intTypePromotion=3

Luận văn: Thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hồ sơ địa chính ở nước ta

Chia sẻ: Nguyen Bao Ngoc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:79

0
104
lượt xem
37
download

Luận văn: Thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hồ sơ địa chính ở nước ta

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đất đai là nguồn lực tự nhiên có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của mỗi một quốc gia. Từ xa xưa loài người đã biết tới nguồn lực này để chinh phục khai thác dần dần chuyển sang quan hệ kinh tế – xã hội đó là sở hữu và sử dụng đất đai như một tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hồ sơ địa chính ở nước ta

  1. Luận văn Thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hồ sơ địa chính ở nước ta 1
  2. A. Lời nói đầu Đất đai là nguồn lực tự nhiên có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của mỗi một quốc gia. Từ xa x ưa loài người đ ã biết tới nguồn lực này để chinh phục khai thác dần dần chuyển sang quan hệ kinh tế – xã hội đó là sở hữu và sử dụng đất đai như một tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng, là một trong 4 yếu tố sản xuất (lao động, vốn, đất đai, công nghệ) – nguồn lực đầu vào cơ bản cho mọi nền sản xuất xã hội. Mối quan hệ đất đai nó còn ảnh hưởng tới lợi ích quốc gia, cộng đồng và cá nhân. Do đó, mối quan hệ đất đai đ ược quan tâm. ở nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước thì vai trò, vị trí đất đai càng được nâng lên. Có những mối quan hệ đất đai mới nảy sinh phức tạp. V ì vậy, cần có sự quản lý Nhà nước đối với nguồn tài nguyên này để phát huy nguồn lực đất đai, khai thác và sử dụng có hiệu quả bảo vệ lợi ích quốc gia, cộng đồng và cá nhân. Và một trong các công cụ để Nhà nước và các cấp chính quyền thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai đó là công tác hồ sơ địa chính. Thật vậy, hồ sơ địa chính là hệ thống tài liệu, sổ sách ghi nhận thông tin về đất đai để phục vụ công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Nhìn vào hồ sơ địa chính ta có thể biết được mọi thông tin về đất đai. Do hồ sơ đ ịa chính có vai trò quan trọng như vậy nên từ xa xưa Nhà nước ta đã tiến hành công tác lập hồ sơ địa chính bằng hình thức đi từ đo đạc thủ công đến sử dụng các phương tiện hiện đại là máy móc để đo đạc lập bản đồ địa chính để thiết lập lên hồ sơ địa chính. Song trong tình hình hiện nay đất đai tham gia tích cực vào hoạt động kinh tế xã hội, thị trường bất động sản hình thành, Do đó, đất đai cũng như các mối quan hệ đất đai có nhiều thay đổi. Vì vậy để phản ánh đúng hiện trạng đất đai, những biến đổi đất đai cần làm tốt công tác đăng kí thống kê đ ất đai, đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính. Việc làm tốt công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính cho phép Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo pháp luật, xác lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước và người sử dụng đất, tạo điều kiện cho việc sử dụng đất đai một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả. Do vai trò quan trọng của công tác này do vậy những năm qua Nhà nước chú trọng vào thực hiện công tác này, nhưng đến nay trên cả nước chưa có bộ hồ sơ đ ịa chính hoàn chỉnh nào đó là yêu cầu bức xúc trong việc quản lý Nhà nước về đất đai. Vì vậy em chọn đề tài 2
  3. “Thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hồ sơ địa chính ở nước ta”. Mục đích nghiên cứu: tìm hiểu vai trò, m ục đích ý nghĩa của công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai đồng thời tìm hiểu thực hiện công tác này từ đó tìm ra giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai nói chung và công tác hồ sơ đ ịa chính nói riêng. Để đáp ứng mục đích nghiên cứu trên thì đối tượng nghiên cứu: các quan hệ đất đai, đặc điểm, nội dung hồ sơ địa chính, yếu tố ảnh hưởng đến công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính để biết được các đặc điểm, yếu tố này ảnh hưởng như thế nào tới việc lập và quản lý hồ sơ địa chính đồng thời nghiên cứu quá trình lập và quản lý hồ sơ địa chính để tìm ra biện pháp nhằm thúc đẩy nhanh tiến trình. Thông qua nghiên cứu nhữnh thuận lợi, khó khăn trong công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính của thành phố H à Nội về việc thực hiện thí điểm tại 12 phường, xã, thị trấn tại Hà Nội từ đó rút ra kinh nghiệm để triển khai công tác này trên toàn thành phố tiếp đến thực hiện trên cả nước Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử – tức là đ ặt việc xây dựng hồ sơ đ ịa chính trong mối quan hệ của đất đai cũng như nội dung khác của quản lý Nhà nước về đất đai và các mối quan hệ giữa các nội dung của hồ sơ địa chính. Ngoài ra sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ lý luận. Nội dung gồm 3 phần: + Phần I: Cơ sở lý luận của công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính + Phần II : Thực trạng công tác lập và quản lý hồ sơ đ ịa chính ở nước ta + Phần III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hồ sơ địa chính. 3
