng. b/. Nhược điểm: Đối với người xuất khẩu:
  17. Do tính chặt chẽ của bộ chứng từ và người nhập khẩu không có thiện chí với người xuất khẩu, họ có thể vì một lỗi nhỏ trên chứng từ để từ chối thanh toán mặc dù hàng hoá được giao theo đúng hợp đồng. Đối với người nhập khẩu: Ngân hàng chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ, khâu thanh toán tách rời hàng hoá nên người nhập khẩu vẫn có thể gặp rủi ro do giả mạo chứng từ hoặc chứng từ không đúng với hợp đồng hàng hoá. Đối với ngân hàng: Gặp rủi ro về tỷ giá, rủi ro do người nhập khẩu mất khả năng thanh toán, tính phức tạp và chính xác khi cung ứng dịch vụ. Tuy nhiên, thanh toán theo phương thức TDCT vẫn là một phương thức thanh toán phổ biến nhất hiện nay, chiếm 80 -90 % trong các phương thức thanh toán, nó thúc đẩy quá trình thanh toán quốc tế và hoạt động thương mại quốc tế. 1.4.3.4 Các bên tham gia trong phương thức TDCT - Người xin mở thư tín dụng : là người mua, người nhập khẩu hàng hoá, hoặc là người mua uỷ thác cho một người khác. - Người hưởng lợi thư tín dụng : là người bán, người xuất khẩu hay bất cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định. - Ngân hàng mở thư tín dụng : là ngân hàng phục vụ người nhập khẩu, cấp tín dụng cho người nhập khẩu đứng ra cam kết trả tiền cho người hưởng lợi thư tín dụng khi người này xuất trình giấy tờ phù hợp với các điều kiện, điều khoản của thư tín dụng. - Ngân hàng thông báo thư tín dụng là ngân hàng thông báo trực tiếp về th ư tín dụng và các giao dịch có liên quan đến thư tín dụng cho người hưởng lợi thư tín dụng. Đây là ngân hàng chi nhánh hoặc ngân hàng đại lý của ngân hàng phát hành và thường ở nước người xuất khẩu. Ngoài ra, tuỳ theo yêu cầu của người xuất khẩu, để tăng mức độ an toàn cho các bên tham gia, trong quy trình thanh toán theo phương thức TDCT ngoài 4 thành viên nêu trên còn có các thành viên sau: - Ngân hàng xác nhận : ngân hàng này sẽ cùng ngân hàng mở thư tín dụng đảm bảo trả tiền cho người xuất khẩu trong trường hợp ngân hàng mở thư tín dụng không
  18. đủ khả năng thanh toán. Ngân hàng xác nhận có thể là ngân hàng thông báo thư tín dụng hoặc ngân hàng khác khi họ không tin vào khả năng thanh toán của ngân hàng phát hành. - Ngân hàng hoàn trả tiền: là ngân hàng được ngân hàng phát hành uỷ nhiệm để chuyển tiền trả cho người hưởng lợi. Thông thường, ngân hàng này là ngân hàng mà ngân hàng phát hành có duy trì tài khoản tại đó. Trên thực tế, khi thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ không nhất thiết phải có đầy đủ 4 ngân hàng đó tham gia mà thường chỉ có hai ngân hàng đứng ra đảm nhận các chức năng trên. 1.4.3.5 Nội dung của phương thức tín dụng chứng từ a/. Thư tín dụng trong phương thức tín dụng chứng từ  Khái niệm: Thư tín dụng là một văn bản do ngân hàng phát hành theo yêu cầu của người xin mở thư tín dụng ( người nhập khẩu ) . Đó được hiểu là một bản cam kết trả tiền trừu tượng của ngân hàng phát hành và trong tr ường hợp thư tín dụng được chấp nhận bởi một ngân hàng khác thì đó là bản cam kết của cả ngân hàng xác nhận nữa. Trừu tượng ở đây có nghĩa là các tín dụng chứng từ về bản chất là các giao dịch riêng biệt với hợp đồng mua bán hay dịch vụ mà những hợp đồng này làm cơ sở cho tín dụng chứng từ, nhưng các ngân hàng đó không hề có liên quan đến hoặc không bị ràng buộc bởi những hợp đồng đó thậm chí ngay cả khi có bất kỳ một điều dẫn chiếu nào đến các hợp đồng đó được ghi vào tín dụng chứng từ.  Chức năng của thư tín dụng: - Chức năng thanh toán: Trong thanh toán quốc tế ,việc đảm bảo khả năng thanh toán là yếu tố quan trọng và không thể thiếu được. Tín dụng chứng từ cũng có chức năng cơ bản đó. - Chức năng đảm bảo tín dụng chứng từ : Được thể hiện qua cam kết độc lập của ngân hàng mở thư tín dụng đảm bảo khả năng thanh toán cho người xuất khẩu ngay cả khi người nhập khẩu không có khả năng thanh toán. Quyền lợi của người nhập khẩu cũng được đảm bảo với việc ngân hàng chỉ trả tiền cho người xuất khẩu khi họ đã trình bộ chứng từ phù hợp với L/C.
  19. - Chức năng tín dụng : Khi ngân hàng mở L/C nhận được đơn xin mở L/C của người nhập khẩu, ngân hàng có thể yêu cầu người nhập khẩu ký quỹ từ 0 – 100 %, tuỳ theo quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. Ngân hàng có thể cho người nhập khẩu vay để ký quỹ hoặc trả tiền lãi cho số tiền ký quỹ thuộc sở hữu của người nhập khẩu. Khi ngân hàng nhận được bộ chứng từ và hối phiếu, ngân hàng trả tiền cho người nhập khẩu, nghĩa là ngân hàng cấp tín dụng cho người nhập khẩu.  Nội dung của thư tín dụng Thông thường một thư tín dụng bao gồm các nội dung sau: - Số hiệu : Tất cả các thư tín dụng đều phải có số hiệu riêng của nó để trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện thư tín dụng. - Địa điểm mở L/C : Là nơi ngân hàng mở L/C viết cam kết trả tiền cho người xuất khẩu. Địa điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc chọn luật áp dụng khi xảy ra tranh chấp nếu có xung đột pháp lý về L/C đó. - Ngày mở L/C : Là ngày bắt đầu phát sinh cam kết của ngân hàng mở L/C với người xuất khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C và cuối cùng là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu thực hiện mở L/C có đúng thời hạn như đã quy định trong hợp đồng không. - Loại L/C áp dụng : Tuỳ theo tính chất của hợp đông mua bán, trong đơn đề nghị mở L/C phải nêu rõ loại thư tín dụng cần mở. - Số tiền của L/C : Số tiền của L/C phải được ghi rõ bằng số và bằng chữ và phải thống nhất với nhau trên đơn vị tiền tệ rõ ràng. - Tên, địa chỉ của người và ngân hàng có liên quan. - Ngày hết hạn hiệu lực của L/C : Từ ngày mở L/C đến ngày hết hạn L/C là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho ngưỡi xuất khẩu nếu họ trình bộ chứng từ phù hợp với L/C trong thời hạn đó. - Thời hạn trả tiền của L/C : Thời hạn trả tiền liên quan đến việc trả ngay hay trả chậm. Thời hạn trả tiền có thể nằm ngay trong thời hạn hiệu lực của L/C ( trả tiền ngay ) hoặc nằm ngoài thời hạn hiệu lực của L/C ( trả tiền chậm ) . Trong trường hợp thanh toán chậm thì phải quy định bao nhiêu ngày kể từ ngày nhận được bộ chứng từ hoàn chỉnh.
  20. - Thời hạn giao hàng: Là thời hạn mà người xuất khẩu phải chuyển giao hàng cho người nhập khẩu, thời hạn giao hàng có quan hệ chặt chẽ với thời gian hiệu lực của L/C. - Ngân hàng mở L/C : Do hai bên thoả thuận qui định trong hợp đồng hoặc do người nhập khẩu chọn. - Ngân hàng thông báo : thường là ngân hàng đại lý của ngân hàng mở L/C. - Các quy định về L/C - Các nội dung về hàng hoá : tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì mã hiệu. - Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hoá: điều kiện cơ sở giao hàng (FOB hay CIF ) , nơi gửi và nơi giao hàng, cách vận chuyển và giao hàng. - Những chứng từ mà người xuất khẩu phải trình : đây là một nội dung then chốt của L/C vì căn cứ vào đó ngân hàng quyết định trả tiền hay không trả tiền cho người xuất khẩu.Thông thường, bộ chứng từ gồm: + Hối phiếu + Hoá đơn thương mại đã ký + Vận đơn + Danh sách đóng hàng + Giấy chứng nhận xuất xứ + Chứng nhận bảo hiểm + Chứng nhận chất lượng, số lượng + Chứng nhận của người hưởng lợi Tuỳ theo yêu cầu của người nhập khẩu mà thêm bớt một số chứng từ, số lượng chứng từ của mỗi loại, yêu cầu về việc ký phát từng loại chứng từ như thế nào, lời cam kết ràng buộc của ngân hàng mở L/C

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản