intTypePromotion=3

Luận văn: Tình hình sản xuất và tiêu thụ xoài của tỉnh Đồng Tháp từ năm 2007 đến quí II năm 2011

Chia sẻ: Nguyễn Hữu Trọng | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:22

0
128
lượt xem
68
download

Luận văn: Tình hình sản xuất và tiêu thụ xoài của tỉnh Đồng Tháp từ năm 2007 đến quí II năm 2011

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ðồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) được thiên nhiên ưu đãi về đất đai, khí hậu, nguồn nước thuận lợi để phát triển các vùng chuyên canh cây ăn quả nhiệt đới với nhiều chủng loại có giá trị kinh tế cao, là vùng có sản lượng trái cây lớn nhất cả nước. Ðồng thời, là đầu mối chủ lực cung cấp cho thị trường trái cây trong nước và xuất khẩu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Tình hình sản xuất và tiêu thụ xoài của tỉnh Đồng Tháp từ năm 2007 đến quí II năm 2011

  1. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên Luận văn Tình hình sản xuất và tiêu thụ xoài của tỉnh Đồng Tháp từ năm 2007 đến quí II năm 2011 Trang 1
  2. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên Mục lục PHẦN MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 3 1.4.1 Phương pháp thu thập số liệu ............................................................................ 4 1.4.2 Phương pháp phân tích ................................ ................................ ...................... 4 CHƯƠNG 1 ................................ ................................ ................................ ................. 5 1.1 Sơ lược tình hình sản xuất xoài của Việt Nam qua các năm ............................... 5 1.2 Tình hình sản xuất xoài của tỉnh Đồng Tháp. ................................ ................. 6 1.2.1 Khát quát tình hình sản xuất trái cây ................................ ............................... 6 2.1 Tình hình tiêu thụ xoài trong nước. ................................................................... 14 2.2 Tình hình xuất khẩu xoài trên thế giới............................................................... 15  Một số thị trường lớn cho xuất khẩu xoài mà xoài Việt Nam có thể vươn tới. .. 16  Thị trường Châu Âu (EU) ................................................................................. 16  Thị trường Trung Quốc..................................................................................... 17 PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................................... 21 Trang 2
  3. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên PH ẦN MỞ ĐẦU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Ðồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) được thiên nhiên ưu đãi về đất đai, khí h ậu, nguồn nước thuận lợi để phát triển các vùng chuyên canh cây ăn quả nhiệt đới với nhiều chủng loại có giá trị kinh tế cao , là vùng có sản lượng trái cây lớn nhất cả nước. Ðồng thời, là đầu mối chủ lực cung cấp cho thị trường trái cây trong nước và xuất khẩu. Trong đó, có nhiều loại trái cây ngon nổi tiếng được thị trường trong và ngoài nước ưa thích như: xoài cát Hòa Lộc, sầu riêng cơm vàng hạt lép Chín Hóa, bưởi Năm Roi, vú sữa Lò Rèn, m ăng cụt Tân Quy, quýt đường Lai Vung, khóm Cầu Ðúc, sơ ri Gò Công, nhãn xuồng cơm vàng, cam sành, chôm chôm nhãn. Trong những năm gần đ ây, cây xoài đang được chú trọng phát triển để đáp ứng nhu cầu của thị trường, ở ĐBSCL Đồng tháp là tỉnh có diện tích trồng xoài lớn nhất, chủ yếu là xoài Cát Hòa Lộc và xoài Cát Chu. Hiện nay, diện tích xoài chiếm h ơn 8.648 ha trong 25.858 ha cây ăn trái của tỉnh. Tuy nhiên thị trường tiêu thụ của xo ài còn bị hạn chế chủ yếu là ở trong nước, do sức cạnh tranh trên thị trường thế giới của trái cây Việt Nam nói chung và qu ả xoài nói riêng còn yếu. Đặc biệt khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương m ại thế giới (WTO) năm 2007 đ ã đánh d ấu bước phát triển mới cho thị trường tiêu thụ nông sản và cũng đem đến nhiều thách thức cho nông sản Việt Nam. Vì lí do n ày nên em chọn đề tài cho chuyên đ ề ngành của em là: “ Tình hình sản xuất và tiêu thụ xoài của tỉnh Đồng Tháp từ năm 2007 đến quí II năm 2011”. 1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1 .2.1 Mục tiêu chung Phân tích tình hình sản xuất và tiêu thụ xoài của tỉnh Đồng Tháp từ năm 2007 đến quí II n ăm 2011 đ ể có giải pháp phát triển cây xoài nói riêng và cây ăn quả nói chung. 1 .2.2 Mục tiêu cụ thể  Phân tích tình hình sản xuất xoài của tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2007- 2011.  Phân tích tình hình tiêu thụ xoài của tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2007-2011. Trang 3