  4. B. Nội dung Phần I: Cơ sở lí luận của công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính I. Khái quát về công tác quản lý Nhà nước về đất đai Đ ất đai là tặng vật của thiên nhiên cho không loài người thông qua lao động và trí tuệ của chính bản thân mình mà con người tác động vào đất làm ra sản phẩm nuôi sống mình. Đ ất đai là tài nguyên, tài sản quý giá thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý và là một trong những điều kiện không thể thiếu được trong tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế- xã hội. Do đó quản lý và sử dụng đất đ ai một cách hợp lý, có hiệu quả đòi hỏi cần thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai Để thấy được rõ sự cần thiết của công tác này ta đi tìm hiểu vai trò đất đai trong sự nghiệp phát triển đất nước. 1. Vai trò đất đai trong phát triển kinh tế – x ã hội 1.1. Vai trò đất đai trong sản xuất, đời sống. Con người sinh ra đ ã gắn liền với đất, tồn tại đ ược là nhờ vào sản phẩm từ đất và đế khi nhắm mắt xuôi tay con người lại trở về với đất. Đất gắn bó với sự tồn tại và phát triển của con người. Không chỉ có vậy mà trên phương diện kinh tế xã hội thì đ ất đai là tài nguyên, tài sản của mỗi quốc gia tạo nên của cải vật chất cho x ã hội. Thật vậy, đất đai là tặng vật của thiên nhiên cho không loài người, không phải do con người làm ra. Trong tiến trình lịch sử của x ã hội loài người, con người và đất đai ngày càng gắn bó với nhau. Con người khai thác nguồn của cải vô tận này để tạo lên sản phẩm nuôi sống mình. Đ ất đai là sản p hẩm cuả tự nhiên, con người khai phá chiếm hữu nó do vậy đất đai chứa đựng yếu tố lao động. Như vậy, đất đai từ nguồn tài nguyên trở thành tài sản của xã hội. Không chỉ có vậy xét trong đời sống và sản xuất thì đ ất đai là thành phần q uan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, là tư liệu sản xuất đặc biệt đối với nông, lâm, ngư nghiệp. Luật đất đai 1993 của nước CHXHCN Việt Nam có ghi: “ Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần q uan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa b àn phân bố các khu dân cư, 4
  5. x ây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ đ ược vốn đất đai như ngày nay!”. 1.2. Vai trò đất đai trong sự nghiệp phát triển đất nước Trong xã hội phong kiến thì đinh (lao động) và điền (đất đai) là hai yếu tố đ ược nhà vua quản lý chặt chẽ bởi đó là hai yếu tố cơ bản đầu vào của nền sản x uất xã hội. Khi chuyển sang hình thái kinh tế tư b ản, thì nền sản xuất xã hội chuyển trọng tâm từ khu vực sản xuất nông nghiệp sang khu vực công nghiệp lúc đó đòi hỏi một yếu tố đầu vào mới đó là tư bản (vốn). Và khi công nghiệp p hát triển nên trình đ ộ cao hơn, con người đ ã sử dụng công nghệ thông tin vào trong sản xuất, lúc đó công nghệ trở thành yếu tố đầu vào m ới cho nên sản xuất x ã hội. Như vậy bốn yếu tố : con người, đất đai, vốn, công nghệ là bốn nguồn lực đầu vào cơ bản cho mọi nền sản xuất xã hội, tuỳ theo trình độ lực lượng sản x uất mà tầm quan trọng của các yếu tố này có mức độ khác nhau. Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, từ một nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu chúng ta đang xây dựng một xã hội công nghiệp hiện đại. Đây chính là nội d ung của công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Tỉ trọng kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp nước ta năm 1995 là chiếm 29%, hơn nữa nông dân nước ta chiếm tới hơn 80% dân số. V ì thế nông nghiệp nước ta vẫn đóng vai trò quan trọng. Do đó công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông nghiệp là mục tiêu hàng đầu. Mà ta b iết đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng đối với sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Nó không chỉ là tư liệu lao động mà còn là đối tượng lao động. Thông qua phương tiện đất đai con người đã khai thác sản phẩm từ đất và còn hơn thế nữa khi con người biết khai thác hợp lý biết bảo vệ đất sản xuất. Thực hiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông nghiệp là làm sao để tăng sản xuất nông nghiệp trong quỹ đất hạn hẹp do quá trình đô thị hoá. Muốn vậy cần phải có chính sách đất đai hợp lý để tác động trực tiếp vào lực lượng sản xuất nông nghiệp. Để có chính sách đất đai hợp lý cần nhanh chóng thực hiện tốt công tác đ iều tra khảo sát, đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính. Trong vấn đề bảo vệ môi trường của cả nước và khu vực thì việc bảo đảm d iện tích rừng có vai trò quan trọng đặc biệt. Do vậy bên cạnh chính sách khai thác rừng cần thực hiện quy hoạch, phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Có như vậy 5
  6. m ới phát triển bền vững được như vậy đất đai có vai trò quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ môi trường. Trong giai đoạn hiện nay đô thị hoá đang là xu thế tất yếu do đó các khu công nghiệp tập trung được hình thành. Vấn đề đặt ra là cần quy hoạch các khu công nghiệp ở đâu và với quy mô như thế nào cho có lợi nhất trên mặt bằng p hân tích tổng hợp kinh tế – xã hội của tỉnh, vùng, cả nước. Điều này bắt nguồn tù việc cân đối kinh tế trong quy hoạch sử dụng đất. Để thực hiện quy hoạch sử d ụng đất cần điều tra, khảo sát đo đạc bản đồ, tìm hiểu hiện trạng sử dụng đất như vậy cần làm tốt công tác đo đạc bản đồ, lập hồ sơ đ ịa chính bởi nó là căn cứ pháp lý và khoa học thực hiện quy hoạch sử dụng đất. Trong mọi thời đại thì vấn đề nhà ở và đất ở luôn được quan tâm, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay dân số tăng lên đất chặt người đông, đất ở trở thành nhu cầu bức xúc. Nhà ở không chỉ là tài sản quan trọng đặc biệt đối với mỗi gia đ ình mà còn là một trong những tiêu chu ẩn làm thước đo phản ánh trình độ p hát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước và đánh giá mức độ công bằng và trình độ văn minh của xã hội. Do vậy cần có chính sách đất đai hợp lý cho việc xây d ựng nhà ở, nhanh chóng thực hiện công tác đăng kí đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở để bảo vệ cho người dân. Ơ nước ta, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì m ột hệ thống các lo ại thị trương được hình thành và phát triển, trong đó có thị trường bất động sản – một lĩnh vực nhạy cảm và phức tạ. Thị trường tuy mới được hình thành nhưnh đã thu hút lượng vốn không nhỏ vào đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp hành hoá thiết yếu cho nhân dân, đáp ứng nhu cầu kinh doanh bất động sản của các thành phần kinh tế... Nó được coi như lĩnh vực kinh tế quan trọng do đó cần phát triển thị trường này. Muốn vậy cần có chính sách đất đai hợp lý, cần nhanh chóng hoàn thiện công tác hồ sơ địa chính để cung cấp thông tin xác thực về hàng hoá bất động sản để lành mạnh hoá thị trường bất động sản và Nhà nước có thể kiểm soát được thị trường này. Việc phát triển thị trường này góp phần hình thành đồng bộ các loại thị trường là điều kiện để thực hiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. N ếu xét trên bình diện kinh tế xã hội, mặt bằng tổng thể của toàn bộ nền kinh tế, để phát triển một xã hội công nghiệp trên cơ sở một x ã hội nông nghiệp thì chúng ta phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động. V à 6
  7. công cụ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động đó chính là quy hoạch sử dụng đất, các chính sách đất đai và các chính sách xã hội. Như vậy, q uản lý đất đai lúc này có thể phát huy tác dụng là động lực thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Trong kinh tế, thì đ ất đai là nguồn vốn to lớn của đất nước. Nhà nước có thể tạo nguồn thu đáng kể từ hoạt động kinh tế trên đ ất vì đó là đ ầu vào không thể thiếu được của mọi hoạt động kinh tế. Nó là nguồn vốn không bao giờ cạn mà trong quá trình khai thác sử dụng có thể làm cho giá trị tăng lên. Trong tình thế cơ sở hạ tầng không ngừng được cải thiện và dân số tăng lên thì giá trị bằng tiền của đất tăng lên không ngừng. Điều này minh chứng cho sự to lớn của nguồn vốn đất đai. Như vậy, đất đai có ý nghĩa tạo nguồn thu cho ngân sách. Đ ể có thể tạo nguồn thu hơn nữa cần có hệ thống quản lý đất đai chặt chẽ, hồ sơ quản lý đầy đủ và chính sách đất đai từng bước ổn định. Tóm lại, đất đai có vai trò hết sức quan trọng trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế –xã hội của đất nước. Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản x uất vật chất xã hội như tư liệu sản xuất đặc biệt. Thực hiện công tác quản lý N hà nước về đất đai sẽ cho phép ta giải quyết vấn đề: Tăng sản lượng kinh tế nông nghiệp, đổi mới bộ mặt nông thôn,cải thiện đời sống nhân dân; đảm bảo an toàn lương thực quốc gia; bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái; quy hoạch hợp lý các khu công nghiệp và kiểm soát quá trình đ ô thị hoá; chuyển d ịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trên cơ sở quy hoạch đ ất hợp lý; xây d ựng xã hội công bằng trên cơ sở thực hiện chính sách nhà ở và đất ở; phát triển thị trường bất động sản; tăng cường nguồn thu cho ngân sách quốc gia. Do đất đai có vai trò quan trọng như trên vì thế mà công tác quản lý Nhà nướcvề đất đai ở nước ta đã được chú ý từ lâu nhưng do điều kiện hoàn cảnh ở m ỗi thời kỳ khác nhau mà công tác quản lý Nhà nước có nhiệm vụ cụ thể khác nhau. Vì vậy ta cần tìm hiểu quan hệ đất đai trong lịch sử Việt Nam để thấy đ ược công tác quản lý Nhà nước về đất đai qua các thời kỳ. Từ đó nhận thức q uan hệ đất đai trong thời đại ngày nay. 2. Quan hệ đất đai trong lịch sử Việt Nam Bất kỳ một quốc gia nào, Nhà nước nào cũng có một quỹ đất đai nhất đ ịnh đ ược giới hạn bởi biên giớ quốc gia mà thiên nhiên ban tặng. 7
  8. Đ ất đai là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia vì vậy Nhà nước muốn tồn tại và phát triển được thì phải quản lý chặt, nắm chắc tài nguyên đất đai. Mỗi thời kỳ với chế độ chính trị khác nhau đều có chính sách quản lý đất đai đặc trưng của thời kỳ đó. 2.1) Thời kỳ đầu lập nước Trong thời kỳ này đất đai là của chung và đó chính là khởi thuỷ của ruộng đ ất công. K hi nhà nước Văn Lang ra đời thì toàn bộ ruộng đất trong đó là của chung và cũng là của nhà vua. Sau khi đất đai bị xâm chiếm thì các vua Hùng tổ chức chống cự dần dần hình thành khái niệm sơ khai đất đai là sở hữu của nhà vua. 2.2) Thời kỳ phong kiến Trong hơn 1000 năm Bắc thuộc, hình thức sở hữu tối cao phong kiến về ruộng đất chi phối xã hội Việt Nam. Nhà Đường đã áp d ụng nhiều chính sách về đất đai để tạo nguồ n thu cho nhà nước đô hộ. K hi giành được độc lập tự chủ, Đinh Bộ Lĩnh làm vua xây dựng nhà nước Đ ại Cồ Việt – quyền sở hữu tối cao về nhà vua được xác lập. D ưới thời Lý – Trần, nhà vua chấp nhận ba hình thức sở hữu: sở hữu nhà vua, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Nhưng tất cả người sử dụng đất đều phải nộp công quỹ cho nhà vua. Đ ến thời nhà Hồ, Hồ Quý Ly đã ban hành chính sách cải cách ruộng đất (1397) thực hiện chế độ hạn điền (mỗi người không quá 10 mẫu ruộng) để thu hồi đất đai cho nhà nước. V ào năm 1428 Lê Lợi lên ngôi đã phong đất cho các quần thần và thực hiện kiểm kê đất đai để lập sổ sách (địa bạ) từ đó có chính sách phân phối lại ruộng công bỏ hoang cho binh lính và nông dân. Trong giai đoạn này bộ luật đ ầu tiên ở nước ta được ban hành gọi là Luật Hồng Đức trong đó có 60 điều nói về đất đai. Các điều luật nói về đất đai thể hiện tính nhân đạo và triệt để để bảo vệ đất công. Tuy nhiên, công việc đo đạc từ khi Lê Lợi lên ngôi đến hết đời hậu Lê vẫn chưa được hoàn thành. Sau khi Nguyễn ánh lên ngôi, từ năm 1805 đến năm 1836 suốt 31 năm nhà Nguyễn hoàn tất bộ địa bạ của 18 nghìn xã từ Mục Quan Nam đến Múi Cà 8
  9. Mau gồm 10044 tập. Trong địa bạ ghi rõ thửa đất của ai, sử dụng làm gì, kích thức bao nhiêu trên cơ sở đo đạc thực địa, đo đạc cụ thể có sự nhất trí chủ sở hữu và quan đạc điền. Trong thời kỳ này nhà Nguyễn đ ã ban hành bộ luật thứ hai của nước ta mang tên Hoàng Việt Luật Lệ (gọi là Luật Gia Long). Trong bộ luật này có 14 điều nhằm điều chỉnh quan hệ về nhà đất và thuế lúa. Tinh thần là xác định quyền tối thượng của nhà vua đối với ruộng đất cả nước, trong đó chia ra đất công quản và tư quản. Trên cơ sở này thuế lúa được thu rất triệt để cho ngân khố quốc gia. Và cũng trong thời kỳ này chế độ hạn điền được thực hiện lần thứ hai và nhà Nguyễn đã thực hiện thành công việc khai khẩn đất hoang. N hư vậy, tuỳ theo chế độ chính trị và hoàn cảnh lịch sử ở mỗi thời kỳ mà q uan hệ đất đai có sự khác nhau và ta thấy rằng đất đai ngày càng được quan tâm hơn, các mối quan hệ đất đai, công tác quản lý đất đai ngày một rõ ràng cụ thể hơn, chi tiết hơn. 2.3) Chế độ thực dân phong kiến (thời Pháp thuộc 1883-1945) Thực dân Pháp vừa b ình định xong đã lo ngay đến vấn đề ruộng đất. Họ cấp đất cho bọn tay sai và bán đ ất với giá rẻ mặt (10frăng/1 ha) vì thế đã tạo lên chế độ đại địa chủ ở nước ta. Thực hiện chính sách chia để trị, Pháp chia nước ta thành 3 kỳ, lập Sở địa chính ở các kỳ, Ty địa chính ở các tỉnh và trưởng bạ ở các xã để phụ trách điền địa. Pháp đ ã tiến hành thành lập bản đồ địa chính với tỷ lệ 1/1000-1/4000 đối với ruộng đất và dùng tỉ lệ 1/200-1/1000 ở đô thị. Pháp đ ã thực hiện chế độ cai trị về đất đai khác nhau ở mỗi kỳ. Nam kỳ: Thành lập Sở địa chính, tiền hành làm bao đạc và lập biểu - tính thuế. Đến năm1930 đã đo đ ạc xong bản đồ giải thửa. Thực hiện tu chỉnh đ ịa bộ thời Minh Mạng và thực hiện lưu trữ ở phong quản lý địa bộ. Trung kỳ: Tiến hành đo đạc giản đơn để có căn cứ tính thuế. Ngày - 26/4/1930 Khâm sứ Trung kỳ ban hành Nghị định số 1385 lập sổ bảo tồn điền trạch sau đổi thành Sở quản thủ địa chính. Bắc kỳ: Tiến hành lập bản đồ bao đạc và thành lập bản đồ địa chính - chính quy. Đồng thời lập lược đồ giản đơn nhanh chóng nắm bắt được diện tích đ ất đai. Mở lớp đào tạo trên 6000 thư ký đạc điền đồng thời quy định chuyển d ịch ruộng đất phải nộp lệ phí theo quy định. 9
  10. N hư vậy, có thể nói dưới chế độ thực dân phong kiến, các mối quan hệ đ ất đai ở nước ta được xác lập chỉ nhằm mục đích khai thác nguồn tài nguyên này của thực dân Pháp. Việc lập bản đồ, thành lập Sở địa chính, Ty địa chính là p hục vụ cho việc thu thếu đất và nắm bắt nguồn tài nguyên này. 2.4) Chính sách đất đai ở miền Nam thời kỳ Mỹ Nguỵ (1954-1975) Trong thời kỳ này tồn tại hai chính sách ruộng đất đó là chính sách ruộng đ ất của chính quyền cách mạng và chính sách ruộng đất của Mỹ- Ngụy. Chính sách ruộng đất của chính quyền cách mạng mà nội dung xuyên suốt trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc là: Ruộng đất về tay người cày song điều này chỉ thực hiện được ở vùng giải phóng. Còn chính sách ruộng đất ruộng đất của Mỹ –Ngụy nằm trong chính sách x âm lược vì vậy thực hiện chính sách “cải cách điền địa ” của chính quyền Ngô Đ ình Diệm và luật “người cày có ruộng ”của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu nhằm lôi kéo, giành giật nông dân. Luật người cày có ruộng bao gồm 6 chương 22 điều trong đó việc cấp “chứng khoán ” ruộng đất cho nông dân khẳng định q uyền sở hữu ruộng đất của nông dân nhưng chính quyền Thiệu lại ép nông dân nhận “chứng khoán ”. 2.5) Quan hệ đất đai ở nước ta từ sau cách mạng tháng 8/ 1945. Đ ất đai là một trong hai mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng”. Vì vậy ngay sau khi cách mạng tháng 8 thành công Nhà nước ta đã ban hành thông tư, chỉ thị nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Quốc hội thông qua luật cải cách ruộng đất, ruộng đất được chia đều cho dân cày, người cày được canh tác trên thửa đất của mình. Trong giai đoạn từ năm 1955- 1959, cơ quan quản lý đất đai được thành lập đó là Sở địa chính nằm trong Bộ tài chính với chức năng là quản lý ruộng đ ất và thu thuế nông nghiệp . H iến pháp năm 1960 đã xác đ ịnh quyền sở hữu to àn dân về đất đai, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Từ năm 1980- 1991: Thực hiện quyết định 201/ CP (01/17/1980); Chỉ thị 299/TTG(10/11/1980); Chỉ thị 100/CT_TW (13/01/1981); Nghị quyết 10/NQ- TW (05/04/1988) về khoán ruộng đất lâu dài. 10
  11. H iến pháp 1992 xác định “đất đai sở hữu toàn dân”( điều 17). Như vậy, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và quản lý đất đai đ ược ghi nhận trong hiến p háp 1992. Tiếp đó luật đất đai ban hành 9/1993 đã quy định rõ hơn các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Chính sách đất đai nước ta hiện nay thể hiện nội dung chủ chủ yếu sau: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý - b ằng pháp luật và quy hoạch, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được Nhà nước giao quyền sử dụng đất hoặc cho thuê đất. Nhà nước có chính sách ưu tiên đối với sử dụng đất nông, lâm, ngư - nghiệp nhằm bảo đảm an to àn lương thực và bảo vệ môi trường Nhà nước có chính sách hợp lý để bảo đảm nhà ở cho mọi người. - Hộ gia đình và cá nhân được Nhà nước giao đất nông, lâm nghiệp - đ ể sử dụng ổn định lâu dài thì được hưởng các quyền quy định ở Luật đất đai. Nhà nước quản đất đai bằng bản đồ địa chính có toạ độ và hồ sơ - đ ăng kí đất đai, chủ sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất được - thực hiện khi có quy hoạch sử dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền x ét quyệt. Nhà nước định giá đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu - tiền khi giao đất, cho thuê đất, tính giá tài sản khi giao đất và bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất. Tuỳ theo mục đích sử dụng, loại đất, đối tượng sử dụng đất m à Nhà - nước quy định hạn mức, thời hạn sử dụng. Nhà nước khuyến khích khai hoang vỡ hoá mở rộng diện tích sử - d ụng đất, sử dụng bãi bồi đất trống đồi núi trọc và sử dụng đất phải đi đôi với cải tạo bồi bổ đất. N hư vậy, chính sách đất đai hiện nay ở nước ta thể hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, bảo đảm quyền lợi của người sử dụng đất, đồng thời tạo đ iều kiện cho việc sử dụng đất hợp lý có hiệu quả, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội. Trên đây ta đi nghiên cứu quan hệ đất đai qua các thời kỳ, ta thấy rằng đất đ ai ở mọi thời kỳ đều được quan tâm, tất cả các chế độ khác nhau đều muốn nắm giữ nguồn tài nguyên này, quản lý và sử dụng triệt để nguồn tài nguyên này đ ể phục vụ mục tiêu của các thời kỳ. 11
  12. V iệc đi sâu nghiên cứu vai trò của đất đai cũng như những quan hệ đất đ ai qua các thời kỳ để ta nhận thức rằng luôn luôn và cần thiết phải có quản lý N hà nước về đất đai và tuỳ theo từng thời kỳ, từng điều kiện hoàn cảnh khác nhau mà ta thực hiện quản lý sao cho có lợi nhất phục vụ được mục tiêu của từng thời kỳ. Trong tình hình hiện nay để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá- hiện đại hoá đ ất nước thì nội dung quản lý Nhà nước về đất đai như sau. 3)Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. Chế độ quản lý Nhà nước về đất đai là toàn bộ các quy phạm pháp luật đ iều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý Nhà nước đối với đất đai. Chế độ quản lý Nhà nước về đất đai bắt nguồn từ nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm các hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện quyền sở hữu Nhà nước và b ảo đảm quyền sở hữu đó về đất đai. Nó bao gồm các hoạt động của Nhà nước trong việc nắm chắc tình hình sử dụng đất đai, hoạt động của Nhà nước về phân p hối lại quỹ đất trên cơ sở quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất các hoạt động của Nhà nước về kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất đai. Đ iều 13 Luật đất đai năm 1993 nêu 7 nội dung quản lý Nhà nước về đất đ ai như sau: 3.1) Điều tra, khảo sát, đo đạc đánh giá và phân hạng đất. Đ iều tra, khảo sát, đo đạc đánh giá và phân hạng đất là những công việc hết sức quan trọng bởi qua đó Nhà nước mới nắm được toàn bộ quỹ đất đai cả về số lượng và chất lượng, mới có khả năng phát hiện năng lực đất đai ở mỗi vùng, từng địa phương. Qua đó, Nhà nước có những chính sách và biện pháp sử d ụng đất có hệ thống, có căn cứ khoa học trên phạm vi cả nước, từng vùng, từng địa phương. N hư vậy, qua tài liệu này ta biết được đất đai đang sử dụng làm gì và sử d ụng vào việc gì là tốt nhất để phát huy tiềm năng ở mỗi vùng. Đ ể nắm được số lượng, chất lượng đất đai Nhà nước phải tiến hành điều tra, khảo sát đo đạc và nghiên cứu, điều tra thực địa nắm được tổng diện tích tự nhiên, diện tích từng loại đất như đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất dân cư nông 12
  13. thôn, đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng… Từ đó mà thực hiện quy hoạch đất đ ai. V iệc đánh giá phân hạng đất là công tác khoa học và rất phức tạp nhằm x ác định tác dụng sử dụng đất cụ thể cho từng vùng, từng diện tích đất. Đây là việc làm hết sức cần thiết trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm góp phần đảm bảo cho thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, sản xuất phát triển và ổn định đời sống của nhân dân. V iệc xác định giá các loại đất phải xem xét cụ thể vị trí, địa hình, mục đ ích sử dụng cũng như xem xét quan hệ cung cầu đ ược hình thành trên thị trường bất động sản và xu hướng biến động của chúng. Đó là cơ sở để tính thuế chuyền quyền sử dụng đất, tính tiền khi giao đất, bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất, tính giá trị quyền sử dụng đất khi góp vốn liên doanh. Bản đồ địa chính là cơ sở để thể hiện số liệu về điều tra khảo sát, đo đạc. Mặt khác, bản đồ địa chính còn là một thành phần của hệ thống hồ sơ đ ịa chính đ ể phục vụ quản lý từng thửa đất. Vì vậy, Luật đất đai quy định việc tổ chức chỉ đ ạo lập bản đồ địa chính như sau: + Chính phủ chỉ đạo việc tổ chức lập bản đồ địa chính thống nhất trên p hạm vi cả nước. Cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương ban hành quy trình kỹ thuật, quy phạm xây dựng bản đồ địa chính. + ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo tổ chức việc lập bản đồ địa chính ở địa phương mình. + Bản đồ địa chính được lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. + Bản đồ địa chính gốc được lưu trữ tại cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, huyện, quận, thị xã và UBND phường, thị trấn. 3.2) Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất. Q uy hoạch đất đai là sự tính toán, phân bổ đất đai một cách cụ thể về số lượng, chất lượng, vị trí, không gian trên cơ sở khoa học nhằm phục vụ cho các m ục đích kinh tế, xã hội. Kế hoạch hoá đất đai là sự xác định các chỉ tiêu về sử d ụng đất đai thông qua việc khoanh định mục tiêu sử dụng từng vùng đất cho từng thời kỳ nhỏ trong thời gian quy hoạch. Kế hoạch còn điều chỉnh mục đích sử dụng đất cho phù hợp với phương án quy hoạch và điều kiện thực tế của đất đ ai. 13
  14. Công tác quản lý đất đai theo quy hoạch, kế hoạch có ý nghĩa to lớn. Nó giúp việc sử dụng đất đai đúng mục đích đạt hiệu quả cao và tiết kiệm, giúp N hà nước quản lý chặt chẽ đất đai. Chính vì vai trò quan trọng vậy Luật đất đai năm 1993 đã có những điều khoản quy định về nội dung quy hoạch đất đai (điều 17); quy định về nội dung lập và xét duyệt quy hoạch đất đai (điều 16); q uy định về thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. 3.3) Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý sử dụng đất và tổ chức thực hiện các văn bản đó. Các văn b ản quản lý Nhà nước nói riêng và các tài liệu khác nói chung luôn luôn được sản sinh do nhu cầu cầu của x ã hội nhất định. Từ các hiện tượng kinh tế – xã hội có liên quan tới quan hệ đất đai, các cơ quan địa chính cần tổng hợp lại thành quy luật trong các địa phương mình đề nghị xây dựng các văn bản p háp luật nhằm điều chỉnh pháp luật đất đai và các chính sách đất đai. Ban hành các văn b ản pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó là trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước, các cơ q uan quản lý đất đai ở các cấp. Trách nhiệm của cơ quan quản lý đất đai ở trung ương là soạn thảo các văn bản pháp luật về quản lý sử dụng đất để trình chính phủ quyết định chính sách đất đai. Các cơ quan chuyên môn ở địa phương căn cứ vào quyền hạn và chức năng nhiệm vụ của mình giúp UBND các cấp ban hành văn bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện đầy đủ chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước. Để có chính sách đất đai phù hợp cần phải nhận thức đầy đủ các quy luật tự nhiên đồng thời căn cứ vào số liệu điều tra đo đạc, đánh giá, phân hạng đất và căn cứ vào quy ho ạch, kế hoạch sử dụng đất có như vậy việc quản lý, sử dụng đất mới thực hiện tốt. 3.4) Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất. Đ ất đai là một tài nguyên vô cùng quý giá. Quỹ đất đai có hạn trong khi nhu cầu đất đai để phát triển sản xuất, phục vụ nhu cầu xây dựng và đời sống hàng ngày tăng. Do đó, việc phân phối đất phải đảm bảo công bằng và hợp lý, tạo điều kiện khai thác tốt đúng quỹ đất “chọn mặt gửi vàng”. Đây cũng là việc thực hiện quyền năng về đất đai mà Nhà nước giao cho các tổ chức, cá nhân tuỳ theo mức độ giao quyền năng này mà nảy sinh hình thức giao, cho thuê, thu hồi *Nguyên tắc khi giao đất, cho thuê đất. 14
  15. Việc giao đất phải căn cứ vào quy ho ạch, kế hoạch sử dụng đất đai - đ ã được cơ quan Nhà nước xét duyệt. Việc giao đất phải đúng đối tượng và phải có nhu cầu sử dụng đất - Yêu cầu sử dụng đất đai phải được ghi trong luận chứng kinh tế kỹ - thuật và trong thiết kế đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt Phải có đ ơn xin giao đất hoặc cho thuê đất - * Thẩm quyền giao đất Đ iều 23 và 24 Luật đất đai có quy định thẩm quyền giao đất của các cấp: Chính Phủ, UBND tỉnh và thành phố trực thuộc TW và UBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Chính Phủ là cơ quan có thẩm quyền cao nhất quyết định những - vấn đề quan trọng, quyết định giao đất và sử dụng đất vào mọi mục đích trong trường hợp cần thiết. Cụ thể: +Chính Phủ xét duyệt kế hoạch hằng năm của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW về việc giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào m ục đích khác. +Chính Phủ quyết định cho các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuê đất +Chính Phủ giao đất trên diện tích quy định cho UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW theo quy định ở khoản 3 điều 23. UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW được giao thẩm quyền quyết - đ ịnh giao đất để sử dụng vào mục đích không phải là sản xuất nông, lâm nghiệp. Cụ thể: + Từ 1ha trở xuống đối với đất nông nghhiệp, đất lâm nghiệp có rừng, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị và từ 2 ha trở xuống đối với đất trống đồi núi trọc cho mỗi công trình không theo tuyến. + Từ 3 ha trở xuống đối với đất ông nghhiệp, đất lâm nghiệp có rừng, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị và từ 5 ha trở xuống đối với đất trống đồi núi trọc cho mỗi công trình đường bộ, đường sắt, đường điện, đê điều và từ 10 ha trở xuống đối với đất trống, đồi núi trọc cho mỗi công trình xây dựng hồ chứa nước Giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp có rừng để hộ gia đ ình, cá nhân - làm nhà ở, đất chuyên dùng đ ể sử dụng vào m ục đích chuyên dùng khác hoặc đ ể làm nhà ở, đất ở đô thị theo định mức do Chính Phủ quy định. 15
  16. + Giao đất khu dân cư nông thôn để UBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giao đất cho hộ gia đình, cá nhân làm nhà ở + G iao đất để sử dụng vào m ục đích nông, lâm nghiệp cho các tổ chức + Quyết định mức đất giao cho mỗi hộ gia đình sử dụng để làm nhà ở theo quyết định của Chính Phủ đối với từng vùng + Q uyết định giao đất cho các nhà thờ, nhà chùa, thành thất đang sử dụng UBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có các thẩm quyền sau: - + Giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích nông, lâm nghiệp + G iao đất khu d ân cư nông thôn cho hộ gia đình và cá nhân làm nhà ở trên cơ sở quy hoạch đã được xét duyệt của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW + G iao đ ất chưa sử dụng cho cá tổ chức và cá nhân có thời hạn hoặc tạm chia * Những quy định về việc cho thuê đất Điều 29 Luất đất đai quy định:”Chính Phủ, UBND các cấp thực - hiện việc cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân thuê đất để sản xuất kinh doanh ” theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật. Điều 80 -84 của Luật đất đai quy định về việc tổ chức, cá nhân nước - ngoài, tổ chức quốc tế thuê đất V iệc cho các tổ chức, cá nhân nước ngo ài thuê đ ất tuân thủ theo pháp lệnh ngày 14/10/1994 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội và Nghị định số 11/CP ngày 24/01/1994 của Chính Phủ * Những quy định về thu hồi đất Đ iều 26 Luật đ ất đai 1993 quy định: Nhà nước thu hồi toàn bộ hoặc một p hần đất đã giao sử dụng trong những trường hợp sau: -Tổ chức sử dụng đất bị giải thể, phá sản chuyển đi nơi khác giảm nhu cầu sử dụng đất Cá nhân sử dụng đất bị chết m à không có người được quyền tiếp - tục sử dụng đất Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất được giao - Đất không được sử dụng trong 12 tháng liền mà không được cơ - q uan Nhà nước có thẩm quyền có thẩm quyền giao đất cho phép Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước - 16
  17. Đất sử dụng không đúng mục đích được giao - Đất được giao không đúng thẩm quyền - Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đ ất để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng bị thu hồi đ ược đền bù thiệt hại. Cơ quan Nhà nước nào có thẩm quyền giao loại đất nào thì có thẩm q uyền thu hồi loại đất đó 2.5) Đăng kí đ ất đai, lập và quản lý hồ sơ đ ịa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất, thống k ê, kiểm kê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử d ụng đất. Đ ăng kí đất đai là việc cung cấp thông tin về quan hệ đối với đất đai để thiết lập lên hồ sơ địa chính nhằm xác lập mối quan hệ giữa người sử dụng đất với Nhà nước và Nhà nước bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người sử dụng đất. Lí do đ ể thực hiện đăng kí đó là thông tin đ ất đai luôn thay đổi dẫn đến q uan hệ đất đai thay đổi vậy cần thực hiện nghĩa vụ đăng kí để xác lập quan hệ thường xuyên tương ứng loại thông tin đó. Đ ăng kí lần đầu là việc đăng kí lần đầu tiên thực hiện một cách thống nhất trên toàn q uốc kết quả tạo hồ sơ ban đầu. K hi thông tin thay đổi thì tiến hành đăng kí biến động đất đai. Khi phát sinh thay đổi thông tin về đất đai thì chủ sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ đăng kí những thay đổi này với cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai kết quả hình thành hồ sơ cập nhật về các biến động của đất đai. Đ ăng kí đất đai là nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ sử dụng đất và của cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai. Đ iều 33 Luật đất đai quy định. “Khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho phép thay đổi m ục đích sử dụng đất phải đăng kí tại UBND xã, phường, thị trấn”. Người đang sử dụng đất tại xã, phường, thị trấn nào thì phải đăng kí tại xã, phường, thị trấn đó U BND xã, phường, thị trấn lập và quản lý sổ địa chính, đăng kí vào sổ đ ịa chính đất chưa sử dụng và sự biến động về sử dụng đất  Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 17
  18. G iấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ch ứng thư pháp lý xác nhận quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước với người sử dụng đất trong quá trình quản lý và sử d ụng đất Đ iều 36 Luật đất đai quy đ ịnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan quản lý đất đai ở - TW phát hành Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất thì có thẩm quyền quyết - đ ịnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong trường hợp Chính Phủ giao đất thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  Thống kê đất đai: Thống kê đ ất đai là công việc hết sức quan trọng nhằm nắm chính xác, kịp thời những biến động về đất đa, cung cấp thông tin cần thiết cho công tác q uản lý Nhà nước về đất đai. Đ iều 35 Luật đất đai quy định : UBND các cấp có trách nhiệm tổ chức việc thống kê, kiểm kê đ ất đai tại địa phương mình. Cơ quan quản lý đất đai có trách nhiệm báo cáo kết quả thống kê đất đai lên cơ quan quản lý đất đai cấp trên trực tiếp. Việc thống kê đất đai thực hiện mỗi năm một lần, việc kiểm kê đ ất đai được tiến hành năm năm một lần. Đơn vị thống kê, kiểm kê đất đai là đ ơn vị lập sổ địa chính: UBND xã, phường, thị trấn. N hư vậy, nội dung quản lý Nhà nước về đất đai này gồm ba phần công việc: Kết hợp với bản đồ địa chính, tổ chức đăng kí và thành lập các hồ sơ đăng kí đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để hình thành hệ thống hồ sơ đ ịa chính ban đầu; Quản lí hồ sơ địa chính, thực hiện các thủ tục pháp lý trong b iến động đất đai(giao đất, cho thuê đ ất, thu hồi đất, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp…), cập nhật hồ sơ địa chính; Thực hiện thống kê đất đai hàng năm và kiểm kê đ ất đai năm năm một lần để nắm lại quỹ đ ất và phát hiện quy luật kinh tế – xã hội có liên quan tới quan hệ đất đai 2.6) Thanh tra việc chấp hành các chế độ thể lệ về quản lý sử dụng đất. Mục tiều của công tác này nhằm đảm bảo cho các quy định về chế độ q uản lý sử dụng đất được thực hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ đồng thời p hát hiện và đ ề xuất những bất hợp lý, những phương hướng xử lý sai phạm 18
  19. trong thay đổi quan hệ sử dụng đất. Có như vậy đất đai mới sử dụng tốt và có hiệu quả. Nội dung của công việc này thanh tra người sử dụng đất xem việc sử d ụng đất có đúng mục đích, chế độ không và thanh tra trong hoạt động quản lý đ ất đai: thanh tra bộ phận thực hiện chức năng, nghiệp vụ quản lý đất đai như x ác định có đúng nghĩa vụ không? đúng chế độ quản lý không? N hư vậy có thể nói thanh tra kiểm tra việc quản lý và sử dụng đất đai là m ột trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đ ai. Đ iều 37 Luật đất đai quy định: Chính Phủ tổ chức thanh tra đất đai trong cả nước, UBND các cấp tổ chức thanh tra đất đai trong địa phương mình Cơ quan quản lý đất đai ở TW giúp Chính Phủ, cơ quan quản lý đất đai ở đ ịa phương giúp UBND cùng cấp trong việc thực hiện thanh tra đất đai. Thanh tra đất đai phải đ ược thực hiện thường xuyên, đều khắp, phải lưu ý cả điểm và diện, phải lưu ý cả lý và tình bởi quan hệ đất đai thường rất nhạy cảm và phức tạp. 2.7) Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi p hạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai. G iải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai là một công việc khó khăn bởi tranh chấp đất đai thường tranh chấp về quyền sử dụng và quyền chiếm giữ đất đai giữa các bên sử dụng đất đòi hỏi khi giải quyết phải nắm được hồ sơ ban đầu và hồ sơ biến động đất đai đ ể từ đó đi đến kết luận đúng đắn trong việc giải quyết tranh chấp đất đai. Còn kiếu nại là việc các đương sự sử dụng và quản lý đất đai nhận thấy bị sai phạm về quyền lợi của m ình do cơ quan Nhà nước gây ra và đề nghị giải quyết các q uyền lợi vi phạm. Còn tố cáo là hành vi của cá nhân hoặc tổ chức phát hiện ra những sai trái trong việc quản lý và sử dụng đất đai và những sai phạm này gây ra hậu quả bất lợi. N hà nước khuyến khích việc hoà giải tranh chấp đất đai trong nhân dân. Trong trường hợp tranh chấp về quyền sử dụng đất chưa có giấy chứng nhận q uyền sử dụng đất thì chính quyền UBND và cơ quan đ ịa chính có trách nhiệm giải quyết. Trường hợp đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan 19
  20. có thẩm quyền cấp theo quy định của Luật đất đai thì do hệ thống toàn án giải q uyết. Hiện nay ở nước ta tranh chấp và khiếu tố về đất đai đều do ngành điạ chính và các cấp chính quyền xử lý. Hơn nữa khi lập hồ sơ địa chính ban đầu chúng ta đã phải giải quyết hàng loạt những vấn đề do lịch sử để lại, những vấn đ ề này liên quan tới tranh chấp và khiếu tố về đất đai. Do đó để giải quyết tốt công việc này đòi hỏi cần nắm vững pháp luật đồng thời tuỳ điều kiện ho àn cảnh cụ thể mà x ử lý các tình huống cho thấu tình đạt lý. Trên đây là những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, nó phản ánh được vai trò đ ất đai trong bức tranh hoạt động vĩ mô của nền kinh tế- xã hội. Thật vậy, khi kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn công nghiệp con người đ ã ý thức rõ hơn ý nghĩa quan hệ đất đai ở tầm vĩ mô từ đó xuất hiện khái niệm “ quản lý đất đai hiện đại”. Quản lý đất đai hiện đại bao gồm những nội dung trên. Tuy nhiên, tuỳ từng hoàn cảnh, điều kiện cụ thể và mục tiêu của các thời kỳ thì mối quan hệ đất đai có nhiều thay đổi phù hợp với thay đổi khách quan của nền kinh tế- xã hộ. Do đó nội dung quản lý Nhà nước đã nảy sinh nhiều vấn đ ề mới bảo đảm nhận thực đây đủ hơn, khoa học hơn vai trò đất đai đối với p hát triển kinh tế- xã hội. Chính vì vậy Luật đất đai sẽ ban hành 01/07/2004 đã có nội dung quản lý Nhà nước về đất đai mới như sau: Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản; quản lý tài chính về đ ất đai; quản lý hoạt động dịch vụ công về đất đai; quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. N hững nội dung quản lý Nhà nước trên đây có mối quan hệ khăng khít với nhau. Để thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước vê đất đai cần làm tốt tất cả các nội dung trên. Trong các nội dung trên thì công tác lập và quản lý hồ sơ đ ịa chính hết sức quan trọng không thể thiếu được trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai bởi nó là hồ sơ pháp lý cao nhất và nếu thực hiện tốt nhiệm vụ này sẽ là cơ sở điều kiện để thực hiện các nội dung khác của quản lý Nhà nước về đất đai. Hơn nữa hồ sơ địa chính giúp các cấp chính quyền sử dụng tài liệu q uản lý cập nhật thông tin đất đai. Trong tình hình hiện nay công tác này đang là yêu cầu bức xúc và là một nhiệm vụ chiến lược của toàn ngành địa chính nhằm hoàn thiện hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm cơ sở triển khai thi hành luật, đưa hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai ở các cấp thành nề nếp thường xuyên. Đ ể từng bước hoàn thiện công tác này thì ta cần tìm hiểu hồ sơ địa chính là gì? 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản