intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh: Ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh ở Việt Nam - thực trạng phát triển và một số đề xuất, kiến nghị

Chia sẻ: Cxzvscv Cxzvscv | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:116

0
88
lượt xem
27
download

Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh: Ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh ở Việt Nam - thực trạng phát triển và một số đề xuất, kiến nghị

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh: Ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh ở Việt Nam - thực trạng phát triển và một số đề xuất, kiến nghị trình bày về ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh vài vai trò của nó đối với nền kinh tế, thực trạng phát triển ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh ở Việt Nam thời gian qua, một số đề xuất, kiến nghị phát triển ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh ở Việt Nam trong thời gian tới.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh: Ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh ở Việt Nam - thực trạng phát triển và một số đề xuất, kiến nghị

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI ----------------- LÊ THỊ KIM THANH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NGOÀI QUỐC DOANH Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh Mã số : 60.34.05 LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS, TS HOÀNG VĂN CHÂU
  2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG HÀ NỘI ----------------- LÊ THỊ KIM THANH NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI NGOÀI QUỐC DOANH Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh Mã số : 60.34.05 LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS, TS HOÀNG VĂN CHÂU HÀ NỘI - 2008
  3. 1 LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức tài chính trung gian, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Hầu hết các nƣớc phát triển trên thế giới đều xây dựng đƣợc một hệ thống ngân hàng hiện đại, mức độ tự động hoá cao, các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phong phú, đa dạng, ... Dịch vụ ngân hàng trở thành thiết yếu đối với đời sống ngƣời dân, các công ty và các tổ chức. Việt nam là nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển muộn, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng còn nhiều hạn chế. Ngân hàng thƣơng mại quốc doanh là những ngân hàng dẫn đầu, có tiềm lực vốn mạnh và đã xây dựng đƣợc một cơ sở khách hàng tƣơng đối vững chắc. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế-xã hội, đời sống của ngƣời dân đƣợc nâng cao, nhu cầu về dịch vụ ngân hàng của các cá nhân, tổ chức ngày càng gia tăng, các ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh đƣợc thành lập nhiều, ngày càng phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế - xã hội. Bên cạnh những thành tựu đạt đƣợc, còn tồn tại một số hạn chế nhất định, đòi hỏi các ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh phải luôn luôn ý thức và nỗ lực nhiều hơn để tồn tại, phát triển và cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt, việc thành lập quá nhiều ngân hàng thƣơng mại thuộc doanh nghiệp, vấn đề đầu tƣ tràn lan vào các lĩnh vực khác đã làm suy yếu vai trò, chức năng của ngân hàng, gây ảnh hƣởng xấu đến nền kinh tế. Xuất phát từ tình hình trên, tác giả muốn tập trung tìm hiểu về thực trạng phát triển ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh Việt nam thời gian qua và từ đó đƣa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm phát triển lành mạnh hệ thống ngân hàng.
  4. 2 2. Mục đích nghiên cứu đề tài Phân tích và chỉ ra những bất cập, hạn chế trong quá trình phát triển ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh ở Việt nam thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển đúng hƣớng ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh ở Việt nam trong thời gian tới. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh Phạm vi nghiên cứu là tập trung vào tìm hiểu, phân tích thực trạng, tình hình phát triển của ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh ở Việt nam trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến hết quý I/2008. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài Để thực hiện đƣợc mục đích nghiên cứu trên, cần thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau: - Tìm hiểu một số khái niệm lý thuyết liên quan đến ngân hàng thƣơng mại nói chung và ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh nói riêng - Các loại hình ngân hàng thƣơng mại ở Việt nam - Vai trò của ngân hàng thƣơng mại đối với nền kinh tế - Phân tích thực trạng phát triển ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh ở Việt nam thời gian qua, một số thành tựu cũng nhƣ hạn chế trong những mặt cụ thể - Đƣa ra quan điểm, định hƣớng chung của Đảng, Nhà nƣớc về phát triển ngân hàng thƣơng mại thời gian tới - Tìm hiểu kinh nghiệm phát triển ngân hàng thƣơng mại của một số nƣớc trên thế giới - Đƣa ra một số đề xuất, kiến nghị cá nhân để phát triển ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh thời gian tới.