  4. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên  Đề xuất một số giải pháp phát triển cây xoài trong thời gian tới. 1.3 PH ẠM VI NGHIÊN CỨU 1.3.1 Phạm vi không gian Đề tài được thực hiện tại tỉnh Đồng Tháp. 1.3.2 Phạm vi thời gian Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 0 5 tháng 08 đến n gày 21 tháng 10 năm - 2011. - Số liệu nghiên cứu trong đề tài từ năm 2007 đến quí II năm 2011. 1.3.3 Phạm vi nội dung Đề tài nghiên cứu về tình hình sản xuất xo ài ở tỉnh Đồng Tháp và thị trường tiêu thụ xoài. 1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.4.1 Phương pháp thu thập số liệu Số liệu được thu thập niên giám thống kê, từ báo chí, các bài báo cáo của tỉnh, internet, … 1.4.2 Phương pháp phân tích Sử dụng phương pháp so sánh số liệu để thấy được tình hình sản xuất và tiêu thụ xo ài của tỉnh Đồng Tháp từ năm 2007 đến quí II năm 2011 nhằm giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ xoài. Trang 4
  5. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT XOÀI Ở TỈNH ĐỒNG THÁP GIAI ĐO ẠI 2007 – QUÍ II NĂM 2011. 1 .1 Sơ lược tình hình sản xuất xoài của Việt Nam qua các năm Xoài là lo ại cây được trồng phổ biến ở Việt Nam với 59/63 tỉnh, thành có diện tích trồng trên 100 ha. Tổng diện tích xoài cả nước năm 2010 là 87.500 ha với sản lượng xoài đạt 574.000 tấn. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trồng xoài lớn nhất cả nước với 43.100 ha chiếm trên 49% so với diện tích cả nước, kế đến là vùng Đông Nam Bộ với 21.500 ha.. Cây xoài chỉ được trồng chuyên canh ở một số vườn tại huyện Cam Ranh – tỉnh Khánh Ho à, huyện Củ Chi – thành phố Hồ Chí Minh, huyện Xuân Lộc – tỉnh Đồng Nai, huyện Cái Bè – tỉnh Tiền Giang và huyện Cao Lãnh – tỉnh Đồng Tháp. Còn lại 95% diện tích xoài đư ợc trồng chung với các loại cây ăn quả khác. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến xoài có năng su ất và ch ất lượng thấp trong thời gian vừa qua. Bảng 1:DIỆN TÍCH VÀ SẢN LƯỢNG XOÀI CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2010 Năm 2007 2008 2009 2010 Diện tích gieo trồng 85,2 86,4 87,6 87,5 (1000ha) Diện tích cho sản phẩm 60,8 67,0 68,8 71,1 (1000ha) Sản lượng (1000 tấn) 471,1 541,6 554,0 574,0 Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010 Căn cứ vào bảng trên ta thấy từ năm 2007 đến năm 2010 sản lư ợng và diện tích của Việt Nam nhìn chung đ ều tăng. Đối với diện tích gieo trồng, tăng dần qua các năm nhưng sự thay đổi này không lớn , năm 2007 là 85,2 ngàn ha đến năm 2010 là 87,5 ngàn ha, cho thấy diện tích được trồng mới đ ã tăng 2.300 ha so với năm 2007 nhưng diện tích cho trái chỉ là 60,8 ngàn ha năm 2007 và tăng dần đến năm 2010 là 71,1 ngàn ha, tăng nhiều nhất từ 2007 đến 2008 với Trang 5
  6. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên 6.200 ha kéo theo sản lượng cũng tăng nhiều từ năm 2007 là 471,1 ngàn tấn đến năm 2008 tăng lên 541,6 ngàn tấn đã tăng 70,5 ngàn tấn so với năm 2007, sản lượng cũng tăng dần cùng với diện tích cho trái đến năm 2010 sản lượn g xoài đạt 574 ngàn tấn, tăng 102,9 ngàn tấn so với năm 2007. Tuy nhiên, do diện tích phân bố cả nước không đều chỉ tập trung một vài nơi, nhiều nhất là ở ĐBSCL. Bên cạnh đó chất lượng giống xoài cũng là một vấn đề đáng quan tâm. Trong quá trình trồng và lai tạo, hiện cả n ước có 57 giống xoài các loại, tuy nhiên, ch ỉ có 4 giống xoài có ch ất lượng cao là giống xoài cát Hoà Lộc (tỉnh Tiền Giang hiện tại cũng chỉ mới trồng được 2.000 ha, Đồng Tháp có 873 ha), giống xo ài cát Chu có chất lượng cao đứng thứ 2 sau xoài cát Hoà Lộc (hiện chỉ phát triển tập trung ở Đồng Tháp), giống xoài Châu Nghệ và xoài Tượng. Trên thực tế, nhiều nhà vườn còn trồng từ 3 đến 6 giống xoài chung nhưng giống chất lượng cao lại được trồng với tỷ lệ rất hạn chế với khoảng từ 5 đến 10%. Cùng với giống, ph ương pháp canh tác xoài hiện nay chủ yếu vẫn là phương pháp truyền thống với việc sử dụng nhiều phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật. Một khó khăn nữa trong canh tác xoài hiện nay là sâu và bệnh hại xuất hiện nhiều do điều kiện của thời tiết bất lợi. Các loại côn trùng và bệnh gây hại chủ yếu trên xoài là sâu đục thân, sâu đục trái, b ệnh thán thư, bệnh đóm đen, vi khuẩn... Trong đó, sâu đục thân và bệnh đốm đen vi khuẩn là nguy hiểm nhất bởi nó làm chết cây và giảm chất lượng hoặc hư trái làm ảnh hưởng nhiều đến năng suất. Thu hoạch và b ảo quản trái cũng là vấn đề đang gặp khó khăn hiện nay. Việc bao trái trước thu hoạch để nâng cao ch ất lượng và giảm thất thoát sau thu hoạch đã được 80% số hộ trồng xoài ở Đồng Tháp áp dụng, tuy nhiên các hộ trồng xoài ở các tỉnh khác thì lại hầu nh ư chưa áp dụng. Vấn đề thu hoạch và các ho ạt động tại vườn do diện tích canh tác nhỏ lẻ, cơ sở hạ tầng chưa tốt n ên khó khăn trong việc áp dụng cơ giới hoá trong thua hoạch. Công tác quản lý chất lư ợng sau thu hoạch cũng được các nhà vườn quan tâm bằng cách thu hoạch vào buổi sáng, cắt tỉa sơ bộ, lựa chọn dụng cụ chuyên chở thích hợp... đã góp ph ần giảm tổn thất, nhưng việc thực hiện các biện pháp trên lại chưa đồng bộ giữa các hộ trồng xo ài trong toàn khu vực. 1.2 Tình hình sản xuất xoài của tỉnh Đồng Tháp. 1.2.1 Khát quát tình hình sản xuất trái cây Trang 6
  7. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên Trái cây Đồng Tháp nổi tiếng trong vùng với xoài Cao Lãnh, quýt hồng Lai Vung, nhãn Châu Thành, bưởi Phong Hoà (có trái quanh năm) v.v. những loại cây đang mang lại giá trị kinh tế cao cho nhà vườn. Trong tổng số 23.00 ha diện tích cây ăn trái cho sản lượng gần 150.000 tấn/năm, trong toàn tỉnh hiện đ ã có không ít những vườn cây kiểu mẫu được sản xuất theo hướng chuyên canh, sản phẩm đạt chất lượng và độ đồng đều cao để tiến tới xây dựng th ương hiệu, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Diện tích cây ăn trái 6 tháng đầu năm 2011 đạt 25.858 ha tăng so với đầu năm 2010 là 2.459 ha. Ngành nông nghiệp tiếp tục xây dựng một số mô hình sản xuất cây ăn trái theo hướng GAP tại huyện Châu Thành (5 ha), huyện Lai Vung (4,4 ha), huyện Cao Lãnh (14 ha). Ch ất lư ợng vườn cây ăn trái đã có sự cải thiện, nâng cao từ khâu cải tạo vườn, chọn giống, kỹ thuật trồng chăm sóc và thu hoạch đã được nhà vườn quan tâm và đang từng bước sản xuất theo h ướng VietGAP. Về giống cây ăn trái có chất lượng cao, các kỹ thuật chiết, ghép ngày càng tiến bộ, sử dụng giống sạch bệnh, nâng suất cao. Việc xây dựng tiêu chu ẩn, chọn cây đầu dòng, công tác quản lý giống có chiều hướng tích cực. Về kỹ thuật canh tác có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng canh tác hữu cơ và IPM (sử dụng phân hữu cơ, áp dụng bao trái, tỉa cành), việc áp dụng xử lý ra hoa ngày m ột phổ biến đ ã giúp giảm áp lực về thời vụ thu hoạch rộ. Hiện nay, Tỉnh đang xây dựng mô h ình vườn cây ăn trái kiểu mẫu tại 3 huyện: Châu Thành (cây nhãn), Lai Vung (cây quýt hồng), Cao Lãnh (cây xoài). Trong thời gian qua, với lợi thế về đất đai, thổ nhưỡng, tỉnh Đồng Tháp không ngừng đầu tư, phát triển vư ờn chuyên canh cây ăn qu ả chất lượng cao. Trong 3 năm (từ 2003 đến 2005), tỉnh đã đ ầu tư hơn 173 tỷ đồng để mở rộng diện tích, xây dựng nhà lưới, mua sắm trang thiết bị… cho các trại giống cây ăn quả của tỉnh và huyện. Các chương trình khuyến nông của tỉnh đ ã tập huấn, nâng cao kiến thức cho các nhà vư ờn. Năm 2006, tỉnh Đồng Tháp tập trung đầu tư vốn hơn 153 tỷ đồng để nâng cấp, phát triển vùng chuyên canh cây ăn qu ả, xây dựng chiến lược nâng cao chất lượng trái cây kết hợp với thị trường, đ ưa vườn cây ăn quả trở thành một trong những thế mạnh kinh tế, phát triển bền vững của tỉnh. Tỉnh đ ã hình thành được ba vùng trồng chuyên canh cây ăn quả tập trung: xo ài cát Chu, cát Hòa Lộc ở huyện Cao Lãnh, quýt Hồng ở huyện Lai Vung, nhãn ở huyện Châu Thành. Từ năm 2007, Hội Làm Vườn tỉnh Đồng Tháp đã triển khai Trang 7
  8. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên hàng lo ạt mô hình khu yến nông VAC theo hướng thực hành nông nghiệp tốt, chủ yếu trên xoài cát Hòa Lộc, cát Chu và cây có múi. Năm 2008, Hội triển khai ba mô hình kinh tế VAC sản xuất an to àn ở các xã Tịnh Thới, Hòa An và phường 6 (thành phố Cao Lãnh). Đến năm 2009, tiếp tục triển khai ở xã Tân Thu ận Đông, Tân Thu ận Tây và Hòa An (TP.Cao Lãnh). Vì vậy, để đáp ứng nơi tiêu thụ cho cây ăn qu ả, tỉnh đang đầu tư, nâng cấp chợ đầu mối trái cây ở xã Mỹ Hiệp (huyện Cao Lãnh) đưa vào ho ạt động, làm trung tâm mua bán trái cây của tỉnh. 1 .2.2 Tình hình sản xuất xoài của tỉnh Đồng Tháp Trong thời gian qua diện tích xoài của tỉnh Đồng Tháp không ngừng tăng lên và ch ất lượng cũng không ngừng được cải thiện. Với mục tiêu nâng cao ch ất lượng trái cây đ ặc sản hướng tới xuất khẩu, ngành Nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp đã và đ ang thực hiện mô h ình sản xuất cây ăn trái an to àn cây xoài theo hướng ứng dụng quy trình công nghệ trước và sau thu ho ạch để sản xuất và bảo quản chất lượng cao, rải vụ thu hoạch, đáp ứng nhu cầu trong nư ớc và xuất khẩu (gọi tắt là VietGap), kết hợp với tập huấn chuyển giao kỹ thuật, h ình thành các vùng sản xuất chuyên canh, tập trung. Quan sát b ảng dưới đây để thấy rõ hơn sự thay đổi diện tích xoài cũng như sản lượng xo ài của tỉnh Đồng Tháp: Bảng 2: DIỆN TÍCH VÀ SẢN LƯỢNG XOÀI CỦA TỈNH ĐỒNG THÁP TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 20 09 Năm 2007 2008 2009 2010 Diện tích(ha) 7 .283 7.750 8.892 9.300 Sản lượng(tấn) 44.391 60.330 64.529 61.357 Nguồn: Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Đồng Tháp Căn cứ vào bảng trên ta thấy từ năm 2007 đến năm 2009 sản lư ợng và diện tích của tỉnh Đồng Tháp nhìn chung đều tăng nhưng năm 2010 sản lượng lại giảm xuống so với năm 2009. Năm 2007 toàn tỉnh có 7.283 ha đến năm 2009 với sản lượng từ 44.391 tấn lên 64.529 tấn. Hai năm 2008 và 2009 được coi là h ai năm trúng mùa của nông dân do sản lượng tăng cao hơn nhiều ( năm 2008 sản lượng đạt 60.330 tăng 15.939 tấn so với năm 2007) mà giá lại cao đem lại thu nhập cao cho người dân. Tuy nhiên trong năm 2010 khi diện tích tăng lên 9300 Trang 8
  9. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên ha nhưng sản lư ợng lại giảm xuống 61.357 tấn, giảm 3.172 tấn so với năm 2009, bởi thời tiết diễn biến phức tạp, mưa nhiều và to nên xoài khó đậu trái h ơn những năm trước chủ yếu là ở Thành phố Cao Lãnh và huyện Tháp Mười, huyện Cao Lãnh, làm nhiều nông dân trồng xo ài th ất mùa nặng vào cuối năm trong khi giá xoài tăng cao hơn nhiều so với những năm trước. Ở tỉnh Đồng Tháp, xoài đư ợc trồng nhiều nhất ở tỉnh huyện Cao Lãnh và Thành Phố Cao Lãnh. Tại huyện Cao Lãnh, xoài có diện tích 3.620 ha, chiếm 68,8% diện tích cây ăn trái trong toàn hiện chiếm khoảng 40% diện tích xoài toàn tỉnh chủ yếu là giống xo ài Cát Hòa Lộc và Cát Chu, vì vậy huyện Cao Lãnh đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển cây xoài của Tỉnh. Từ năm 2003 nhận thấy tiềm năng giá trị kinh tế cao của giống xoài và sự phù hợp của đất Cao Lãnh nên Trung tâm Khuyến nông tỉnh và Phòng Nông Nghiệp - Phát Triển Nông Thôn huyện Cao Lãnh đã cải tạo vư ờn và nhân rộng giống xoài cát Hòa Lộc bằng việc ghép giống xo ài cao cấp trên thân xoài tạp thử nghiệm và đ ã thành công. Từ kết quả này, các xã Mỹ Xương, Mỹ Hội, Bình Hàng Trung, Mỹ Long, Mỹ Hiệp, xã cù lao Bình Th ạnh tiếp tục thực hiện đạt hiệu quả cao. Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu huyện Cao Lãnh đã xây d ựng mô hình xoài sản xuất theo tiêu chuẩn GAP (sản xuất nông sản sạch) tại ấp Mỹ Hưng Hoà, xã Mỹ Xương; hỗ trợ 5 hộ trồng 5ha xoài Cát Hoà Lộc và xoài Cát Chu với 15.000kg phân hữu cơ HVP, 60.000 bao xoài do Đài Loan sản xuất, tạo tán cho các hộ thực hiện mô hình. Ngoài ra, huyện còn hỗ trợ 47.500 bao trái xo ài cho 9 hộ sản xuất 10ha ở xã Bình Hàng Tây. Ban điều h ành dự án cây ăn trái huyện kết hợp với Đại Học Cần Th ơ hỗ trợ 32.000 bao trái cho 5hộ trồng 8ha xo ài ở 3 xã Mỹ Xương, Bình Hàng Tây và Bình Thạnh. Qua đó, các nhà vườn đã nhận thức được công dụng, hiệu quả của việc bao trái xoài bằng bao Đài Loan trong mùa nghịch, biện pháp tỉa cành tạo tán sau thu hoạch và bón phân hữu cơ sinh học trên cây xoài theo hướng an toàn. Khi áp dụng phương pháp này, xoài cát cho trái mỗi năm từ 2 đến 3 vụ. Nhiều nông dân nhờ áp dụng thành công biện pháp canh tác mới đã đạt lợi nhu ận từ 100 – 170 triệu đồng/ha trồng xoài. Với vai trò quan trọng trong phát triển cây xoài của tỉnh, huyện Cao Lãnh đ ã có nhiều thay đổi về tình hình trồng xoài trong thời gian qua. Trang 9
  10. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên Bảng 3: DIỆN TÍCH VÀ SẢN LƯỢNG XOÀI CỦA HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2010 Năm 2007 2008 2009 2010 Diện Tích(ha) 2.878 2 .948 3 .608 3.620 Sản lượng(tấn) 24.000 24.500 26.000 30.046 Nguồn: Phòng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp, năm 2010 Dựa vào số liệu từ bảng trên ta th ấy: diện tích và sản lượng xoài của huyện Cao Lãnh năm 2010 đều tăng so với năm 2007. Trong bốn năm diện tích tăng từ 2 .878 ha năm 2007 với sản lượng đạt 24.000 tấn đến cuối năm 2010 đ ã tăng thêm 742 ha làm diện tích trồng xoài toàn huyện đạt 3.620 ha và đạt sản lượng 30.046 tấn. Trong năm 2007 cây xoài được trồng ở hầu hết các xã của huyện làm tăng diện tích đáng kể, người dân đ ã trồng mới lại vườn với giống xoài ch ất lượng tố t, có giá trị kinh tế cao loại bỏ những giống xoài tạp không hiệu quả n ên các cây này chưa cho nhiều trái làm ảnh hư ởng đến sản lượng, một phần là do thời tiết thất thường dẫn đến tình hình sâu b ệnh trên cây xoài diễn biến phức tạp làm giảm sản lượng cũng như ch ất lượng xoài trong thời gian này. Ngoài ra, để nâng cao năng suất, ch ất lư ợng cây xoài, năm 2007 tỉnh Đồng Tháp đã thực hiện thí điểm vườn xoài kiểu mẫu trên diện tích 50 ha ở ấp Mỹ Hưng Hòa, xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, kết quả vụ xo ài cho năng suất từ 8 đến 10 tấn quả mỗi héc ta, cao hơn so với sản xuất xoài bình thường từ 1đến 2 tấn trái/ha. Năm 2008 – 2009, để bảo vệ sức khỏe, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng và góp phần b ào vệ môi trường bằng nguồn vốn Khuyến nông Quốc gia, Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Đồng Tháp chọn Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh làm điểm thực hiện mô h ình sử dụng phân hữu cơ vi sinh trên cây xoài theo hướng VietGAP tại ấp Mỹ Hưng Hoà, xã Mỹ Xương, với 5 hecta/5hộ, qua 2 năm thực hiện mô h ình này đã mang lại hiệu quả thiết thực. Bên cạnh xây dựng vườn kiểu mẫu, huyện không ngừng nhân rộng mô hình sản xuất theo hướng an toàn ở khắp các xã trong huyện, tăng cư ờng tập huấn nh à vườn áp dụng kỹ thuật mới như bao trái xoài trong mùa nghịch, sử dụng phân hữu cơ vi sinh,…góp phần nâng cao năng su ất, chất lượng trong thời gian qua. Năm 2010 mặc dù sản lượng và giá xoài tăng nhưng năng suất, chất lượng không bằng các năm trước, chi phí Trang 1 0
  11. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên sản xuất thì tăng cao do thời tiết bất thường, có thời điểm nhiệt độ và độ ẩm cao, mưa nhiều làm cho dịch b ệnh phát sinh nhiều xo ài ít đậu trái, nhưng nhờ nh à vườn áp dụng tốt các biện pháp kỹ thuật từ lúc ra hoa đến kết trái nên sản lượng đạt khoảng 30.046 tấn.  Các y ếu tố ảnh hưởng đến tình hình trồng xoài. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình hình trồng xoài trong thời gian qua như sự thay đổi thất thường của thời tiết, lợi nhuận từ việc trồng xoài, kỹ thuật trồng trọt, tình hình kinh tế-xã hội, tâm lí ngư ời dân, giá của các yếu tố đầu vào,…  Lợi nhuận: lợi nhuận từ việc trồng xoài là khá cao từ 100 triệu đến 150 triệu đồng cho một ha trồng xoài, vì vậy nhiều nh à vườn đã có cuộc sống tốt hay trở nên giàu có hơn. Đây cũng là m ột trong những nguyên nhân làm cho mọi người trồng xoài nhiều hơn.  Kỹ thuật trồng trọt: kỹ thuật trồng trọt của người dân ngày càng được nâng cao nh ờ được sự h ướng dẫn của các chuyên gia từ các chương trình khuyến nông và áp dụng các tiến bộ khoa học-kĩ thuật vào trồng trọt như k ỹ thuật bao trái trong mùa nghịch, bón phân hữu cơ sinh học trên cây xoài theo hướng an toàn, kỹ thuật xử lý ra hoa xoài mùa nghịch, các biện pháp phòng trừ dịch hại trên cây xoài, cách ghi chép sổ nhật ký, b iện pháp tỉa cành tạo tán sau thu hoạch.  Kỹ thuật bao trái xoài: Trước đây, theo phương pháp quãng canh, xoài chỉ ra hoa theo mùa; thời điểm thu hoạch rộ vào mùa thuận từ tháng 3 -6 dl giá rất rẻ; ngược lại, vào mùa ngh ịch thu hoạch từ tháng 7 -2 dl năm sau, giá bán rất cao. Từ đó, với việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, người làm vườn đã thành công trong sản xuất xo ài mùa ngh ịch nhằm thu được lợi nhuận cao và hệ quả là nhiều loại dịch hại nghiêm trọng có nguy cơ bùng phát mạnh như: bệnh thán thư, b ệnh xì mủ trái, sâu đục hột, rệp sáp, ruồi đục quả gây tổn thất từ 30-70 % năng su ất, chất lượng xo ài; trong đó, có tổn thất do bệnh hại tấn công sau thu hoạch. Mặt khác, việc thâm canh cao độ trong quá trình sản xuất xoài đã làm số lần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tăng lên nhiều lần, dẫn đến chi phí sản xuất gia tăng, ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng và không đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu. Đặc biệt, trong nh ững đối tượng gây hại này, ruồi đục Trang 1 1
  12. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên quả và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật là đối tượng kiểm dịch gay gắt ở một số quốc gia có tiêu chu ẩn an toàn vệ sinh thực phẩm cao như: Mỹ, Úc, Nhật, Newzealand. Từ các chương trình khuyến nông của huyện, tỉnh và sự hỗ trợ kỹ thuật của Trung tâm ứng dụng chuyển giao khoa học kỹ thuật (Viện Khoa học kỹ thuật miền Nam) thì vật liệu bao trái chuyên dùng nhập nội từ Đài Loan trên xoài mới được bắt đầu sử dụng đầu tiên ở huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp nói riêng và trên cả nước nói chung. Từ đó đến nay, kỹ thuật bao trái với vật liệu chuyên dùng nhập từ Đài Loan được sử dụng rộng rãi và tăng d ần với nhu cầu từ 3 đến 4 triệu bao trái cho mỗi năm. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, trong năm 2009, ngành Nông Nghiệp huyện đ ã hỗ trợ kinh phí nhập thiết bị và nguyên vật liệu bao trái từ Đài Loan đồng thời đưa vào ho ạt động để sản xuất bao trái tại chỗ cung ứng cho các nh à vườn trong và ngoài tỉnh. Sử dụng bao trái chuyên dùng bằng vật liệu được sản xuất từ Đài Loan đ ã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Bao trái ngoài tránh đư ợc sự va chạm cơ học do gió gây ra, làm giảm sự xâm nhập của nấm và vi khu ẩn qua vết thương; do đó, h ạn chế tối đa bệnh thán th ư và xì mủ trên trái gây ra làm tăng năng suất từ 40 – 55% và tăng chất lượng trái xoài sau thu ho ạch, m àu sắc trái đẹp, bệnh trái sau thu hoạch giảm giúp kéo dài thời gian bảo quản từ 3 -5 n gày so với bình thường, Bao trái khi trái đ ã qua giai đọan rụng trái sinh lý (40 – 50 ngày tu ổi) là hiệu quả nhất, trước khi bao trái phun thuốc trừ sâu, bệnh kết hợp với tỉa trái đã làm giảm được từ 8 -10 lần phun thuốc trong suốt vụ. Mỗi ha xoài lợi nhuận tăng 50.000.000 đồng so với phương pháp canh tác truyền thống.  Sử dụng phân hữu cơ sinh hoc: Mô hình sử dụng phân hữu cơ vi sinh trên cây ăn trái, được xây dựng trên nền của vư ờn xoài kiểu mẫu từ năm 2004 - 2007 và mô hình xoài theo hướng GAP năm 2008. Sử dụng phân hữu cơ vi sinh trên cây ăn trái, nhà vườn cần quan tâm hai vấn đề là bao trái, đ ã hạn chế số lần phun thuốc từ 5 đến 10 lần, chất lượng tăng lên, trái đ ẹp, giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận. Còn tỉa trái non làm hạn chế cạnh tranh dinh dưỡng, giảm tỷ lệ xì mũ trên xoài. Ưu điểm của phương pháp này là không gây ảnh h ưởng đến sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng; không gây ô nhiễm môi trường, cân bằng hệ sinh thái vi sinh vật, dinh dưỡng trong môi trường đất; không làm chai đất, thoái hóa đất mà còn góp phần tăng độ phì nhiêu của đất, góp phần tăng Trang 1 2
