intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Khoa học lâm nghiệp: Điều tra và đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc ở vườn quốc gia cúc phương làm cơ sở cho công tác bảo tồn, sử dụng và phát triển bền vững

Chia sẻ: Tri Lễ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:58

12
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của đề tài là xây dựng danh lục các loài cây thuốc mọc tự nhiên của VQG Cúc Phương và đánh giá tình trạng bảo tồn của các loài làm thuốc; đánh giá được tính đa dạng của các loài cây thuốc ở Cúc phương; xác định được hiện trạng khai thác và sử dụng cây thuốc ở Cúc phương.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Khoa học lâm nghiệp: Điều tra và đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc ở vườn quốc gia cúc phương làm cơ sở cho công tác bảo tồn, sử dụng và phát triển bền vững

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP ĐINH TRỌNG HẢI ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ NGUỒN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC Ở VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG LÀM CƠ SỞ CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN, SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG. LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP Hà Nội, năm 2008
  2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP ĐINH TRỌNG HẢI ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ NGUỒN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC Ở VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG LÀM CƠ SỞ CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN, SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG. Chuyên ngành: Lâm học Mã số: 60-62-60 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN TIẾN HIỆP Hà Nội, năm 2008
  3. 1 LỜI NÓI ĐẦU Luận văn tốt nghiệp được thực hiện theo chương trình đào tạo Thạc sỹ của Trường Đại học Lâm nghiệp với đề tài “Điều tra và đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc ở vườn quốc gia cúc phương làm cơ sở cho công tác bảo tồn, sử dụng và phát triển bền vững ”.Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm Nghiệp, khoa đào tạo Sau đại học, các thầy cô giáo và đặc biệt là TS Nguyễn Tiến Hiệp Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu và giành những tình cảm tốt đẹp cho tôi trong thời gian học tập cũng như quá trình hoàn thành luận văn. Nhân dịp này tôi xin tỏ lòng biết ơn Ban giám đốc Vườn Quốc Gia Cúc Phương, Trạm Nghiên cứu khoa học, Phòng tiêu bản VQG Cúc Phương (CPNP) cùng toàn thể gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên tôi hoàn thành khoá học và luận văn này. Mặc dù đã làm việc với tất cả sự nỗ lực, nhưng do hạn chế về trình độ và thời gian, nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng quý báu của các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp. Xin chân thành cảm ơn./. Hà nội, tháng 10 năm 2008 Tác giả Đinh Trọng Hải
  4. 2 ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam được đánh giá là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao trên toàn cầu với nhiều loài động, thực vật hoang dã quý hiếm và các hệ sinh thái đặc trưng. Ở Việt Nam do sự khác biệt lớn về khí hậu từ vùng gần xích đạo tới vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thiên nhiên và cũng do đó mà Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao. Tài nguyên thực vật rừng ở nước ta cũng như trên thế giới là vô cùng phong phú và đa dạng, chúng cũng mang lại cho chúng ta rất nhiều giá trị to lớn như bảo vệ môi trường, chống xói mòn đất, chống sa mạc hoá... đặc biệt là giá trị về thuốc. Từ thuở xa xưa con người đã biết sử dụng cỏ cây để chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho mình. Kho tàng nguồn tài nguyên cây thuốc vô giá này đã và đang được các cộng đồng khác nhau trên thế giới sử dụng trong công tác chăm sóc sức khoẻ. Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới, trên thế giới có khoảng 80% số dân ở các nước phát triển hiện nay có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu dựa vào các nền y học cổ truyền và khoảng 85 % thuốc y học truyền thống đòi hỏi phải sử dụng dược liệu hoặc các chất chiết suất từ dược liệu. Nguồn tài nguyên cây thuốc còn góp phần lớn trong công cuộc phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Dự đoán nếu phát triển tối đa các thuốc thảo dược có nguồn gốc từ các nước nhiệt đới, có thể làm ra khoảng 900 tỷ USD mỗi năm cho nền kinh tế của các nước thế giới thứ 3..Nguồn tài nguyên cây thuốc còn là một kho tàng để sàng lọc , tìm các thuốc mới.. Tuy nhiên nguồn tài nguyên cây thuốc đang bị đe doạ nghiêm trọng do chiến tranh và thảm thực vật bị tàn phá, khai thác và sử dụng quá mức. Đặc biệt là cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường , do nhu cầu phát triển kinh tế nguồn tài nguyên cây thuốc ngày càng bị đe doạ do khai thác quá mức dẫn đến nhiều loài cây thuốc có nguy cơ bị tuỵêt chủng, tri thức sử dụng cây thuốc ngày một mai một. Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài: “Điều tra và đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc ở Vườn quốc gia Cúc Phương làm cơ sở cho công tác bảo tồn, sử dụng và phát triển bền vững”
  5. 3 Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế giới Trong các xã hội cổ xưa, thậm chí đến tận ngày nay, người ta nghĩ rằng bệnh tật là do sự trừng phạt của các thế lực siêu tự nhiên. Do đó các thầy lang đã chữa bệnh bằng các lời cầu nguyện, nghi lễ cúng thần linh và ma lực của cây cỏ. Cây cỏ làm thuốc được lựa chọn bởi màu sắc, mùi, hình dáng hay sự hiếm có của chúng. Việc sử dụng cây cỏ làm thuốc là quá trình mò mẫm rút kinh nghiệm trải qua nhiều thế hệ. Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal cổ ở Iraq từ 60.000 năm trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong y học cổ truyền như Cỏ thi, Cúc bạc... . Lịch sử nền y học Trung Quốc, Ấn độ đều ghi nhận về việc sử dụng các cây cỏ làm thuốc có cách đây 3000-5000 năm .Đầu thế kỷ thứ II ở Trung Quốc , người ta đã biết dùng thuốc là các loài cây cỏ để chữa bệnh như: sử dụng nước chè (Thea sinensis) đặc để rửa vết thương và tắm ghẻ [19] . Còn Fujiki (Nhật Bản) cùng các nhà khoa học ở Viện Hàn lâm Hoàng gia Anh thì chè xanh (Thea sinensis L) còn ngăn chặn sự phát triển của các loại ung thư gan, dạ dày nhờ chất Gallat epigallocatechine (Theo báo KH&ĐS số 46, 1996). Kinh nghiệm của người Cổ Hy Lạp và La Mã dùng vỏ cây óc chó (Juglans regia L) để chữa vết loét, vết thương...lâu ngày không liền sẹo . Ở các nước Nga, Đức, Trung Quốc đã dùng cây Mã đề (Plantago major L) sắc nước hoặc giã lá tươi đắp chữa trị vết thương, viêm tiết niệu, sỏi thận. Y học dân tộc của Bungari “ Đất nước của hoa hồng” đã coi hoa hồng là một vị thuốc chữa được nhiều bệnh, người ta dùng cả hoa, lá, rễ để làm thuốc tan huyết ứ và bệnh phù thũng. Ngày nay người ta đã chứng minh được trong cánh hoa hồng có chứa một lượng tanin, glucosid Theo đông y Trung Quốc cây Psychotria rubra (Lour.) Poit. dùng toàn thân giã nhỏ làm thuốc chữa gãy xương, tiêu sưng, rửa mụn nhọt độc rất hay.
  6. 4 Trong cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản năm 1985 đã liệt kê một loạt các cây chữa bệnh như: Rễ gấc (Momordica cochinchinensis (Lour.) Spreng.) chữa nhọt độc, viêm tuyến hạch, hạt gấc trị sưng tấy đau khớp, sốt rét, vết thương tụ máu; Cải soong (Nasturtium officinale R.Br) giải nhiệt, chữa lở mồm, chảy máu chân răng, bướu cổ . Vào giữa thế kỷ XVI Lý Thời Trân đã thống kê được 12.000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục” được nhà xuất bản Y học trích dẫn 1963 [23]. Trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông nam Á, Perry đã nghiên cứu hơn 1000 tài liệu khoa học về thực vật và dược liệu đã được công bố và được các nhà khoa học kiểm chứng (trong đó có 146 loài có tính kháng khuẩn) và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc của vùng Đông và Đông nam Á “Medicinal Plants of East and Southeast Asia” Ngày nay theo thống kê của WWF trên thế giới có khoảng 250.000 - 270.000 loài thực vật bậc cao thì có đến 35.000 - 70.000 loài được sử dụng vào mục đích chữa bệnh . Trong đó Trung quốc có trên 10.000 loài, Ấn độ có khoảng 7.500 - 8.000 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Nepal có hơn 700 loài, Srilanka có khoảng 550 - 700 loài [33], Hàn Quốc có khoảng 1.000 loài có thể sử dụng được trong Y học truyền thống [28]. Châu Mỹ la tinh nơi có chứa 1/3 số loài thực vật trên thế giới cũng có truyền thống sử dụng cây cỏ làm thuốc, đặc biệt là ở người dân bản địa. Schule đã phát hiện gần 2.000 loài cây thuốc được sử dụng ở vùng Amazon thuộc Colombia . Các quốc gia Châu Phi số loài cây thuốc ít hơn như Somalia có 200 loài , Botswana có 314 loài . Tuy nhiên nguồn tái nguyên cây thuốc đang bị đe dọa nghiêm trọng do thảm thực vật bị tàn phá, cây thuốc bị khai thác quá mức và bị sử dụng lãng phí; Tri thức sử dụng cây thuốc bị mai một do không được tư liệu hóa, thế hệ trẻ ở nhiều cộng đồng ít quan tâm đến học tập kinh nghiệm của sử dụng cây cỏ làm thuốc của thế hệ trước ; do tính khó sử dụng của dược liệu... Ngày nay trong xu thế phát triển toàn cầu, các ngành công nghiệp được phát triển mạnh mẽ dẫn tới môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, đời sống kinh tế xã hội ngày càng cao do vậy việc sử dụng cây thuốc
  7. 5 phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe ngày một lớn điều đó dẫn tới việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc không theo kịp so với nhu cầu phát triển của xã hội đã đem lại lợi nhuận cho ngành công nghiệp dược vô cùng lớn. Theo thống kê trên toàn thế giới, giá trị của công nghiệp dược sử dụng cây cỏ là 800 tỷ USD/năm . Ở Trung quốc tiêu thụ hàng năm hết 700.000 tấn dược liệu, sản phẩm y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,7 tỷ USD vào năm 1986. Tại các nước có nền công nghiệp phát triển mức độ sử dụng cây thuốc ngày càng tăng. Ngày nay, có khoảng 40 % dân số các nước công nghiệp phát triển sử dụng các dạng thuốc bổ sung. Tổng giá trị về thuốc có nguồn gốc thực vật trên thị trường Âu -Mỹ và Nhật Bản vào năm 1985 lá 43 tỷ USD . Doanh số bán thuốc cây cỏ ở các nước Tây Âu năm 1989 là 2,2 Tỷ USD so với tổng doanh số buôn bán dược phẩm là 65 tỷ USD[12] . Theo WB, nguồn tài nguyên cây thuốc là một trong những nguồn tài nguyên giá trị nhất ở vùng nhiệt đới. Dự đoán, nếu phát triển tối đa các thuốc thảo mộc từ các nước nhiệt đới, có thể làm ra 900 tỷ USD mỗi năm cho nền kinh tế các nước thế giới thứ 3 [12]. Trên thế giới có rất nhiều loài cây thuốc quý hiếm nhưng do chiến tranh, ô nhiễm môi trường và con người khai thác bừa bãi cho nên đã trở nên rất nguy cấp và có nhiều loài đã bị tuyệt chủng (Theo công ước đa dạng sinh học 1992). Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn trăm năm trở lại đây có khoảng 1000 loài thực vật có lẽ đã bị tuyệt chủng có tới 60.000 loài có thể bị gặp rủi ro hoặc sự tồn tại của chúng là mong manh vào giữa thế kỷ nếu chiều hướng đe dọa này vẫn tiếp diễn. Trong số những loài thực vật bị mất đi hoặc bị đe dọa đương nhiên có nhiều loài cây thuốc. Do vậy song song với việc nghiên cứu và sử dụng cây thuốc, một vấn đề cấp bách khác đó là bảo tồn tri thức sử dụng và cây thuốc cũng cần phải quan tâm. 1988, hội thảo (consultation) quốc tế về bảo tồn cây thuốc đã được tổ chức tại Chiang Mai Thái Lan với sự tham gia của 24 chuyên gia y tế và bảo tồn cây cỏ, đến từ 16 quốc gia thuộc các khu vực khác nhau trên thế . Kết quả là “ Tuyên ngôn Chiang mai” đã ra đời . Bản tuyên ngôn đánh giá cao tầm quan trọng của cây thuốc trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, giá trị kinh tế và tiềm năng của cây
  8. 6 cỏ đối với việc tìm ra thuốc mới. Đồng thời báo động về mất tính đa dạng sinh vật cây cỏ và các nền văn hóa trên thế giới có thể ảnh hưởng đến việc tìm kiếm thuốc mới mang lại lợi ích toàn cầu. Tuyên bố Chiang Mai cũng chỉ ra sự cấp thiết cần hợp tác ở mức độ toàn cầu để thiết lập các chương trình bảo tồn cây thuốc. Thế kỷ XXI khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển kéo theo nó là sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe con người và chữa trị các bệnh nan y ngày càng cấp thiết. Cho nên việc khai thác kết hợp với bảo tồn phát triển các loài cây thuốc là rất quan trọng. 1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở việt nam Việt Nam được đánh giá là nước đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú và đa dạng sinh vật. Trong đó, hệ thực vật cũng rất phong phú và đa dạng. Hiện nay, đã biết 10.386 loài thực vật bậc cao có mạch, dự đoán có thể tới 12.000 loài. Trong số đó có khoảng 6.000 loài cây có ích [24], được sử dụng làm thuốc, rau ăn, lấy gỗ, nhuộm... Nguồn tài nguyên cây cỏ chủ yếu tập trung ở 6 trung tâm đa dạng sinh vật trong cả nước là Đông Bắc, Hoàng Liên Sơn, Cúc Phương, Bạch Mã, Tây Nguyên và cao nguyên Đà Lạt [7]. Nền Y học cổ truyền của Việt nam đã có từ lâu đời, nhiều bài thuốc, cây thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian có hiệu quả. Qua quá trình phát triển của dân tộc, các kinh nghiệm dân gian quý báu đó đã dần đúc kết thành những cuốn sách có giá trị được gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của các danh y nổi tiếng và được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân. Đời nhà Trần (1225-1399) có sự kiện, Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn, thu thập trồng một vườn thuốc lớn để chữa bệnh cho quân sỹ trên núi gọi là “ Sơn dược’ hiện vẫn còn di tích để lại tại một quả đồi thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, Tỉnh Hải Dương. Vào thế kỷ XIII có hai danh y nổi tiếng đó là Phạm Công Bân và thầy thuốc Tuệ Tĩnh, tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, vào đầu thế kỷ XIV ông biên soạn bộ “ Nam dược thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam, trong đó có 241 vị
  9. 7 thuốc có nguồn gốc thực vật. Ngoài ra ông còn viết “Hồng nghĩa giác tư y thư” gồm 2 bài hán nôm phú , tóm tắt công dụng của 130 loài cây thuốc cùng 13 đơn thuốc và cách chữa trị 37 chứng sốt khác nhau [22] Tuệ Tĩnh được coi là một bậc danh y kỳ tài trong lịch sử Y học của nước ta, là “Vị thánh thuốc nam”, ông chủ trương lấy “ Nam dược trị nam nhân” trong bộ sách quý của ông sau này bị quân minh thu gần hết chỉ còn lại những tác phẩm như “ Nam dược thần hiệu”; “Tuệ Tĩnh Y thư”; “Thập tam phương gia giảm”; “ Thương hàn tam thập thất trùng pháp”[22] Sau khi Tuệ Tĩnh mất đi một thời gian dài không thấy xuất hiện tác giả nào, mãi đến thời Lê Dụ Tông xuất hiện Hải Thượng Lãn Ông tên thực là Lê Hữu Trác (1721-1792) Ông là người am hiểu nhiều về y học, sinh lý học, đọc nhiều sách thuốc. Trong 10 năm khổ công tìm tòi nghiên cứu Ông viết bộ “Lãn ông tâm lĩnh” hay “ Y tôn tâm lĩnh” gồm 66 quyển đề cập đến nhiều vấn đề về y dược như: “Y huấn cách ngôn”, “Y lý thân nhân”, “Lý ngôn phụ chính”, “Y nghiệp thần chương” xuất bản năm 1772. Trong bộ sách này ngoài kế thừa “Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh Ông còn bổ sung thêm 329 vị thuốc mới. Mặt khác ông còn mở trường đào tạo y sinh truyền bá tư tưởng, hiểu biết của mình về y học do vậy ông còn được mệnh danh là ông tổ sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam[9] Thời kỳ 1884-1945, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, loại Y học dân tộc của nước ta ra khỏi chính sách bảo hộ, việc nghiên cứu cây thuốc gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên có một số nhà thực vật học, dược học người pháp nghiên cứu với mục đích chính là khai thác tài nguyên tiêu biểu là: Crevot; Petelot... đã thống kê được 1482 vị thuôc sthảo mộc trên 3 nước Đông Dương [30]. Ngay sau khi đất nước được thống nhất, công tác điều tra nghiên cứu cây thuốc đã có nhiều thành tích đáng kể. Điển hình là công trình “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (đã tái bản nhiều lần) giới thiệu 792 loài thực vật làm thuốc. Năm 2005 tái bản lần thứ 13 Trong đó ông đã mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hoá học, chia tất cả các cây thuốc trong đó theo các nhóm bệnh khác nhau [16]. Đây là một bộ sách có giá trị lớn về khoa học
  10. 8 và thực tiễn, kết hợp giữa khoa học dân gian với khoa học hiện đại. Năm 1980 Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện “Sổ tay cây thuốc Việt nam” [1] Đề cập đến cây thuốc trong hệ thực vật Việt Nam Võ Văn Chi là người đầu tiên có tâm huyết, năm 1976 trong luận án PTS khoa học của mình, ông đã thống kê có 1360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở miền Bắc. đến 1991 trong một báo cáo tham gia hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ II ở thành phố Hồ Chí Minh tác giả đã giới thiệu một danh sách các loài cây thuốc ở Việt Nam có 2280 loài cây thuốc bậc cao có mạch, thuộc 254 họ trong 8 ngành. Năm 1996 tác giả giới thiệu “ Từ điển cây thuốc Việt Nam” giới thiệu 3.200 loài cây thuốc [6] đây là một công trình khoa học có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn phục vụ cho ngành dược và các nhà thực vật học. Các kết quả điều tra dược liệu của Viện Dược liệu từ năm 1961 đến 1985 đã phát hiện 1.863 loài cây thuốc, trong 1033 chi, 236 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành được xếp loại theo hệ thống của nhà thực vật học Takhtajan . Đến năm 2000, số loài cây thuốc đã tăng lên tới 3.849 loài thuộc 307 họ thực vật [24]. Theo Đỗ Huy Bích, Nguyễn Tập, Lê Tùng Châu... hàng năm nước ta khai thác và sử dụng tới 300 loài cây thuốc ở các mức độ khác nhau [2]. Khó mà thống kê được một cách đầy đủ khối lượng dược liệu tự nhiên được khai thác bởi lễ hàng năm ngoài cơ sở sản xuất của nhà nước còn có những cơ sở của tư nhân, của những ông lang bà mế và người dân từng địa phương tự thu hái về chữa bệnhtheo kinh nghiệm dân gian. Theo Nguyễn Khang và Vũ Quang Chương thì trong vòng vài chục năm gần đây nước ta đã xuất khẩu một lượng dược liệu khá lớn khoảng 20 triệu US$ và lượng tinh dầu là 20-30 triệu US$ chưa kể giá trị xuất khẩu tiểu ngạch và buôn lậu qua biên giới. [12]. Song đối với các dân tộc Việt Nam thì ít có công trình nghiên cứu đến, công trình nghiên cứu đầu tiên của Võ Thị Thường (1986) đã nghiên cứu các loài cây ăn được của đồng bào Mường trong đó tác giả giới thiệu 89 loài thuộc 38 họ [21] tác giả cũng đưa ra một số nhận xét giữa việc sử dụng một số cây của
  11. 9 đồng bào Mường với điều kiện sống và nơi sống của họ. Đặc biệt năm 1994, trong công trình nghiên cứu cây thuốc Lâm Sơn - Lương Sơn Hà Sơn Bình, Nguyễn Nghĩa Thìn đã giới thiệu 112 loài thuộc 50 họ [29]. Năm 1990-1995 trong hội thảo quốc tế lần thứ 2 về Dân tộc sinh học tại Côn Minh - Trung Quốc Nguyễn Nghĩa Thìn đã giới thiệu lịch sử nghiên cứu về vấn đề dân tộc dược học, giới thiệu 2300 loài thuộc 1136 chi, 234 họ thuộc 6 ngành thực vật có mạch bậc cao Việt Nam được sử dụng làm thuốc và giới thiệu hơn 1000 bài thuốc được thu thập ở Việt Nam. Trần Văn Ơn trong luận án tiến sĩ của mình đã xác định ở Vườn quốc gia Ba Vì có 503 loài cây thuốc được người Dao sử dụng để chữa 131 loại bệnh [17] Cao Thị Hải Xuân nghiên cứu về cây thuốc VQG Cát Bà thì có 443 loài thuộc thuộc 335 chi, 118 họ chữa 15 nhóm bệnh khác nhau [25]. Như vậy, mặc dù chưa thống kê đầy đủ song các dẫn liệu kể trên cũng đã nói lên sự phong phú và tầm quan trọng của nguồn tài nguyên cây thuốc của Việt Nam. Đáng tiếc rằng hiện nay nguồn tài nguyên thực vật nói chung và nguồn cây thuốc nói riêng không còn nguyên vẹn nữa. Nạn phá rừng, đốt nương làm rẫy, khai thác ồ ạt dẫn tới nguồn tài nguyên cây thuốc ngày càng cạn kiệt, nhiều loài cây thuốc bị giảm về trữ lượng như Bình vôi nhị ngắn (Stephania brachyandra), Chùa dù (Elsholtzia penduliflora), Tục đoạn (Dipsacus asper),… Đặc biệt đối với những cây quý hiếm thì tình trạng suy kiệt càng trở nên gay gắt hơn như: Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus), Tam thất hoang (Panax stipuleanatus), Ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus)… hiện lâm vào tình trạng bị đe dọa tuyệt chủng. 1.3. Một số nghiên cứu về thực vật tại Vườn quốc gia Cúc phương Cúc Phương là Vườn quốc gia được thành lập đầu tiên tại Việt Nam ngày 7/7/1962. Qua hơn 45 năm xây dựng và phát triển công tác nghiên cứu khoa học đã để lại cho chúng ta nhiều nguồn tư liệu quý mà điển hình là một số công trình sau: Lê Viết Lộc (1965): “Bước đầu điều tra thảm thực vật rừng Cúc phương” tác giả đã xác định và xây dựng bản đồ của 11 loại hình ưu thế [15].
  12. 10 Thạch Bích và cộng sự (1972): “Báo cáo kết quả công tác điều tra cây thuốc trong khu rừng Cúc Phương” tuy đã thống kê được 438 loài cây làm thuốc dân gian và nhiều loài cây là nguồn dược liệu quý. Nhưng mới chỉ dừng lại ở việc thống kê tên loài mà chưa có những phân tích về tác dụng chữa bệnh, phân bố, sinh thái ...[4] Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ (1996): “Tính đa dạng thực vật Cúc Phương” các tác giả đã thống kê được 1944 loài thuộc 912 chi, 219 họ, 86 bộ của 7 ngành thực vật bậc cao. Trong đó có nhiều loài cây làm thuốc nhưng chưa được mô tả cụ thể mà chỉ thống kê các loài [14]. Nguyễn Văn Hiệu (1997): “Điều tra cây thuốc và bài thuốc của dân tộc Mường ở Xã Cúc Phương , Huyện Nho Quan, Tỉnh Ninh Bình” công trình tốt nghiệp Dược sỹ đại học, Trường Đại học Dược Hà Nội. Công trình mới chỉ giới hạn các cây thuốc và bài thuốc ở Xã Cúc Phương do vậy chưa thực sự đầy đủ [10]. Lê Văn Tấc, Trần Quang Chức, Nguyễn Mạnh Cường, Lê Phương Triều, Đỗ Xuân Lập (1997): “Danh Lục Thực vật Cúc Phương” Các tác giả đã thống kê được 1983 loài của 915 chi, thuộc 229 họ trong 7 ngành thực vật. Danh lục này đã thống kê và mô tả được tên khoa học, dạng sống, đặc điểm vật hậu và công dụng tuy nhiên chưa đầy đủ và còn nhiều loài chưa có thông tin. Đặc biệt đã thống kê và mô tả được trên 400 loài cây thuốc [20]. Từ năm 1998 tới 2008, Chương trình các nhóm hợp tác quốc tế nghiên cứu đa dạng sinh học (ICBG) do Viện Bảo vệ sức khỏe Hoa Kỳ (NIH) tài trợ theo: NIH Grant 1-UO1-TW01015-01 và NIH Grant 2 U01 TW001015-08, Vườn Quốc gia Cúc Phương đã hợp tác với Viện Sinh thái và Tài Nguyên Sinh vật thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Trường Đại học Chicago, Fiel Museum, Hoa Kỳ đã điều tra thu và định loại được hàng ngàn tiêu bản thực vật bậc cao có mạch. Trên cơ sở các mẫu vật đã thu được, năm 2004, các nhà thực vật của các cơ quan hợp tác đã xuất bản cuốn sách: Seed Plants of Cuc Phuong National Park. A documented Checklist. Đây là tác phẩm thống kê đầy đủ và khoa học nhất 1.926 loài thực vật bậc cao có hoa của VQG Cúc Phương . Khác với tất cả các nghiên cứu trước đây về
  13. 11 hệ thực vật của VQG Cúc Phương, trong tác phẩm này mỗi loài được bảo đảm ít nhất bằng 1 tiêu bản thực vật trích dẫn [ 32] Từ năm 1999 đến năm 2003, Dự án AP4-ICBG thuộc chương trình các nhóm hợp tác quốc tế nghiên cứu đa dạng sinh học (ICBG) do Viện Bảo vệ sức khỏe Hoa Kỳ (NIH) tài trợ, đã tiến hành điều tra, phỏng vấn các thầy Lang trong khu vực, đã tập hợp được 394 loài cây thuốc được cộng đồng người Mường dùng để chữa trị 19 nhóm bệnh. Dự án cũng tổng kết được trên 50 bài thuốc của dân làng và các thầy lang địa phương [26]. Đúc kết các kết quả nghiên cứu các tác giả Lê Thị Xuân và D.D. Soejarto cho ra đời “ Tuyển chọn những cây thuốc của cộng đồng người dân tộc Mường ở Vườn quốc gia Cúc phương”. Các tác giả đã giới thiệu khá chi tiết về tên khoa học, mô tả các đặc điểm nhận biết, công dụng, bộ phận sử dụng và cách dùng của 150 loài cây thuốc phổ biến do chính bà con ở cộng đồng sử dụng cho bản thân và chữa bệnh cho người sinh sống xung quanh [27]. Từ năm 1998, hệ thực vật có hoa của Cúc Phương cũng được quan tâm nghiên cứu trên các lĩnh vực đa dạng loài, phân bố sinh thái, tình trạng bảo tồn, sử dụng thuốc cổ truyền và tiềm năng nguồn dược liệu bởi một nhóm hợp tác nghiên cứu quốc tế có tên gọi là UIC ICBG . “Cuốn Sổ tay định loại thực vật có hoa của Vườn quốc gia Cúc Phương” là kết quả bước đầu của UIC ICBG hợp tác với Vườn quốc gia Cúc phương [18]. Tổng hợp một phần các kết quả nghiên cứu trong hơn 45 năm qua các tác giả Trương Quang Bích, Nguyễn Mạnh Cường, Đỗ Văn Lập, D.D Soejarrto, Mai Văn Xinh, Nguyễn Huy Quang giới thiệu cuốn sách ảnh “Một số loài thực vật phổ biến ở Cúc Phương” gồm 294 loài được mô tả khá chi tiết về hình ảnh, hình thái , sinh thái, giá trị sử dụng [3]. Nhìn chung từ khi thành lập Vườn đến nay đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về Cúc Phương, trong đó cũng có một số nghiên cứu về cây thuốc ở Cúc phương tuy nhiên những nghiên cứu đó chưa thực sự đầy đủ do vậy để góp phần vào nghiên cứu và phát triển bền vững cây thuốc ở Cúc phương chúng tôi tiếp tục
  14. 12 chọn đề tài “Điều tra và đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc ở Vườn quốc gia Cúc Phương làm cơ sở cho công tác bảo tồn, sử dụng và phát triển bền vững chúng”
  15. 13 Chương 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1. Điều kiện tự nhiên* 2.1.1. Vị trí địa lý. Vườn quốc gia Cúc Phương nằm trên tọa độ địa lý từ 20014' đến 20024' vĩ độ Bắc và từ 105029' đến 105044' kinh độ Đông. Cách Hà Nội 120 km về phía Tây Nam theo đường ô tô và cách biển Đông 60 km theo đường chim bay về phía Đông. Vườn có tổng diện tích 22.200ha, chiều dài khoảng 30km, rộng 8-10km, trong đó 11.350 ha (51,1%) thuộc tỉnh Ninh Bình, 5850ha (26,4%) thuộc tỉnh Hoà Bình, 5000ha (22,5%) thuộc tỉnh Thanh Hoá. 2.1.2. Lịch sử địa chất và địa hình. 2.1.2.1. Lịch sử địa chất. Cúc Phương nằm trong vùng đất được hình thành do vận động tạo sơn kỷ Kimeri (cuối kỷ Jura đầu kỷ Bạch phấn). Theo bản đồ địa chất Việt Nam tỷ lệ 1/500.000 thì Cúc Phương thuộc phức hệ đá vôi Triat trung, bậc Ladoni, tầng Đồng giao, có liên hệ với dạng đá vôi Tây bắc Việt Nam. Nhìn chung Cúc Phương có lịch sử địa chất rất lâu đời, là cơ sở cho việc hình thành lớp đất dầy và rất thuận lợi cho sự phát triển của hệ thực vật 2.1.2.2. Địa hình. Vườn quốc gia Cúc Phương nằm ở phần cuối của hai dãy núi đá vôi từ Tây Bắc chạy về. Xen kẽ giữa các núi đá vôi là núi đất và thung đất, 3/4 diện tích Cúc Phương là núi đá vôi, có độ cao tuyệt đối trung bình 300 -400m. Núi cao nhất là đỉnh Mây bạc (656m) nằm ở phía Tây Bắc và thấp dần về hai phía Tây Nam và Đông Nam. Cúc Phương nằm vào dạng địa hình Castơ nửa che phủ khác với địa hình Castơ che phủ Đồng Giao và Castơ trọc Gia Khánh, Cúc Phương nằm trọn vẹn trong cảnh địa lý đối Castơ xâm thực. 2.1.3. Thổ nhưỡng. Đất Cúc Phương gồm hai nhóm chính: *) Nhóm A: Đất phát triển trên đá vôi hoặc trên sản phẩm chịu ảnh hưởng nhiều của nước cacbonat. Trong nhóm chính này có 4 loại chính và 10 loại phụ.
  16. 14 4 loại chính là: Loại 1: Đất renzin mầu đen trên đá vôi. Loại 2: Đất renzin mầu vàng trên đá vôi. Loại 3: Đất renzin mầu đỏ trên đá vôi. Loại 4: Đất Macgalit - Feralit vàng. *) Nhóm B: Đất phát triển trên đá không vôi hoặc trên sản phẩm ít chịu ảnh hưởng nhiều của nước Cacbonat. Trong nhóm này có 3 loại chính và loại phụ. 3 loại chính là: Loại 1: Đất Feralit vàng phát triển trên sa thạch. Loại 2: Đất Feralit vàng, nâu, xám, tím phát triển trên Azgilit. Loại 3: Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên diệp thạch sét. Dựa vào kết quả phân tích có thể nhận xét về đất Cúc Phương như sau. Đất tơi xốp, với độ xốp khá cao (60-65%). Đất có hàm lượng mùn lớn và thấm sâu (4 -5%). Đất có khả năng hấp thụ khá. Đất có thành phần cơ giới trung bình. "Như vậy đất Cúc Phương nói chung là tốt, có thể nói là hiếm, có giá trị, rất xứng đáng với địa vị thảm thực vật rừng che phủ trên nó mà mọi người ca ngợi" Nguyễn Xuân Quát (1971). 2.1.4. Khí hậu thủy văn. 2.1.4.1. Chế độ nhiệt. Kết quả quan trắc 15 năm của trạm khí tượng Bống, cho thấy nhiệt độ trung bình năm là 20,60c. Năm 1966 nhiệt độ bình quân năm lớn nhất là 21,20C. Năm 1971 nhiệt độ bình quân năm thấp nhất là 19,90C. Như vậy chênh lệch giữa nhiệt độ bình quân chung so với nhiệt độ bình quân năm cao và năm thấp chỉ khoảng 10C (0,60C và 0,70C). Nhiệt độ bình quân năm tương đối ổn định là một thuận lợi cho sự phát triển của hệ thực vật ở đây. Tuy nhiên, do địa hình núi đá vôi nên nhiệt độ cực hạn ở đây có thể biến động rất lớn, có năm rất lạnh nhưng chỉ kéo dài 4-5 ngày hoặc rất nóng chỉ 1-2
  17. 15 ngày. Trong 15 năm quan trắc nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 0,70C (18/1/1967) và nhiệt độ tối cao tuyệt đối là 39,50C (20/7/1979). Chế độ nhiệt ở Cúc Phương chịu ảnh hưởng của độ cao và thảm thực vật rừng. Điều đó được thể hiện từ số liệu quan trắc của 3 trạm khí tượng như sau: Ở Trạm Bống, là trung tâm rừng nguyên sinh có độ cao so với mặt biển từ 300 - 400m, thảm thực vật rừng tươi tốt, nhiệt độ bình quân năm là 20,60C. Ở Trạm Đang, nằm ở vùng rừng thứ sinh, rừng có chất lượng xấu, một số đã bị khai thác chọn hoặc làm nương rẫy. Độ cao so với mặt biển 200-250m. Nhiệt độ bình quân năm 21,80 C, cao hơn ở Bống 1,20 C. Ở Trạm Nho Quan, nằm ngoài ranh giới Vườn, cách trung tâm Vườn 20 km, ở đây không có rừng, độ cao so với mặt biển là 20m, nhiệt độ bình quân năm là 22,7 0 C, cao hơn nhiệt độ bình quân của Bống 2,1 0 C và cao hơn nhiệt độ bình quân của Đang 0,9 0 C. 2.1.4.2. Chế độ mưa. Lượng mưa bình quân năm của Cúc Phương biến động từ 1800mm đến 2400mm, bình quân năm là 2138mm/năm. Đó là lượng mưa tương đối lớn so với vùng xung quanh. Nếu tính tháng có lượng mưa từ 100mm là tháng mưa thì ở đây có tới 8 tháng và mùa mưa kéo dài từ tháng IV đến tháng XI. Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng IX là 410,9mm, trong khi đó các tháng XII, I, II và III lượng mưa chưa được 50mm. Mặc dù mùa khô có 4 tháng nhưng phân biệt rất rõ với mùa mưa. Mưa ít cộng với nhiệt độ thấp làm cho khí hậu ở Cúc Phương tương đối khắc nghiệt về mùa đông. 2.1.4.3. Độ ẩm không khí. Độ ẩm tương đối không khí trung bình năm ở Cúc Phương là 90% và tương đối đều trong năm, tháng thấp nhất không dưới 88%. Trong khi đó độ ẩm tuyệt đối biến thiên giống như nhiệt độ trong không khí.
  18. 16 Bảng 2.1: Các chỉ tiêu khí hậu cơ bản khu vực Vườn quốc gia Cúc Phương. Tháng Nhiệt độ (00C) Lượng mưa (mm) Độ ẩm (%) 1 13,9 23,3 91 2 15,1 31,9 91 3 17,2 42,4 92 4 21,5 95,4 91 5 24,6 221,2 89 6 25,5 295,7 90 7 25,8 308,4 90 8 25,1 357,2 92 9 23,7 410,9 91 10 21,1 208,0 89 11 17,5 121,0 89 12 15,4 32,3 88 TB= 20,6 TB= 2.147,7 TB =90 Kết quả nghiên cứu khí hậu tập hợp trong Bảng 2.1 vẽ theo phương pháp Gausen Walter, để thấy được mức độ biến động về các nhân tố trên.
  19. 17 Biểu đồ 2.1 Biểu đồ khí hậu Gaussen Walter khu vực VQG Cúc Phương 450 400 350 300 250 Nhiệt độ (00C) Lượng mưa (mm) 200 Độ ẩm (%) 150 100 50 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Các tháng trong năm 2.1.4.4. Chế độ gió. Vườn quốc gia Cúc Phương nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng bởi gió mùa Đông Bắc về mùa Đông và gió mùa Đông Nam về mùa hè. Ngoài ra về mùa hè nhiều ngày có gió lào thổi mạnh. Tuy vậy do điều kiện địa hình, gió sau khi vượt qua các yên ngựa và hẻm núi đi sâu vào rừng bị thay đổi hướng rất nhiều và tốc độ gió thường là 1-2m/s. 2.1.4.5. Thủy văn. Do ở Cúc Phương là địa hình Castơ nên ở đây có ít dòng chảy, ngoại trừ sông Bưởi và sông Ngang ở phía Bắc có nước quanh năm, còn lại là các khe suối cạn có nước theo mùa, sau cơn mưa, khe khô dẫn nước vào lỗ hút, chảy ngầm rồi phun ra ở một số vó nước. Chỗ nào nước không hút kịp thì ứ đọng lại, gây nên ngập úng tạm thời. (*) Các số liệu về Điều kiện tự nhiên trình bày ở mục 2.1 tham khảo tài liệu của Đào Văn Khương và cộng sự xuất bản năm 2002 [13].
  20. 18 2.1.5. Tài nguyên thiên nhiên. 2.1.5.1. Hệ thực vật. Vườn quốc gia Cúc Phương có 20.473ha rừng trong tổng số diện tích 22.200ha (chiếm 92,2%). Thảm thực vật ở đây là rừng mưa nhiệt đới thường xanh, Cúc Phương là nơi rất đa dạng về cấu trúc tổ thành loài trong hệ thực vật. Với diện tích chỉ có 0,07% so với cả nước, nhưng lại có số họ thực vật chiếm tới 57,93%; số chi 36,09% và số loài chiếm 17,27% trong tổng số họ, chi và loài của cả nước. Cúc Phương là nơi hội tụ của nhiều luồng thực vật di cư cùng sống với nhiều loài bản địa. Đại diện cho thành phần bản địa là các loài trong họ Long não (Lauraceae), Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Xoan (Meliaceae). Đại diện cho luồng di cư từ phương Nam ấm áp là các loài trong họ Dầu (Dipterocarpaceae). Đại diện cho luồng thực vật có nguồn gốc từ phương Bắc là các loài trong họ Giẻ (Fagaceae). Cúc Phương còn diện tích rừng nguyên sinh đáng kể, chủ yếu tập trung trên vùng núi đá vôi và ở các thung lũng trung tâm Vườn. Chính do vị trí, đặc điểm khí hậu địa hình và môi trường sinh thái đặc biệt nên đã dẫn đến kết cấu tổ thành loài của rừng Cúc Phương rất phong phú. Kết quả điều tra những năm gần đây (2001) đã thống kê được 2.103 loài thuộc 917 chi, 231 họ của 7 ngành thực vật bậc cao. trong đó có rất nhiều loài có giá trị: 229 loài cây ăn được, 240 loài cây có thể sử dụng làm thuốc chữa bệnh nhuộm, 137 loài cho tanin..., 118 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam và IUCN. Bảng 2.2. Thống kê số lượng Taxon trong các ngành thực vật bậc cao ở Cúc Phương TT Ngành Bộ Họ Chi Loài 1 Ngành Rêu (Bryophyta) 9 31 74 127 2 Ngành Quyết lá thông 1 1 1 1 (Psilotophyta) 3 Ngành Thông đất 2 2 2 9
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2