  5. 3 5. Tình hình nghiên cứu Tài liệu và các công trình nghiên cứu về ngân hàng thƣơng mại quốc doanh đã có rất nhiều. Đối với ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh, trong đó ngân hàng thƣơng mại cổ phần mới phát triển nổi bật trong vòng 2 năm trở lại đây, đặc biệt là năm 2007, do vậy cũng chƣa có một tài liệu thống kê, phân tích cụ thể, chính xác, mang tính chất tổng hợp về các ngân hàng thƣơng mại cổ phần. Bên cạnh đó, năm 2007 là năm mà các tập đoàn, các (tổng) công ty có xu hƣớng thành lập ngân hàng riêng, đây là vấn đề thời sự mang tính chất nóng bỏng, nhƣng chƣa có tiền lệ ở Việt nam, cũng nhƣ rất ít gặp trên thế giới. Do vậy, các tài liệu nghiên cứu, tổng kết về vấn đề này cũng không nhiều. Mặc dù các tài liệu về tập đoàn, đặc biệt là tập đoàn tài chính ngân hàngkhông nhiều, nhƣng luận văn cũng sử dụng những tài liệu này để phục vụ thêm cho mục đích nghiên cứu. Những tài liệu đó, cùng với những tài liệu về ngân hàng thƣơng mại nói chung sẽ đƣợc trích dẫn cụ thể trong phần tài liệu tham khảo. 6. Phương pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin đƣợc vận dụng xuyên suốt đề tài để đảm bảo tính liên kết về mặt thời gian và nội dung giữa các chƣơng, mục và tính hệ thống của đề tài. - Phƣơng pháp tiếp cận cá biệt và so sánh dùng để tìm hiểu thực trạng phát triển ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh của Việt nam thời gian qua trên số mặt cụ thể nhƣ vốn, công nghệ, nhân lực, dựa trên sự so sánh với ngân hàng thƣơng mại quốc doanh và kinh nghiệm của một số nƣớc trên thế giới. - Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu - Phƣơng pháp thống kê, tổng hợp, phân tích ...
  6. 4 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài “Ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh ở Việt nam - thực trạng phát triển và một số đề xuất, kiến nghị”, luận văn gồm 03 chƣơng với kết cấu nhƣ sau: - Chƣơng 1: Ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh và vai trò của nó đối với nền kinh tế - Chƣơng 2: Thực trạng phát triển ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh ở Việt nam thời gian qua - Chƣơng 3: Một số đề xuất, kiến nghị phát triển ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh ở Việt nam trong thời gian tới.
  7. 5 CHƢƠNG 1: NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI NGOÀI QUỐC DOANH VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ 1.1. Khái niệm ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh Việt nam 1.1.1. Ngân hàng thương mại Ngân hàng thƣơng mại là một trong những ngành công nghiệp lâu đời nhất. Ngân hàng thƣơng mại đầu tiên của Hoa Kỳ đƣợc thành lập vào năm 1782, trƣớc khi Hiến pháp Liên Bang đƣợc thông qua và những ngân hàng đƣợc thành lập từ những năm 1980 đến nay vẫn đang hoạt động. Trong các định chế tài chính, ngân hàng thƣơng mại là định chế quan trọng nhất [4]. Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho những ngƣời chủ sở hữu, tránh gây mất mát. Đổi lại, ngƣời chủ sở hữu phải trả cho ngƣời giữ một khoản tiền công. Khi công việc này mang lại nhiều lợi ích cho những ngƣời gửi, các đồ vật cần gửi ngày càng đa dạng hơn, và đại diện cho các vật có giá trị nhƣ vậy là tiền, dần dần, ngân hàng là nơi giữ tiền cho những ngƣời có tiền. Khi xã hội phát triển, thƣơng mại phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn, tức là phát sinh nhu cầu vay tiền ngày càng lớn trong xã hội. Khi nắm trong tay một lƣợng tiền, những ngƣời giữ tiền nảy ra một nhu cầu cho vay số tiền đó, vì lƣợng tiền trong tay họ không phải bao giờ cũng bị đòi trong cùng một thời gian, tức là có độ chênh lệch lƣợng tiền cần gửi và lƣợng tiền cần rút của ngƣời chủ sở hữu. Từ đó phát sinh nghiệp vụ đầu tiên nhƣng cơ bản nhất của ngân hàng nói chung, đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức tín dụng vay tiền của ngƣời gửi và cho các công ty và cá nhân vay lại. Tiền huy động đƣợc của ngƣời gửi gọi là “tài sản nợ” của ngân hàng. Tiền cho công ty và cá nhân vay lại cũng nhƣ tiền gửi
  8. 6 ở các ngân hàng khác và số trái phiếu ngân hàng sở hữu gọi là “tài sản có” của ngân hàng. Phần chênh lệch giữa số tiền huy động đƣợc và số tiền đem cho vay, gửi ngân hàng và mua trái phiếu gọi là vốn tự có của ngân hàng thƣơng mại. Phần tài sản có tính thanh khoản đƣợc giữ để đề phòng trƣờng hợp tiền gửi vào ngân hàng bị rút ra đột ngột gọi là tỷ lệ dự trữ của ngân hàng. Toàn bộ số vốn của ngân hàng đƣợc chia làm hai loại: vốn cấp 1 và vốn cấp 2. Vốn cấp 1, còn gọi là vốn nòng cốt, về cơ bản bao gồm vốn điều lệ cộng với lợi nhuân không chia cộng với các quỹ dự trữ đƣợc lập trên cơ sở trích lập từ lợi nhuận của tổ chức tín dụng nhƣ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tƣ phát triển. Vốn cấp 2 về cơ bản bao gồm: (i) phần giá trị tăng thêm do định giá lại tài sản của tổ chức tín dụng, (ii) nguồn vốn gia tăng hoặc bổ sung từ bên ngoài (bao gồm trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ƣu đãi và một số công cụ nợ thứ cấp nhất định) và (iii) dự phòng chung cho rủi ro tín dụng. Nhƣ vậy, ngân hàng thƣơng mại (ngân hàng trung gian) là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán [4]. Cách tiếp cận thận trọng là có thể xem xét ngân hàng trên phƣơng diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất. Một số định nghĩa dựa trên các hoạt động chủ yếu. Luật các Tổ chức tín dụng của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam: "hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.”
  9. 7 Hệ thống ngân hàng nƣớc ta là hệ thống ngân hàng hai cấp, trong đó ngân hàng Nhà nƣớc làm nhiệm vụ của Ngân hàng Trung ƣơng, còn các ngân hàng thƣơng mại và các tổ chức tín dụng khác hoạt động nhƣ là các ngân hàng trung gian thực hiện chức năng kinh doanh. 1.1.2. Ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh Việt nam Ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh Việt nam trƣớc hết là một ngân hàng thƣơng mại (phân biệt với ngân hàng Trung Ƣơng), có hoạt động kinh doanh và thực hiện các nghiệp vụ của một ngân hàng thƣơng mại nói chung nhằm mục tiêu lợi nhuận; nhƣng khi nói “ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh Việt nam” thì tức là chúng ta đang muốn nói đến hình thức và tính chất sở hữu, phân biệt nó với ngân hàng thƣơng mại quốc doanh Việt nam và ngân hàng thƣơng mại nƣớc ngoài khác. Ngân hàng thƣơng mại quốc doanh là ngân hàng thƣơng mại do Nhà nƣớc thành lập, để thực hiện một hoặc một số mục tiêu kinh tế nhất định của Nhà nƣớc thông qua các hoạt động, nghiệp vụ kinh doanh cụ thể. Ngân hàng thƣơng mại nƣớc ngoài ở Việt nam hiện nay bao gồm chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài, văn phòng đại diện ngân hàng nƣớc ngoài, ngân hàng 100% vốn nƣớc ngoài ... khi Việt nam gia nhập Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO) và theo lộ trình cam kết của Việt nam thì loại hình ngân hàng thƣơng mại nƣớc ngoài sẽ đƣợc mở rộng, đa dạng, cạnh tranh bình đẳng hơn với các ngân hàng thƣơng mại Việt nam trong việc thực hiện các giao dịch, nghiệp vụ ... Sau khi Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt nam tiến hành cổ phần hoá, nhƣng trong đó Nhà nƣớc vẫn nắm cổ phần chi phối thì hiện nay còn có một loại hình ngân hàng thƣơng mại mới, tạm gọi là ngân hàng thƣơng mại cổ phần Nhà nƣớc.