  13. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên năng suất và chất lượng nông sản phẩm; có tác dụng tiêu diệt côn trùng gây h ại, giảm thiểu bệnh hại, tăng khả năng đề kháng bệnh của cây trồng m à không làm ảnh hư ởng đến môi trường như các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học khác, góp phần làm sạch môi trư ờng. Hiệu quả sử dụng phân hữu cơ vi sinh nhà vư ờn sẽ có thu nhập cao hơn sản xuất b ình thường; thường làm trong rải vụ, trong mùa ngh ịch.  Tình hình kinh tế-xã hội: tỉnh có nhiều chính sách và đề án tỉnh đạt hiệu quả nhằm phát triển cây ăn quả để trở thành thế mạnh kinh tế của tỉnh, góp phần mở rộng diện tích và nâng cao sản lượng cây ăn quả nói chung và cây xoài nói riêng như “quy hoạch nông nghiệp phát triển nông thôn tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020”; đề án “Đào tạo phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn, nông dân tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2009 – 2015 và đ ịnh hướng đến năm 2020”; đề án “phát triển giống cây trồng, vật nuôi và giống thủy sản tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020”,…  Tâm lí của người dân trồng trọt: cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình trồng xoài. Người dân thường có tâm lí theo xu hướng số đông, thích lợi nhuận cao nên trong thời gian qua một phần người dân thấy người khác trồng xo ài nhiều và có lợi nhuận cao nên họ cũng trồng theo như ruộng trồng lúa th ì lên líp hay chặt bỏ vư ờn táo hay m ãng cầu để trồng xoài.  Giá các y ếu tố đầu vào: n ếu các yếu tố đầu vào giá tăng cao sẽ ảnh hưởng đến sản lượng thu được do chi phí sản xuất tăng lên người dân sẽ giảm lượng thuốc phun xịt cho cây trồng làm h ạn chế về mặt chất lượng và sản lượng dẩn đến thu nhập người dân trồng xoài thấp xuống. Trang 1 3
  14. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TIÊU TH Ụ XOÀI. 2 .1 Tình hình tiêu thụ xoài trong nước. Xoài là lo ại trái cây đư ợc nhiều người tiêu dùng cả nư ớc ưa thích, loại trái cây này được bán khắp cả nước. Sản lượng xo ài càng tăng trong th ời gian qua nhưng thị trường tiêu thụ chủ yếu là ở trong nước, rất ít được xuất khẩu ra các thị trường lớn. Dù là tiêu thụ trong nước nh ưng xoài của trong vẫn phải cạnh tranh với các giống xoài nhập khẩu từ nước khác điển hình là xoài Thái Lan và Trung Quốc. Xoài nhập từ Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia có giá bằng đến thấp h ơn nội địa làm ảnh hưởng không nhỏ đến trong nước vùng Nam Bộ. Gần đây, xo ài Thái Lan, và xoài Campuchia chất lượng ngon, giá cả hợp lý nên được ngư ời tiêu dùng ưa chuộng. Vì nhu cầu hưởng thụ đa dạng của người dân nên không thể ngăn xoài nhập khẩu , và m ặc dù chất lượng xoài trong nước không kém và có thương hiệu nổi tiếng: xoài cát Hoà Lộc, xoài Cát Chu, Xoài Châu Nghệ nhưng đầu ra vẫn không ổn định, chưa có những sự đột phá tiêu thụ trong nước. Trong nước, xoài được tiêu thụ mạnh ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội với số lượng khoảng 25.000 tấn/năm; Riêng xoài ở tỉnh Đồng Tháp trong những năm qua, hầu hết xoài thu hoạch xong đều được bán cho các vựa xo ài, số lượng xo ài này đư ợc các thương lái đem đi tiêu thụ ở khắp cả nước, trong đó một phần nhỏ thì được tiêu thụ ở chợ trong tỉnh mà nhiều nhất là ở chợ đầu mối trái cây Mỹ Hiệp, phần lớn là được đưa đi tiêu th ụ ở Thành Phố Hồ Chí Minh các tỉnh của ĐBSCL và các tỉnh miền Đông Nam bộ. Một số thị trường trong nước đang và có kh ả năng trong thời gian tới tiêu thụ mặt hàng trái cây nói chung và trái xoài nói riêng củ a tỉnh Đồng Tháp : - Th ị trường các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long: Đồng Tháp nằm trong lòng thị trường n ày nên có nhiều đặc điểm tương đồng trong phát triển kinh tế của vùng là đi lên từ thế mạnh ban đầu bằng nông nghiệp và thu ỷ sản và là vựa nguyên liệu cung cấp cho chế biến hàng nông thu ỷ sản. Do vậy, sự liên kết với khu vực n ày trong thu mua nguồn nguyên liệu thuỷ sản, nông sản, trái cây để chế biến tiêu thụ trong nước và xuất khẩu có giá trị lớn là h ết sức cần thiết. Trang 1 4
  15. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên - Th ị trư ờng TP. Hồ Chí Minh: Là th ị trường tiêu thụ nhiều nhất hàng nông sản, thực phẩm của Tỉnh như trái cây, gia súc, gia cầm, thuỷ sản… Thành phố Hồ Chí Minh là đối tác quan trọng có nhiều tiềm năng để kêu gọi đầu tư, liên doanh, liên kết trong thu mua, chế biến hàng nông sản, thuỷ sản để phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu với Đồng Tháp. - Th ị trường các tỉnh miền Đông Nam bộ: Đây là vùng kinh tế phát triển nhanh và cao, là nơi tập trung nhiều khu chế xuất, khu công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và hàng tiêu dùng, đồng thời cũng là th ị trường có nhu cầu cao về lương thực, thực phẩm. Vì vậy đ ây là nơi có tiềm năng tiêu thụ lớn các mặt hàng trái cây. - Thị trường Bắc bộ: Tuy cách xa Đồng Tháp nh ưng đây là thị trường đầu mối tiêu thụ và trung chuyển xuất khẩu sang Trung Quốc. Trong đó, thị trường TP. Hà Nội vừa có nhu cầu tiêu dùng cao, vừa có khả năng phân phối bán buôn đối với hàng hoá của tỉnh. Bên cạnh đó, các tỉnh có biên giới với Trung Quốc như Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh…, cũng có nhiều khả năng phân phối bán buôn và có nhu cầu tiêu dùng lớn. - Th ị trường miền Trung và Tây Nguyên: Là thị trường có khả năng tiêu thụ các h àng nông sản của tỉnh, trong đó TP. Đà Nẵng có nhu cầu tiêu dùng cao hơn, đồng thời có kh ả năng phân phối bán buôn đến các tỉnh trong vùng. 2 .2 Tình hình xuất khẩu xoài trên thế giới Xoài Cát Hòa Lộc và xoài Cát Chu là giống xoài chủ lực của Việt Nam, trong thời gian qua chỉ đư ợc xuất khẩu qua đường tiểu ngạch qua th ị trường Thái Lan và Trung Quốc, Campuchia, Lào. Mặc dù xoài Việt Nam được đánh giá khá ngon, nhưng vỏ xo ài mỏng, trong quá trình vận chuyển dễ bị hư hại, dẫn đến giảm chất lượng trái xoài, vì vậy thực tế trái xoài tươi của Việt Nam chưa đư ợc xuất khẩu ra các thị trường lớn như các nước Châu Âu, Nhật Bản, Mỹ do chưa đạt yêu cầu của các thị trường này. Với sự nghiên cứu, đầu tư cơ sở vật chất, nguồn vốn và nhân lực cho việc phát triển các vườn xoài theo hướng GAP, việc xuất khẩu xoài có bước phát triển m ới, khi trong năm 2011 hợp tác xã xoài cát Hòa Lộc sẽ tuyển chọn 100 tấn xoài được trồng theo tiêu chuẩn VietGap xuất sang Nhật Bản. Giá xoài cát Hòa Lộc được thu mua xuất khẩu trung bình là 25.000 đồng/kg. Với mức giá này, nông dân trồng xoài có th ể thu lãi h ơn 180 Trang 1 5
  16. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên triệu đồng/ha. Sau khi xoài cát Hòa Lộc đạt chuẩn xuất vào thị trường Nhật Bản thì đối tác các nơi liên hệ liên tục. Tuy nhiên chúng ta không dám ký hợp đồng tràn lan vì sản lượng xoài ngon quá ít, không đủ cung cấp cho khách hàng. Vì vậy việc sản xuất theo các tiêu chu ẩn xuất khẩu là vấn đề các nh à vườn nên th ực hiện để mở rộng thị trường tiêu thụ cho trái xoài tươi. Đặc biệt, đ ầu năm 2011 một đoàn chuyên gia của New Zealand đ ã tới Việt Nam để kiểm tra các khâu chuẩn bị xuất khẩu xo ài tươi vào thị trường này. Dự kiến qua năm 2012, xoài của Việt Nam có thể được xuất khẩu vào New Zealand sau khi được xử lý bằng các phương pháp là chiếu xạ và hơi nước nóng. Dù xuất khẩu trái xoài của Việt Nam đã có tiến triển tương đối tốt nhưng trái xoài Việt nam phải không ngừng cải tiến từ khâu sản xuất, chất lượng trái, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên trái,..thì trái xoài của chúng ta mới khả năng xâm nhập vào các thị trường khó tín trong thời gian tới và đủ khả năng cạnh tranh với các đối thủ xuất khẩu lớn trong khu vực Châu Á như Ấn Độ, Pakixtan, Philippine, Thái Lan. Ấn Độ là nước sản xuất xoài lớn nhất thế giới với sản lượng năm 2009 đạt kho ảng 13,5 triệu tấn, trong đó xu ất khẩu xoài đạt khoảng 210 ngàn tấn, chủ yếu sang thị trường Trung Đông, Mỹ và Anh. Nhờ chất lượng xoài được cải thiện và tăng cường quảng bá thương hiệu, giá xo ài Ấn Độ tăng ở các th ị trường sinh lợi ở Mỹ. Trong vụ 2009/10, giá xoài Ấn Độ đạt 20 USD/hộp 3,5 kg, song trong vụ năm con số n ày đạt 28 USD/hộp 3,5 kg. Pakixtan là nước xuất khẩu xoài lớn thứ hai trên thế giới, hiện đang xuất sang Các tiểu Vương quốc Arập Thống nhất, Arập Xêut, Bahrain, Anh, Xingapo và các thị trường khác. Năm 2010, Pakixtan đ ã xuất khẩu đ ược 130 ngàn tấn xoài với kim ngạch 41 triệu USD, kim ngạch xuất khẩu xoài n ăm 2011 thể đạt 50 triệu USD.  Một số thị trường lớn cho xuất khẩu xoài mà xoài Việt Nam có thể vươn tới.  Thị trường Châu Âu (EU) Xoài là một trong số các loại hoa quả ngoại nhập đang có mức tăng trưởng cao nhất tại thị trường EU. Tiêu thụ xoài tại EU hiện vẫn đ ang ở mức thấp nhất thế giới. Mức tiêu thụ trung bình mặt hàng này trên th ế giới là 3,42kg/người/năm. Mức tiêu th ụ cao nhất thuộc về các nư ớc Châu Á, tiếp theo là các nước Mỹ Latinh, Châu Phi và Australia. Trang 1 6
  17. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên Năm 2007, tổng lượng tiêu thụ xoài tại EU là 202 nghìn tấn, đạt giá trị 248 triệu $. Từ năm 2003 đến năm 2007, tiêu thụ tăng khoảng 31% về mặt giá trị (trung bình 7%/năm) và 27% về khối lượng. Thị trường Anh, Đức và Bỉ có mức tăng trưởng cao nhất về cả giá trị và khối lượng. Thị trường Bồ Đào Nha giảm trong thời kỳ này và thị trường Hà Lan giảm về giá trị nhưng tăng về khối lượng. Tại EU, Anh là thị trường lớn nhất cho mặt h àng này, chiếm 29% giá trị tiêu thụ của EU vào năm 2007. Anh cũng là th ị trường tăng trưởng nhanh nhất, với tốc độ tăng trưởng là 109% về giá trị (20%/năm) và 75% về khối lượng (15%/năm) kể từ năm 2003 đến năm 2007. Xo ài có mặt tại các siêu th ị quanh năm. Tommy Atkins là loại xo ài phổ biến nhất, chiếm 80% doanh số bán h àng tại các siêu thị, tuy nhiên các lo ại xoài khác đang ngày càng tăng nhanh và có khả năng thay thế loại xo ài này. Mặc d ù tốc độ tăng trưởng về tiêu dùng cao nhất từ vài năm trước, nhưng nhu cầu đối với mặt h àng xoài vẫn đang tăng lên. Các nhóm dân tộc thiểu số của Anh, đặc biệt là Ấn Độ và Pakistan là những nhóm giúp đẩ y m ạnh tiêu thụ xoài. Do người dân gốc Anh ngày càng quan tâm hơn tới các loại hoa quả ngoại nhập, nhu cầu đối với mặt hàng này sẽ còn tiếp tục tăng.  Thị trường Trung Quốc Mặc d ù Trung Quốc là nước sản xuất xo ài lớn, năm 2009 sản lượng xo ài của Trung Quốc đạt khoảng 4,1 triệu tấn nhưng những năm tới đây, thị trường Trung Quốc vẫn là th ị trường có nhiều tiềm năng phát triển xuất khẩu của Việt Nam do Trung Quốc phát triển nhanh cả về tốc độ tăng dân số cũng như thu nhập dân cư và có nhu cầu đa dạng đối với sản phẩm nhiều phẩm cấp khác nhau. Trung Quốc là thị trư ờng lớn, dễ thâm nhập, yêu cầu về chất lượng không quá cao, quy định về vệ sinh thực phẩm của Trung Quốc không quá kh ắt khe như Nh ật Bản, Đài Loan, Hồng Kông hay Singapore. Ngoài ra, xu ất khẩu sang Trung Quốc có nhiều thuận lợi như chi phí vận chuyển thấp và có khả năng duy trì độ tươi của sản phẩm trái cây do Trung Quốc nằm ngay sát với Việt Nam.  Thị trường Nhật Bản: Là th ị trường có nhu cầu xo ài ngày càng tăng nhưng việc xuất khẩu vào gặp khó khăn do nước này áp dụng quy định mức giới hạn tối đa hóa chất đối với thực phẩm nhập khẩu, tuy nhiên những tháng đầu năm 2011 Việt nam đ ã xuất sang Nhật 1 00 tấn xoài. Trang 1 7
  18. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên  Thị trường Bắc Mỹ: Hoa Kỳ là nước nhập khẩu xoài lớn nhất thế giới, chiếm gần 50% tổng nhập khẩu lo ại trái cây này trên thế giới. Hoa Kỳ nhập khẩu từ Việt Nam chủ yếu là trái cây chế biến và nước trái cây. Hiệp định th ương mại Việt Nam – Hoa K ỳ đã tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này. Kể từ khi Hiệp định th ương mại song phương Việt Nam và Hoa Kỳ được ký kết, xuất khẩu trái cây của Việt Nam vào Hoa Kỳ trở nên dễ dàng hơn, đây là cơ hội cho xoài Việt Nam. Trang 1 8
  19. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ XOÀI 3 .1 Sản xuất.  Tăng cường hơn nữa các mô h ình sản xuất theo hướng an to àn trên toàn huyện để đạt năng suất cao nhất đáp nhu cầu thị trường.  Đầu tư, nghiên cứu, phát triển k ỹ thuật canh tác tiến bộ; ứng dụng, chuyển giao khoa học và công ngh ệ mới làm hạ giá thành, tăng năng suất, chất lượng giống cây trồng.  Đẩy mạnh tập huấn cho nh à vườn khả năng xử lí diễn biến tình hình sâu bệnh phức tạp.  Tổ chức các biểu tọa đàm để nhà vườn gặp gỡ, trao đổi với các chuyên gia để nâng cao hiểu biết về kĩ thuật trồng xoài.  Nắm bắt, theo dõi thường xuyên tình hình diễn biến sâu bệnh trên vườn xo ài để kịp thời phòng trị.  Sản xuất phải đảm bảo lượng thuốc sâu không bị dư thừa trong trái.  Xây d ựng cơ sở chế biến trái xoài để có thể hạn chế thoát sau thu hoạch .  Xây dựng các vư ờn ươm sạch bệnh cung cấp cây giống; xây dựng quy trình công ngh ệ và mô hình sản xuất hữu cơ đạt hiệu quả. 3 .2 Tiêu thụ.  Đầu tư thiết bị bảo quản trái xoài tươi để có thể vận chuyển đi xa.  Vận động, hướng dẫn các nh à vườn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, sản xuất theo hướng theo hướng an to àn (đặc biệt là dư lượng thuốc bảo vệ thực vật)để tăng chất lượng.  Một mặt, các địa phương giúp nông dân quảng bá tiêu thụ trong nước, chú trọng xây dựng các kênh tiêu thụ sản phẩm trực tiếp từ cơ sở sản xuất đến các ch ợ, hệ thống siêu thị có uy tín ở các đô thị lớn và xuất khẩu.  Kêu gọi các doanh nhiệp hỗ trợ việc liên kết GAP, tạo hướng đi mới với một chiến lược cụ thể và đúng với nhu cầu thị trư ờng, xây dựng thương hi ệu cho các Trang 1 9
  20. Chuyên đề kinh tế nông nghiệp GVHD: Trần Thị Thu Duyên loại trái cây đặc sản nhằm đưa trái cây Việt Nam nói chung, trái cây khu vực ÐBSCL nói riêng hội nhập thương trường quốc tế.  Trong sản xuất phải loại bỏ giống kém chất lượng, thay vào đó những giống mới có nhiều đặc tính tốt, tạo nên trái cây nhiệt đới giàu về số lư ợng, ngon về chất lượng, m ẫu mã đẹp, màu sắc bắt mắt.  Ở khâu sản xuất trái cây hàng hóa có ch ất lượng cao, cải tiến mùa vụ, chất lượng giống, càng ngày càng có nhiều chủng loại trái cây phong phú đa dạng, ngon.  Nâng cấp, xây dựng trung tâm, chợ mua bán trái cây để đảm bảo nơi tiêu thụ cho nhà vườn. Trang 2 0

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản