
.BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN THANH NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2005

Trang : 1
CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ ĐỒNG TIỀN CHUNG
1.1 Tiền tệ
1.1.1 Bản chất :
Tiền tệ là một hàng hoá đặc biệt, đóng vai trò vật ngang giá chung để đo
lường và biểu hiện giá trị của tất cả các hàng hoá khác; đồng thời nó thể hiện lao
động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất.
Bản chất này xuất phát từ việc ra đời là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của
các hình thái giá trị :
• Ở hình thái giá trị giản đơn ngẫu nhiên của giá trị, giá trị của một vật được
biểu hiện bằng giá trị sử dụng của một vật khác đóng vai trò là vật ngang giá.
• Ở hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng, giá trị của một vật được biểu hiện ở
giá trị sử dụng của nhiều hàng hoá khác có tác dụng làm vật ngang giá.
• Ở hình thái chung của giá trị, giá trị của tất cả hàng hoá được biểu hiện bằng
giá trị của một hàng hoá đóng vai trò là vật ngang giá chung. Vật ngang giá chung
này được chọn tùy theo tập quán địa phương mang ý nghĩa tượng trưng như lông
thú, da thú, vòng đá, vỏ sò….
• Ở hình thái tiền tệ, khi lực lượng sản xuất phát triển, việc tồn tại nhiều vật
ngang giá chung gây khó khăn cho thị trường trao đổi hàng hoá. Điều này dẫn đến
sự ra đời của vật ngang giá chung bằng kim loại thay thế dần cho các vật ngang giá
chung khác, mà đáng kể nhất đó là bạc, sau đó là vàng (kim tệ)
Như vậy, tiền tệ là một sản phẩm tự phát và tất yếu. nó gắn liền vời sự tồn tại
và phát triển của nền sản xuất hàng hoá. Không những thế, nó còn chứa đựng và
biểu hiện nhiều mối quan hệ xã hội giữa người với người.
1.1.2 Chức năng :
Tiền tệ có 5 chức năng như sau :
a./ Chức năng thước đo giá trị : Đây là chức năng cơ bản của tiền tệ. Chức năng này
được thể hiện thông qua việc tiền dùng để đo lường và biểu hiện giá trị cho các
hàng hoá khác và chuyển giá trị hàng hoá thành giá cả hàng hoá. Để thực hiện chức
năng này, tiền tệ đòi hỏi phải có giá trị đầy đủ, có tiêu chuẩn giá cả, và được thể

Trang : 2
hiện trong tư duy, ý niệm. Việc giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá đã
tạo mối tương quan nghịch giữa giá trị tiền tệ và giá cả hàng hoá, đồng thời cho
thấy rằng tiền tệ là một công cụ đặc biệt quan trọng để thực hiện quy luật giá trị,
quy luật phổ thông của nền sản xuất hàng hoá.
b./ Chức năng phương tiện lưu thông : Thể hiện ở việc tiền được dùng làm phương
tiện trung gian cho quá trình trao đổi hàng hoá (H-T-H) và phương tiện để thực hiện
giá trị của hàng hoá. Điều này thể hiện ở việc hàng hoá sẽ không được phép trao đổi
trực tiếp (H-H), mà trước tiên, giá trị của hàng hoá được biểu hiện thành giá trị tiền
tệ thông qua việc bán hàng hoá (H-T) ; rồi sau đó, hàng hoá đựợc mua lại với giá trị
tương đương với giá trị tiền tệ (T-H).
Như vậy, tiền tệ không phải là mục đích của trao đổi, mà chỉ đóng vai trò
trung gian. Tuy nhiên, để tạo một sự lưu thông hàng hoá được mạch lạc, cần thiết
phải có một khối lượng tiền thật sự và tiền này cũng không nhất thiết phải là tiền có
đầy đủ giá trị như vàng, nó được thay thế bằng các loại tiền ký hiệu.
c./ Chức năng phương tiện cất trữ : Chức năng này được thể hiện ở việc tiền được
đưa ra khỏi quá trình lưu thông nhằm mục đích cất trữ và sử dụng sau này.
Xuất phát từ khả năng có thể trực tiếp chuyển hoá thành bất kỳ một loại hàng
hoá nào, tiền cất trữ phải có đầy đủ giá trị và tạm thời không phục vụ cho quá trình
lưu thông hàng hoá. Tuy nhiên, người ta cũng có thể sử dụng tiền ký hiệu cho việc
cất trữ, các loại tiền này được đảm bảo bằng vàng của quốc gia sản xuất tiền giấy ký
hiệu đó.
d./ Chức năng phương tiện thanh toán: Chức năng này đựợc thể hiện ở việc tiền
đựơc dùng làm phương tiện để thanh toán các khoản nợ phát sinh trong trao đổi
hàng hoá, dịch vụ và các lĩnh vực khác. Khi thực hiện chức năng này, tiền vận động
tương đối độc lập so với hàng hoá, dịch vụ thậm chí giữa chúng với nhau cũng có
một sự tách rời nhau cả về không gian và thời gian. Do đó, tiền ở đây có thể là tiền
vàng, hoặc tiền ký hiệu, hay tiền ghi sổ. Mặc dù vậy, tiền vẫn không nằm ngoài quá
trình lưu thông, mà còn có tác dụng tích cực thúc đẩy quá trình tiêu thụ hàng hoá ;
từ đó, giúp cho sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển.

Trang : 3
e./ Chức năng tiền tệ thế giới: Chức năng này thể hiện ở việc tiền thực hiện các chức
năng trong phạm vi thế giới. Điều này đòi hỏi tiền phải được chấp nhận của các
quốc gia trên thế giới. Do đó, tiền đầy đủ giá trị mới thực hiện được chức năng này.
Tuy nhiên, hiện nay, tiền ký hiệu của một số nước cũng đựơc áp dụng hoặc
chấp nhận rộng rãi ở nhiều nước. Do đó, cũng có quan điểm cho rằng các loại tiền
này cũng có chức năng tiền tệ thế giới.
Tóm lại 5 chức năng trên của tiền tệ không đơn lẻ mà chúng có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Trước tiên, tiền tệ thực chiện chức năng chuyển giá trị hàng hoá
thành giá cả. Khi đó, hàng hoá chính thức bước vào lưu thông. Khi giá cả được thực
hiện thì hàng hoá đã chuyển thành tiền, số tiền này có thể được cất trữ cho việc sử
dụng trong tương lai hoặc dùng để thanh toán cho việc mua hàng hoá khác phục vụ
cho nhu cầu sản xuất hoặc nhu cầu tiêu dùng. Khi quá trình trao đổi hàng hoá vượt
ra ngoài biên giới của một quốc gia thì cũng là lúc tiền tệ thực hiện chức năng phạm
vi thế giới.
1.1.3 Vai trò của tiền tệ :
• Tiền tệ là phương tiện không thể thiếu để mở rộng và phát triển kinh tế hàng
hoá. Thông qua chức năng thước đo giá trị, phương tiện lưu thông và phương tiện
thanh toán, việc trao đổi hàng hóa diễn ra thuận lợi và thống nhất hơn. Nó góp phần
giúp đỡ người sản xuất kinh doanh hạch toán được rõ ràng chi phí và hiệu quả sản
xuất mà họ thực hiện; đồng thời tiến hành tích lũy tiền tệ để mở rộng quy mô sản
xuất kinh doanh.
• Tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế. Xuất
phát từ nhu cầu phát triển của nền kinh tế, thị trường quốc nội đã dần mở cửa hướng
ra thị trường thế giới lớn hơn thông qua con đường ngoại thương. Nhờ ngoại
thương, mà các chức năng thanh toán và chức năng tiền tệ thế giới của tiền tệ đã
phát huy triệt để vai trò của mình. Từ đó, mối quan hệ giữa các quốc gia không chỉ
đơn thuần về mặt kinh tế mà còn lan sang các lĩnh vực khác như chính trị, văn
hoá….

Trang : 4
• Tiền tệ là công cụ để phục vụ cho mục đích của chủ sỡ hữu. Khi mà các quan
hệ kinh tế – xã hội đều bị tiền tệ hoá thì cũng là lúc tiền tệ trở thành công cụ để xử
lý và giải quyết mọi mối quan hệ phát sinh cả trong phạm vi quốc gia và quốc tế.
Chính vì vậy, người chủ sỡ hữu tiền tệ có thể sử dụng nó để thoả mãn mọi nhu cầu
của mình. Chừng nào còn tồn tại nền kinh tế hàng hoá, thì chừng đó dòng tiền sẽ
còn phát huy mạnh mẽ sức mạnh vạn năng của nó.
1.2 Liên minh tiền tệ :
Nền tảng cho việc hình thành đồng tiền chung ở Châu Âu có thể tính bằng
việc ra đời của các liên minh tiền tệ: Liên minh tiền tệ Latinh, Liên minh tiền tệ
Đức, Bản vị vàng . . . vào khoảng đầu thế kỷ 19. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
vào những năm 30 của thế kỷ 19 thúc đẩy các nước Châu Âu hình thành ý tưởng
đồng tiền chung nhằm ổn định nền kinh tế chung của toàn khối. Tuy nhiên cho đến
năm 1950 thì liên minh tiền tệ vẫn chưa được đề cập tới trong các chương trình nghị
sự. Trong khi đó hệ thống tỷ giá cố định Bretton Woods đang tồn tại và gây ảnh
hưởng đến nền kinh tế chung, biểu hiện của nó là Pháp và Đức đã lần lượt phá giá
đồng tiền của mình (đồng Franc và đồng Mác) trong năm 1969, điều này đe dọa đến
sự ổn định của các đồng tiền khác trong khối đến nỗi Thủ tướng Đức lúc đó Ông
W.Brandt đã đề nghị phải khôi phục lại các kế hoạch về Liên minh tiền tệ Châu Âu.
Năm 1970, kế hoạch thành lập một đồng tiền chung Châu Âu do Thủ tướng
Luýchxămbua lúc đó, Ông Werner đưa ra, trong đó báo cáo này lần đầu tiên sử
dụng thuật ngữ Liên minh tiền tệ (EMU – Economic and Monetary Union), kế
hoạch Werner chia ra làm 2 giai đoạn:
Giai đoạn I: Thành lập đơn vị tiền tệ thống nhất gọi là đơn vị tiền tệ Châu Âu
(ECU – European Currency Unit) phối hợp thực hiện chính sách tiền tệ giữa các
quốc gia trong khối.
Giai đoạn II: Chuyển đồng ECU thành đồng tiền chung được sử dụng song song
với các đồng tiền khác trong khối và dần trên phạm vi quốc tế.
Báo cáo Werner chưa được triển khai thì Châu Âu phải đối đầu với sự sụp đổ
của của hệ thống Bretton Woods và ngày 24-04-1972 Châu Âu thành lập “con rắn