  10. 8 Ngân hàng thƣơng mại ngoài quốc doanh Việt nam có thể bao gồm các ngân hàng thƣơng mại cổ phần thông thƣờng (Nhà nƣớc không nắm cổ phần chi phối), ngân hàng liên doanh (trong đó có bên Việt nam tham gia góp vốn thành lập), nhƣng trong phạm vi đề tài này, tôi chỉ xin đi sâu nghiên cứu, phân tích tìm hiểu về thực trạng phát triển ngân hàng thƣơng mại cổ phần thông thƣờng. 1.2. Chức năng, vai trò của ngân hàng thƣơng mại Nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại rất phong phú, đa dạng. Với việc đƣa vào hoạt động hình thức công ty nắm giữ một ngân hàng và với sự nới lỏng một số hạn chế mà các ngân hàng phải thực hiện trƣớc đây, một số lớn các dịch vụ khác nhau do các ngân hàng thƣơng mại và các chi nhánh của nó cung cấp đƣợc mở rộng. Những đổi mới gần đây trong nghiệp vụ ngân hàng bao gồm việc đƣa vào sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ kiểm toán đối với các doanh nghiệp, factoring, tín dụng thuê mua, máy trả tiền tự động, môi giới, chiết khấu... Tầm quan trọng của các ngân hàng thƣơng mại có thể đƣợc minh họa một cách chi tiết thông qua các chức năng, vai trò cơ bản của nó. 1.2.1. Tạo tiền Chức năng này đƣợc thực hiện thông qua các hoạt động tín dụng và đầu tƣ của các ngân hàng thƣơng mại trong mối quan hệ với hệ thống các ngân hàng. Sức mạnh của hệ thống ngân hàng nhằm tạo tiền mang ý nghĩa kinh tế to lớn. Hệ thống tín dụng năng động là điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế theo một hệ số tăng trƣởng vững chắc. Nếu tín dụng ngân hàng không tạo đƣợc tiền để mở ra những điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và những hoạt động của nó thì trong nhiều trƣờng hợp, sản xuất không thực hiện đƣợc và nguồn tích lũy từ lợi nhuận và các nguồn khác sẽ bị hạn chế. Hơn thế nữa, đơn vị sản xuất có thể phải gánh chịu tình trạng ứ đọng vốn luân chuyển
  11. 9 không đƣợc sử dụng trong quá trình sản xuất, nhƣng trong các thời kỳ cao điểm mang tính thời vụ của các hoạt động, doanh nghiệp lại không đủ vốn để thúc đẩy nhu cầu sản xuất kinh doanh. Một trong những nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nƣớc là nhằm đƣa ra một khối lƣợng tiền cung ứng phù hợp với chính sách ổn định giá cả, sự tăng trƣởng kinh tế lành mạnh, và tạo đƣợc nhiều việc làm ... Các ngân hàng thƣơng mại đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi chính sách này. Chúng phục vụ nhƣ là một kênh dẫn để thông qua đó, tiền cung ứng đƣợc tăng lên hoặc giảm xuống nhằm đạt đƣợc những mục tiêu quan trọng nói trên. 1.2.2. Cơ chế thanh toán Việc đƣa ra một cơ chế thanh toán, hay nói một cách khác, sự vận động vốn là một trong những chức năng quan trọng do các Ngân hàng thƣơng mại thực hiện và nó càng trở nên quan trọng khi đƣợc sự tín nhiệm trong việc sử dụng séc và thẻ tín dụng. Phần lớn séc trong nƣớc đƣợc thanh toán bù trừ thông qua hệ thống Ngân hàng thƣơng mại. Việc phát hành séc để rút ra và ký thác trong cùng một ngân hàng đơn thuần chỉ là sự chuyển vốn từ tài khoản này sang tài khoản khác. Việc thanh toán séc giữa hai ngân hàng có thể đƣợc thực hiện thông qua việc trao đổi trực tiếp hoặc thông qua tổ chức thanh toán bù trừ nhờ vào hệ thống các ngân hàng đại lý. Các ngân hàng đã và đang trang bị máy vi tính và các phƣơng tiện kỹ thuật nhằm làm cho quá trình thanh toán bù trừ thực hiện nhanh chóng, giảm bớt chi phí và đạt độ chính xác cao. Trong những năm gần đây, ngân hàng đã sử dụng một vài hình thức chuyển tiền bằng điện tử. Thẻ tín dụng ngân hàng đƣợc sử dụng cho các máy tự động trong cửa hàng bán lẻ. Các máy tính trong các ngân hàng đặt khắp nơi
  12. 10 trong nƣớc đƣợc mạng hoá, thực hiện việc chuyển vốn của ngƣời mua sang tài khoản của ngƣời bán. Điểm thuận lợi cơ bản của hệ thống này là nhờ vào việc lắp đặt và sử dụng hệ thống máy tự động, thẻ tín dụng ngân hàng có thể đƣợc sử dụng để rút tiền từ một tài khoản cụ thể, thực hiện việc gửi tiền, thanh toán nợ và chuyển vốn giữa tiền gửi tiết kiệm và tài khoản séc của cùng một chủ tài khoản. 1.2.3. Huy động tiết kiệm Các ngân hàng thƣơng mại thực hiện một dịch vụ rất quan trọng đối với tất cả các khu vực của nền kinh tế bằng cách cung ứng những điều kiện thuận lợi cho việc gửi tiết kiệm của dân chúng. Ngƣời gửi tiền đƣợc nhận một khoản tiền thƣởng dƣới danh nghĩa lãi suất trên tổng số tiền gửi tiết kiệm ở các ngân hàng, với mức độ an toàn và hình thức thanh khoản cao. Số tiền huy động đƣợc thông qua hình thức tiết kiệm luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân nhằm mở rộng khả năng sản xuất và các mục đích sinh hoạt cá nhân nhƣ mua sắm các mặt hàng tiêu dùng và nhà cửa. Phần lớn tiền gửi tiết kiệm đƣợc thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng thƣơng mại. 1.2.4. Mở rộng tín dụng Chức năng quan trọng của các ngân hàng thƣơng mại là mở rộng tín dụng đối với các khách hàng đáng tin cậy. Ngay từ khi mới bắt đầu, những ngƣời tổ chức ngân hàng thƣơng mại đã luôn tìm kiếm các cơ hội để thực hiện cho vay, coi đó nhƣ là chức năng quan trọng nhất của mình, và trong một số trƣờng hợp việc cho vay đó đƣợc chính phủ bảo lãnh đối với một số nhu cầu tín dụng. Tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại có ý nghĩa quan trọng thiết yếu đối với toàn bộ nền kinh tế, nó tạo ra khả năng tài trợ cho các hoạt động công
  13. 11 thƣơng nghiệp và sản xuất nông, lâm nghiệp, ...của đất nƣớc, giúp cho nền sản xuất, thƣơng mại, đầu tƣ trong nền kinh tế phát triển thuận lợi, trôi chảy. 1.2.5. Tạo điều kiện để tài trợ ngoại thương Các ngân hàng thƣơng mại cung ứng các dịch vụ ngân hàng quốc tế cần thiết đối với các hoạt động ngoại thƣơng, nguyên nhân là do mỗi nƣớc có một hệ thống tiền tệ riêng, không đồng nhất, và với năng lực tài chính của ngƣời mua (nhập khẩu) và ngƣời bán (xuất khẩu) ở các nƣớc khác nhau cũng không giống nhau; trong một số trƣờng hợp còn có một số hạn chế về ngôn ngữ, chính trị, văn hoá, hệ thống pháp luật ... Các hoạt động tài trợ ngoại thƣơng có thể đƣợc các ngân hàng thƣơng mại thực hiện bằng nhiều nghiệp vụ khác nhau nhƣ phát hành thƣ bảo lãnh, tài trợ xuất nhập khẩu, hay phát hành thƣ tín dụng ... 1.2.6. Dịch vụ ủy thác Khi mà thu nhập tăng lên đã tạo khả năng tích lũy lành mạnh, góp phần phát triển dịch vụ ủy thác của ngân hàng thƣơng mại, trong đó các ngân hàng thƣơng mại nhận vốn góp của các cá nhân, các tổ chức trong xã hội, thực hiện việc quản lý, đầu tƣ theo danh mục nhất định, mang lại lợi nhuận cho khách hàng dựa trên những nguyên tắc, mục tiêu cụ thể. 1.2.7. Bảo quản an toàn vật có giá Đây là một trong những dịch vụ lâu đời nhất đƣợc các ngân hàng thƣơng mại thực hiện. Chức năng này bao gồm bảo quản an toàn các vật có giá và bảo quản an toàn các giấy tờ có giá và các chứng từ quan trọng khác có liên quan. Trái phiếu, cổ phiếu đƣợc giữ lại làm thế chấp đối với nợ vay cũng đòi hỏi các ngân hàng thƣơng mại phải thực hiện công việc bảo quản an toàn giấy tờ có giá để đảm bảo việc thực hiện quyền và lợi ích cho các bên liên quan. Các ngân hàng nhỏ thƣờng không có điều kiện thiết lập kho riêng biệt để bảo quản an toàn các chứng khoán nhƣ các ngân hàng lớn. Một thực tế phổ
  14. 12 biến đối với các công ty tài chính và phi tài chính - là các chứng khoán nợ bao giờ cũng đƣợc bảo quản ở các ngân hàng. Đôi khi những ngƣời sở hữu chứng khoán đòi hỏi ngân hàng không những giữ hộ những chứng khoán đó của họ trong kho bảo quản trong một thời kỳ dài mà còn yêu cầu làm dịch vụ thu lãi chứng khoán và đƣa vào tài khoản của khách hàng. Chức năng này của các ngân hàng thƣơng mại Việt nam chƣa thực sự đƣợc chú trọng phát triển, một phần do điều kiện cơ sở vật chất chƣa vững chắc, đầy đủ, một phần do nhu cầu bảo quản an toàn của ngƣời dân còn chƣa xuất hiện nhiều. 1.2.8. Dịch vụ kinh kỷ Rất nhiều ngân hàng thƣơng mại cung cấp dịch vụ kinh kỷ, đó là việc mua và bán các chứng khoán cho khách hàng. Mặc dù quyền hạn trong dịch vụ tài chính của các ngân hàng đƣợc nâng lên nhƣng không vƣợt quá giới hạn các hoạt động bảo lãnh hoặc cung ứng các dịch vụ nghiên cứu, kết hợp với các hoạt động môi giới. Nhiều ngân hàng đã biểu hiện sự quan tâm trong việc cung cấp những dịch vụ này rất rõ ràng, sự tham gia của ngân hàng thƣơng mại vào việc kinh doanh, môi giới chứng khoán chắc chắn sẽ đƣợc mở rộng trong tƣơng lai, đặc biệt là đối với những ngân hàng lớn. Nhƣ vậy, ngân hàng là một loại hình tổ chức, có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phƣơng nói riêng. Từ một góc độ khác hơn, rõ ràng, ngân hàng có thể đƣợc định nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề ở chỗ không chỉ các chức năng của các ngân hàng đang thay đổi, mà chức năng của các đối thủ cạnh tranh của ngân hàng cũng không ngừng thay đổi. Thực tế là rất nhiều tổ chức tài chính, bao gồm cả các công ty chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, các quỹ tƣơng hỗ và các công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Ngƣợc lại, ngân hàng cũng đối phó với các
  15. 13 đối thủ cạnh tranh (các tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, hƣớng về lĩnh vực bất động sản, bảo hiểm môi giới chứng khoán, đầu tƣ vào các quỹ tƣơng hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác. Một ví dụ về nỗ lực của các tổ chức tài chính thế giới trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng đƣợc ghi nhận từ những năm 1980 khi rất nhiều công ty bảo hiểm và kinh doanh chứng khoán lớn, bao gồm cả Merrill Lynch, Prudential nhảy vào lĩnh vực ngân hàng bằng cách thành lập cái mà họ gọi là “các ngân hàng phi ngân hàng”. Những điều đó đã dẫn đến sự nhầm lẫn trong công chúng khi phân biệt ngân hàng với các tổ chức tài chính khác. Từ đó, một số quan điểm cho rằng, cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phƣơng diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục và dịch vụ tài chính đa hạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán-và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.” Sự đa hạng trong các dịch vụ và chức năng của ngân hàng dẫn đến việc chúng đƣợc gọi là các “bách hóa tài chính” (financial department stores) [4]. Những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay đƣợc thể hiện trong biểu đồ 1.1 sau đây:
  16. 14 Sơ đồ 1.1. Chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng (Nguồn: Ngân hàng Nhà nước) 1.3. Các khuynh hƣớng ảnh hƣởng tới hoạt động ngân hàng - Thứ nhất, khuynh hƣớng gia tăng nhanh chóng trong danh mục các dịch vụ ngân hàng. Quá trình mở rộng danh mục dịch vụ đã tăng tốc trong những năm gần đây dƣới áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính khác và áp lực cạnh tranh trong nội bộ ngành ngân hàng, từ sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng và từ sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Nó cũng làm tăng chi phí của ngân hàng và dẫn đến rủi ro phá sản cao hơn. Các dịch vụ mới đã có ảnh hƣởng tốt đến ngành này thông qua việc tạo ra những nguồn thu mới cho ngân hàng - các khoản lệ phí của dịch vụ không phải lãi - một bộ phận có xu hƣớng tăng trƣởng nhanh hơn so với nguồn thu truyền thống từ lãi cho vay. - Thứ hai là sự gia tăng cạnh tranh. Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính - ngân hàng đang ngày càng trở nên quyết liệt khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục dịch vụ cung cấp. Hầu hết các ngân hàng cung cấp dịch vụ tín dụng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hƣu trí, dịch vụ
  17. 15 tƣ vấn tài chính cho các doanh nghiệp và ngƣời tiêu dùng. Đây là những dịch vụ đang phải đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ các ngân hàng khác, các hiệp hội tín dụng, các công ty chứng khoán, các công ty tài chính, các tập đoàn bảo hiểm, áp lực cạnh tranh này đóng vai trò nhƣ một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ ngân hàng cho tƣơng lai. - Thứ ba là khuynh hƣớng phi quản lý hóa. Cạnh tranh và quá trình mở rộng dịch vụ ngân hàng (hai khuynh hƣớng trên) cũng đƣợc thúc đẩy bởi sự nới lỏng các quy định - giảm bớt sức mạnh kiểm soát của Nhà nƣớc và Chính phủ. Điều này bắt đầu bằng việc Ngân hàng Nhà nƣớc nâng lãi suất trần đối với tiền gửi tiết kiệm nhằm cố gắng giúp ngƣời dân có mức thu nhập cao hơn từ tiền gửi tiết kiệm, các ngân hàng thƣơng mại thì có thể linh hoạt, tự chủ hơn trong điều chỉnh lãi suất. Nhiều loại tài khoản tiền gửi mới đƣợc phát triển giúp ngƣời dân có thể hƣởng lãi trên các tài khoản giao dịch. Tuy nhiên, cùng với sự nới lỏng quản lý của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nƣớc đối với các ngân hàng thƣơng mại thì chi phí và rủi ro tổn thất chung đối với nền kinh tế cũng theo đó mà tăng lên, nguy cơ khủng hoảng, nguy cơ “bong bóng” cũng tăng lên. - Thứ tƣ là sự gia tăng chi phí vốn. Sự nới lỏng luật lệ kết hợp với sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phí trung bình thực tế của tài khoản tiền gửi - nguồn vốn cơ bản của ngân hàng. Với sự nới lỏng các luật lệ, ngân hàng buộc phải trả lãi cao hơn do thị trƣờng cạnh tranh quyết định cho phần lớn tiền gửi. Điều đó buộc phải cắt giảm các chi phí hoạt động khác; ngân hàng cũng phải tìm các nguồn vốn mới nhƣ chứng khoán hóa một số tài sản. Cũng do cạnh tranh mà các ngân hàng buộc phải tăng lãi suất huy động, giảm lãi suất cho vay để sử dụng hiệu quả nguồn vốn, làm cho chênh lệch lãi suất của ngân hàng bị giảm xuống, chi phí vốn tăng theo.
  18. 16 - Thứ năm là sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất. Các quy định của Nhà nƣớc đối với ngân hàng phần nào đó giúp cho ngƣời dân có khả năng nhận đƣợc khoản thu nhập cao hơn từ tiền gửi, nhƣng chỉ có ngƣời dân mới làm cho khả năng đó thành hiện thực. Những tài khoản có tỷ lệ thu nhập cũng thay đổi theo xu hƣớng và điều kiện của thị trƣờng. Ngày càng có nhiều kênh đầu tƣ hấp dẫn giúp cho ngƣời dân có thể có khả năng tái đầu tƣ và gia tăng thu nhập. Ngân hàng cũng nhận ra rằng họ đang phải giao dịch với khách hàng ngày càng đòi hỏi cao hơn và nhạy cảm hơn với lãi suất. Các khoản tiền gửi tiết kiệm “trung thành” của họ có thể bị tăng khả năng cạnh tranh trên phƣơng diện thu nhập và nhạy cảm hơn với ý thích thay đổi của xã hội trong vấn đề phân phối các khoản thu nhập đó. - Thứ sáu là xu hƣớng cách mạng trong công nghệ ngân hàng. Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, từ nhiều năm gần đây, các ngân hàng đã và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống dựa trên lao động thủ công, đặc biệt là trong việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ và cấp tín dụng. Những ví dụ nổi bật nhất là các máy rút tiền tự động ATM, cho phép khách hàng truy nhập tài khoản của họ 24/24; máy chấp nhận thanh toán thẻ (POS) đƣợc lắp đặt ở các bách hóa và trung tâm bán hàng thay thế cho các phƣơng tiện thanh toán qua quầy bằng giấy; hệ thống máy vi tính hiện đại cho phép xử lý nhanh chóng hàng ngàn giao dịch. Ngân hàng đang trở thành ngành sử dụng nhiều vốn và chi phí cố định. Các giao dịch điện tử ngày càng trở nên thuận tiện. Tuy nhiên, một ngành ngân hàng hoàn toàn tự động vẫn là điều xa vời, nhu cầu về nhân sự cao cấp trong ngân hàng vẫn đang là nhu cầu cấp bách; một tỷ lệ lớn khách hàng vẫn ƣa chuộng các dịch vụ do con ngƣời và những cơ hội để nhận đƣợc sự tƣ vấn cá nhân về các vấn đề tài chính.
  19. 17 - Thứ bảy là khuynh hƣớng củng cố và mở rộng hoạt động về mặt địa lý. Sử dụng có hiệu quả quá trình tự động hóa và những đổi mới công nghệ đòi hỏi ngân hàng phải có quy mô lớn để tận dụng hết những lợi thế về quy mô, giảm chi phí cố định bình quân. Vì vậy ngân hàng phải mở rộng cơ sở khách hàng bằng cách tìm kiếm các thị trƣờng mới, gia tăng số lƣợng các tài khoản của khách hàng, tăng thêm số lƣợng chi nhánh và các điểm giao dịch. Hiện nay các ngân hàng đang tìm mọi cách để đạt đƣợc sự đa dạng hóa và ngân hàng không còn muốn duy trì mô hình ngân hàng cổ điển, mà muốn nhấn mạnh vai trò của nó nhƣ là các tổ chức tài chính đa năng, đổi mới và hƣớng về khách hàng. Công nghệ hiện đại cũng giúp ngân hàng có thể gia tăng khả năng tiếp cận bƣớc đầu với khách hàng ở những vùng miền xa xôi thông qua việc lắp đặt các thiết bị giao dịch điện tử. - Cuối cùng là khuynh hƣớng toàn cầu hóa ngân hàng. Sự bành trƣớng địa lý và hợp nhất ngân hàng đã vƣợt qua ranh giới lãnh thổ quốc gia để lan rộng với quy mô toàn cầu. Các ngân hàng lớn trên thế giới đặt trụ sở ở nhiều quốc gia khác nhau. Sự cạnh tranh trong ngành ngân hàng vì thế không phải chỉ diễn ra giữa các ngân hàng trong nƣớc; sự cạnh tranh đó ngày càng quyết liệt hơn do có sự tham gia của các ngân hàng nƣớc ngoài. 1.4. Các dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây 1.4.1. Cho vay tiêu dùng Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng đều không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi họ cho rằng các khoản cho vay tiêu dùng nói chung có quy mô rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tƣơng đối cao và do đó làm cho chúng có mức sinh lời thấp. Hiện nay, các ngân hàng bắt đầu dựa nhiều hơn vào tiền gửi của khách hàng để tài trợ cho những món vay thƣơng mại lớn. Sau đó là sự cạnh tranh khốc liệt trong việc huy động tiền gửi và cho vay đã buộc các ngân hàng phải hƣớng tới ngƣời tiêu dùng nhƣ là một khách hàng
  20. 18 tiềm năng, trung thành. Hình thức tín dụng tiêu dùng này đã rất phát triển trên thế giới và đang bắt đầu đƣợc các ngân hàng thƣơng mại Việt nam chú trọng khai thác, phát triển. 1.4.2. Tư vấn tài chính Trƣớc đây, các ngân hàng thƣờng đƣợc khách hàng yêu cầu cung cấp dịch vụ tƣ vấn tài chính, nhƣng chủ yếu là trong dịch vụ gửi tiết kiệm và đầu tƣ. Ngày nay, ngân hàng đã thực hiện cung cấp dịch vụ tƣ vấn tài chính đa dạng, từ chuẩn bị về thuế, tƣ vấn lập dự án, tƣ vấn lập kế hoạch tài chính cho cả khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, tƣ vấn về các cơ hội thị trƣờng trong và ngoài nƣớc… 1.4.3. Quản lý tiền mặt Qua nhiều năm, các ngân hàng đã phát hiện ra rằng một số dịch vụ mà họ làm cho họ cũng có ích cho khách hàng. Một trong những ví dụ nổi bật là dịch vụ quản lý tiền mặt, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho các công ty kinh doanh và tiến hành đầu tƣ phần thặng dƣ tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán hoặc các khoản đầu tƣ sinh lợi khác, hay các khoản tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán. Trên thế giới, các ngân hàng đã tiến hành quản lý tiền mặt không chỉ cho các công ty lớn mà còn cho cả những khách hàng cá nhân, nhƣng hiện nay ở Việt nam, dịch vụ này mới chỉ đƣợc các ngân hàng thực hiện cho những doanh nghiệp lớn, hơn nữa chất lƣợng dịch vụ cũng chƣa cao, chƣa tạo thành một nguồn thu đáng kể cho ngân hàng thƣơng mại. 1.4.4. Thuê mua thiết bị Đây là dịch vụ mà trong đó ngân hàng mua thiết bị rồi cho khách hàng thuê lại. Sau khi hợp đồng cho thuê kết thúc, hai bên hoàn thành nghĩa vụ và thanh lý hợp đồng, tài sản, thiết bị, máy móc cho thuê có thể thuộc quyền sở hữu của ngân hàng, cũng có thể bán lại luôn cho khách hàng thuê theo giá trị

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản