intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phân tích hiệu quả kinh tế rừng trồng sản xuất của các nông hộ ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế

Chia sẻ: Bautroibinhyen5 Bautroibinhyen5 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:109

0
49
lượt xem
15
download

Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phân tích hiệu quả kinh tế rừng trồng sản xuất của các nông hộ ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của đề tài là đánh giá hiệu quả trồng rừng sản xuất của các nông hộ trên địa bàn huyện Nam Đông; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động trồng rừng; kết quả nghiên cứu có thể cung cấp thông tin hữu ích cho người sản xuất và các nhà hoạch định chính sách trong việc phát triển sản xuất lâm nghiệp bền vững, hiệu quả.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Khoa học kinh tế: Phân tích hiệu quả kinh tế rừng trồng sản xuất của các nông hộ ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế

PHẦN 1<br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> 1<br /> <br /> SỰ CẦN THIẾT CỦA NGHIÊN CỨU<br /> Việt Nam là một quốc gia có tài nguyên rừng phong phú và quy mô lớn<br /> <br /> (13,119 triệu ha, chiếm 38,7% diện tích tự nhiên)[30]. Ngành Lâm nghiệp đã và<br /> đang sử dụng diện tích đất lớn nhất trong các ngành kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, do<br /> <br /> Ế<br /> <br /> việc quản lý sử dụng chưa bền vững và nhu cầu khai thác lâm sản và khai hoang đất<br /> <br /> U<br /> <br /> rừng cho phát triển kinh tế - xã hội lớn nên diện tích và chất lượng rừng trong nhiều<br /> <br /> ́H<br /> <br /> năm trước đây đã bị suy giảm liên tục. Năm 1943, Việt Nam có 14,3 triệu ha rừng,<br /> <br /> TÊ<br /> <br /> độ che phủ là 43%, đến năm 1990 chỉ còn 9,18 triệu ha, độ che phủ rừng 27,2%.<br /> Thời kỳ 1980 - 1990, bình quân mỗi năm hơn 100 nghìn ha rừng bị tàn phá [22].<br /> <br /> H<br /> <br /> Suy giảm tài nguyên rừng đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường<br /> <br /> IN<br /> <br /> sinh thái, đặc biệt đã ảnh hưởng không nhỏ đến sinh kế của 25 triệu người đang sinh<br /> sống ở vùng núi [22]. Vì vậy, việc phát triển rừng trồng là một vấn đề cấp thiết và<br /> <br /> K<br /> <br /> mang tính giải pháp mấu chốt trong việc bảo vệ, phát triển loại tài nguyên quan<br /> <br /> ̣C<br /> <br /> trọng này đặc biệt cho phát triển kinh tế vùng cao.<br /> <br /> O<br /> <br /> Sự tiến bộ của kỹ thuật lâm sinh đã tạo ra những giống cây lâm nghiệp có chu<br /> <br /> ̣I H<br /> <br /> kỳ ngắn, tốc độ tăng trưởng nhanh, có khả năng cho sản lượng cao, trong số đó đặc<br /> biệt có cây Keo, nổi bật là giống Keo tai tượng và Keo lai. Hơn nữa, thị trường lâm<br /> <br /> Đ<br /> A<br /> <br /> sản có nguồn gốc rừng trồng ngày càng phát triển về quy mô và đa dạng chủng loại<br /> sản phẩm. Những yếu tố này đã tạo cơ hội cho phát triển trồng rừng sản xuất.<br /> Nam Đông là huyện miền núi, đa số dân cư sống dựa vào nông lâm nghiệp, đất<br /> <br /> lâm nghiệp chiếm tỷ lệ rất lớn (75,06%) trong tổng diện tích tự nhiên [16]. Vì vậy,<br /> hoạt động trồng rừng sản xuất ở Nam Đông đang trên đà phát triển và mở ra cơ hội<br /> cải thiện thu nhập của các nông hộ và tăng trưởng kinh tế địa phương.<br /> Trong bối cảnh đó, việc xác định hiệu quả của trồng rừng sản xuất một cách cụ<br /> thể đồng thời chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả đang là vấn đề quan trọng<br /> nhằm cung cấp thông tin cho các nhà quản lý định hướng điều hành sản xuất của địa<br /> <br /> 1<br /> <br /> phương đồng thời giúp nông dân có thêm các thông tin hữu ích trong việc ra quyết<br /> định sản xuất.<br /> Vì vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Phân tích hiệu quả kinh tế rừng<br /> trồng sản xuất của các nông hộ ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm<br /> luận văn Thạc sĩ của mình.<br /> 2<br /> <br /> MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU<br /> <br /> 2.1 Mục tiêu chung<br /> <br /> Ế<br /> <br /> Đánh giá hiệu quả trồng rừng sản xuất của các nông hộ trên địa bàn huyện<br /> <br /> U<br /> <br /> Nam Đông. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của<br /> <br /> ́H<br /> <br /> hoạt động trồng rừng. Kết quả nghiên cứu có thể cung cấp thông tin hữu ích cho<br /> người sản xuất và các nhà hoạch định chính sách trong việc phát triển sản xuất lâm<br /> <br /> TÊ<br /> <br /> nghiệp bền vững, hiệu quả.<br /> 2.2 Mục tiêu cụ thể<br /> <br /> H<br /> <br /> - Hệ thống hoá và bổ sung những lý luận về hiệu quả kinh tế đối với sản xuất<br /> <br /> IN<br /> <br /> lâm nghiệp nói chung và rừng trồng nói riêng;<br /> <br /> K<br /> <br /> - Phân tích hiệu quả kinh tế của hoạt động trồng rừng sản xuất của các nông hộ<br /> ở Nam Đông; và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả trồng rừng sản xuất;<br /> <br /> O<br /> <br /> ̣C<br /> <br /> - Đưa ra định hướng và giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả rừng trồng sản<br /> <br /> 3<br /> <br /> ̣I H<br /> <br /> xuất ở Nam Đông.<br /> <br /> ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU<br /> <br /> Đ<br /> A<br /> <br /> Đề tài nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn huyện Nam Đông, tỉnh Thừa<br /> Thiên Huế. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chỉ tìm hiểu và tính toán hiệu quả<br /> kinh tế các lâm phần trồng các loài cây Keo lai, Keo tai tượng trồng đầu năm 2004<br /> và đã khai thác ở quy mô nông hộ.<br /> 4<br /> <br /> PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> <br /> 4.1<br /> 4.1.1<br /> <br /> Phương pháp thu thập thông tin số liệu<br /> Số liệu thứ cấp<br /> - Các báo cáo của Phòng Thống kê, Phòng Nông nghiệp, Phòng Tài nguyên và<br /> <br /> Môi trường, Hạt Kiểm lâm huyện Nam Đông;<br /> <br /> 2<br /> <br /> - Các báo cáo nghiên cứu khoa học, sách, tạp chí;<br /> - Tài liệu kỹ thuật, báo cáo thị trường, báo cáo kết quả kinh doanh của các<br /> công ty trồng và thu mua chế biến gỗ;<br /> - Tài liệu của các chương trình dự án về lâm nghiệp và của Bộ NN&PTNT, Sở<br /> Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thừa Thiên Huế.<br /> 4.1.2 Số liệu sơ cấp<br /> Nhằm đáp ứng thông tin, số liệu phục vụ các chỉ tiêu nghiên cứu, đề tài đã sử<br /> <br /> Ế<br /> <br /> dụng phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi đối với hộ trồng rừng.<br /> <br /> U<br /> <br /> Các hộ được chọn để phỏng vấn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có<br /> <br /> ́H<br /> <br /> phân tầng. Tổng số mẫu được phỏng vấn gồm 90 hộ có rừng đã khai thác. Việc lựa<br /> chọn trên nhằm đảm bảo mỗi quan sát đều cung cấp các thông tin liên quan đến chỉ<br /> <br /> TÊ<br /> <br /> tiêu nghiên cứu của đề tài một cách đồng nhất, hạn chế các sai lệch do biến động giá<br /> của các yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra cũng như các tác động của điều kiện tự<br /> <br /> H<br /> <br /> nhiên ở mức tối thiểu.<br /> <br /> IN<br /> <br /> Trong 11 xã và thị trấn trên toàn huyện, chọn 3 xã đại diện cho 3 nhóm có quy<br /> <br /> K<br /> <br /> mô diện tích rừng trồng khác nhau. Mỗi xã chọn 3 thôn theo quy mô diện tích tương<br /> tự việc chọn xã. Ở mỗi thôn được chọn, lập danh sách toàn bộ hộ có rừng trồng đầu<br /> <br /> O<br /> <br /> ̣C<br /> <br /> năm 2004 đã khai thác rừng trồng thông qua hệ thống trưởng thôn và cán bộ nông<br /> <br /> ̣I H<br /> <br /> lâm xã. Danh sách hộ có rừng khai thác được chia thành hai nhóm: hộ người Kinh<br /> và hộ dân tộc ít người. Trên cơ sở đó số mẫu điều tra được phân bổ tương ứng với<br /> <br /> Đ<br /> A<br /> <br /> tỷ lệ hộ người Kinh và dân tộc ít người của tổng thể (toàn thôn).<br /> + Cách phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi.<br /> <br /> 4.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu<br /> + Số liệu được xử lý bằng phần mềm MS Excel.<br /> + Sử dụng phương pháp phân tích chiết khấu – tính NPV.<br /> + Và các phương pháp phân tích kinh tế khác như so sánh, chỉ số, phân tích lợi<br /> nhuận.<br /> <br /> 3<br /> <br /> PHẦN 2<br /> CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU<br /> 1.1<br /> <br /> NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP<br /> Hoạt động sản xuất lâm nghiệp đã xuất hiện rất lâu đời, gắn liền với sự tiến<br /> <br /> hóa của loài người với những hoạt động ban đầu là khai thác lâm sản bằng săn bắt,<br /> hái lượm tới khai thác gỗ làm nhà. Đến nay hoạt động của ngành đã phát triển một<br /> <br /> Ế<br /> <br /> cách đa dạng và đa mục đích như khai thác lâm sản, trồng rừng, sử dụng tài nguyên<br /> <br /> U<br /> <br /> rừng cho mục đích môi trường. Do tính đa dạng của ngành và tùy thuộc vào từng<br /> <br /> ́H<br /> <br /> phương diện, mục tiêu nhìn nhận vấn đề, nên hiện có nhiều quan điểm khác nhau về<br /> <br /> TÊ<br /> <br /> khái niệm lâm nghiệp.<br /> <br /> - Quan điểm thứ nhất: cho rằng lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất<br /> <br /> H<br /> <br /> trong nền kinh tế quốc dân có chức năng xây dựng và quản lý bảo vệ rừng [41].<br /> <br /> IN<br /> <br /> Với quan điểm này, lâm nghiệp chỉ bao gồm các hoạt động về trồng rừng,<br /> chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, bảo vệ nhằm cung cấp lâm đặc sản, phòng hộ và<br /> <br /> K<br /> <br /> bảo vệ môi trường sống cho xã hội. Sản phẩm cuối cùng của hoạt động lâm nghiệp<br /> <br /> ̣C<br /> <br /> là tạo ra rừng thành thục công nghệ; đó chỉ là những sản phẩm tiềm năng, chưa<br /> <br /> O<br /> <br /> thành sản phẩm hàng hoá cuối cùng được trao đổi trên thị trường.<br /> <br /> ̣I H<br /> <br /> Như vậy, quan điểm thứ nhất đã bộc lộ một số vấn đề tồn tại :<br /> + Một là khi đã khẳng định lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất nhưng<br /> <br /> Đ<br /> A<br /> <br /> sản phẩm cuối cùng lại chưa được lưu thông, trao đổi, mua bán trên thị trường để<br /> thu hồi vốn tái sản xuất cho chù kỳ tiếp theo. Sản phẩm được khai thác từ rừng lại<br /> được thống kê, hạch toán vào tổng sản phẩm công nghiệp.<br /> + Hai là về phương diện kỹ thuật lâm sinh thì khai thác và tái sinh có mối liên<br /> hệ chặt chẽ với nhau. Khai thác được xem là một trong những giải pháp kỹ thuật<br /> lâm sinh quan trọng trong tái sản xuất tài nguyên rừng.<br /> + Ba là về phương diện kinh tế - xã hội, mục đích cuối cùng của xây dựng<br /> rừng là để sử dụng (khai thác) và chỉ có khai thác mới thu hồi được vốn để tái sản<br /> xuất mở rộng tài nguyên rừng.<br /> <br /> 4<br /> <br /> + Bốn là về phương diện quản lý, hiện nay ngành lâm nghiệp đang quản lý các<br /> hoạt động không chỉ thuộc lĩnh vực lâm sinh mà còn cả lĩnh vực khai thác và chế<br /> biến lâm sản.<br /> - Quan điểm thứ hai : cho rằng lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất đặc<br /> biệt không chỉ có chức năng xây dựng, quản lý, bảo vệ rừng mà còn có chức năng<br /> khai thác sử dụng rừng [41].<br /> Như vậy, với quan điểm này khái niệm về lâm nghiệp đã được mở rộng. Sản<br /> <br /> Ế<br /> <br /> phẩm cuối cùng của lâm nghiệp đã là sản phẩm hàng hoá được mua bán, trao đổi<br /> <br /> U<br /> <br /> trên thị trường. Quan điểm này đã đề cao vai trò của lâm nghiệp trong nền kinh tế<br /> <br /> ́H<br /> <br /> quốc dân và đã coi hoạt động xây dựng và sử dụng rừng là hai giai đoạn của quá<br /> trình tái sản xuất tài nguyên rừng. Từ đó đã tạo điều kiện thuận lợi để lâm nghiệp<br /> <br /> TÊ<br /> <br /> phát triển toàn diện.<br /> <br /> Tuy nhiên, quan điểm này đã lồng ghép hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau vào<br /> <br /> H<br /> <br /> một ngành sản xuất cũng có những vấn đề khó khăn về công tác tổ chức, quản lý và<br /> <br /> IN<br /> <br /> hạch toán kinh tế. Mặt khác, khi nhấn mạnh quan điểm này, có thể người ta chỉ tập<br /> <br /> K<br /> <br /> trung vào khai thác bóc lột tài nguyên rừng và ít quan tâm đến phát triển lâm nghiệp<br /> bền vững. Do đó, tài nguyên rừng nhanh chóng bị cạn kiệt, đặc biệt trong thời kỳ<br /> <br /> O<br /> <br /> ̣C<br /> <br /> lâm nghiệp hoạt động trong cơ chế bao cấp.<br /> <br /> ̣I H<br /> <br /> - Quan điểm thứ ba: xuất phát từ thực trạng quản lý ngành lâm nghiệp và đứng<br /> trên giác độ khép kín của quá trình tái sản xuất thì lâm nghiệp là một ngành sản xuất<br /> <br /> Đ<br /> A<br /> <br /> vật chất ngoài chức năng xây dựng rừng, quản lý bảo vệ rừng, khai thác vận chuyển<br /> còn bao gồm cả chế biến lâm sản [41].<br /> Như vậy, quan điểm thứ ba tương đối toàn diện hơn hai quan điểm trên. Quan<br /> <br /> điểm này vừa đảm bảo tính thống nhất trong quá trình tái sản xuất, vừa đảm bảo chu<br /> trình sản xuất khép kín. Tuy nhiên, với quan điểm này đã ghép toàn bộ các hoạt<br /> động có chu kỳ sản xuất, có đối tượng tác động, có công nghệ sản xuất hoàn toàn<br /> khác biệt vào một ngành cũng đã đặt ra hàng loạt vấn đề cần giải quyết: đầu tư, tổ<br /> chức sản xuất, áp dụng công nghệ, đánh giá hiệu quả và cơ chế chính sách để phát<br /> triển toàn diện ngành lâm nghiệp.<br /> <br /> 5<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản