intTypePromotion=3

LUẬN VĂN: Tổ chức cơ sở đảng nông thôn với việc ổn định chính trị - xã hội ở Kon Tum hiện nay

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:107

0
83
lượt xem
23
download

LUẬN VĂN: Tổ chức cơ sở đảng nông thôn với việc ổn định chính trị - xã hội ở Kon Tum hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nông thôn là địa bàn rất quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh - quốc phòng đối với mọi quốc gia, nhất là những quốc gia đang phát triển. ở Việt Nam, từ ngàn xưa ông cha ta đã thấy rõ vai trò của sản xuất nông nghiệp, của nông dân... Từ ngày Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập đến nay, mỗi bước phát triển của cách mạng Việt Nam đều có công đóng góp rất to lớn về sức người, của cải là căn cứ địa vững chắc cho...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Tổ chức cơ sở đảng nông thôn với việc ổn định chính trị - xã hội ở Kon Tum hiện nay

  1. LUẬN VĂN: Tổ chức cơ sở đảng nông thôn với việc ổn định chính trị - xã hội ở Kon Tum hiện nay
  2. Mở ĐầU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nông thôn là địa bàn rất quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh - quốc phòng đối với mọi quốc gia, nhất là những quốc gia đang phát triển. ở Việt Nam, từ ngàn xưa ông cha ta đã thấy rõ vai trò của sản xuất nông nghiệp, của nông dân... Từ ngày Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập đến nay, mỗi bước phát triển của cách mạng Việt Nam đều có công đóng góp rất to lớn về sức người, của cải là căn cứ địa vững chắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây, cũng như cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay của nông dân và nông thôn. Mỗi bước trưởng thành của Đảng đều gắn liền với sự trưởng thành của các tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đaị hoá đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo chỉ có thể thành công khi mà nông thôn, nông nghiệp được công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân luôn có vị trí, vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của tỉnh Kon Tum - một tỉnh miền núi, vùng cao, biên giới. Thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, những năm qua, Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã có Nghị quyết, Chương trình lãnh đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân, đáng chú ý là Nghị quyết số 01- NQ/TU của Tỉnh uỷ Kon Tum (khóa 13) về đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX). Tuy nhiên, do nhận thức chưa đầy đủ và sâu sắc, nên việc triển khai thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn còn chậm, thiếu đồng bộ và quyết liệt, hiệu quả chưa cao, chưa bền vững. Nông nghiệp, nông thôn và nông dân của tỉnh vẫn trong tình trạng kém phát triển.Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội có lúc, có nơi còn diễn biến rất phức tạp. Có đường lối, chủ trương đúng về phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn là vấn đề có ý nghĩa cơ bản. Song yếu tố quyết định bảo đảm sự thành công trên mặt trận hàng đầu này là các tầng lớp nhân dân đang sống và gắn bó với nông thôn
  3. cần được tổ chức, dẫn dắt bỡi một lực lượng tiên phong - tổ chức Đảng mà trực tiếp là đảng bộ cơ sở nông thôn. Các mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước đề ra có biến thành hiện thực ở cơ sở hay không, điều đó phụ thuộc không nhỏ vào năng lực vận dụng và khả năng sáng tạo của tổ chức đảng ở đó. Chỉ có đổi mới mọi mặt hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn thì mới đảm bảo cho việc giải phóng được năng lực sản xuất, phát huy được tiềm năng sáng tạo của nhân dân, giải quyết hài hoà lợi ích kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị xã hội, góp phần thực hiện từng bước mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh ở nông thôn. Trên bình diện cả nước, những năm qua, tiến trình đổi mới đã đạt được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử - trong đó có sự ổn định chính trị được đảm bảo - là một trong những thành tựu to lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Nó chứng tỏ tầm nhìn xa trông rộng của Đảng ta trong việc giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế với chính trị, giữa ổn định và đổi mới. Điều này được thể hiện trong mục tiêu tổng quát cho 5 năm 1991 - 1995 (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII): “Vượt qua khó khăn, thử thách, ổn định và phát triển kinh tế -xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng” [13, tr.58]. Có thể nói quan điểm: “ Không cho phép gây mất ổn định chính trị dẫn đến sự rối loạn” [14, tr.54] là một đòi hỏi có tính nguyên tắc trong công cuộc đổi mới nói chung và đổi mới hệ thống chính trị nói riêng. Một trong những thành tựu mà chúng ta đạt được trong những năm đổi mới vừa qua là: “Giữ vững ổn định chính trị, độc lập, chủ quyền và môi trường hoà bình của đất nước, tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho công cuộc đổi mới” [14, tr.60]; Tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng và an ninh được tăng cường”. Thành tựu đó có ý nghĩa cực kỳ to lớn trong bối cảnh quốc tế cực kỳ phức tạp do sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô, Đông Âu và sự tăng cường âm mưu thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình“ của các thế lực thù địch nhằm phá hoại công cuộc đổi mới ở nước ta. Việc giữ vững ổn định chính trị- xã hội đã trở thành điều kiện tiên quyết để đảm bảo thắng lợi cho công cuộc đổi mới. Mỗi bước
  4. tiến bộ, phát triển về kinh tế là thêm một cơ sở vững chắc để ổn định chính trị và chính trị càng ổn định thì càng tạo tiền đề, điều kiện để đổi mới thắng lợi. Chính trị- xã hội ổn định không chỉ góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ, mà còn là nhân tố cơ bản để mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Thời gian qua tuy ổn định chính trị được giữ vững nhưng vẫn còn nhiều nhân tố phức tạp không thể xem thường và đất nước ta vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, chệch hướng XHCN, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, diễn biến hoà bình do các thế lực thù địch gây ra và những nhân tố tiềm ẩn có thể gây mất ổn định chính trị là vấn đề dân chủ, vấn đề dân tộc, vấn đề tôn giáo, vấn đề ruộng đất, vấn đề phân hoá giàu nghèo, vấn đề tư tưởng... Do đó, cần phải tăng cường giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia là điều kiện cần thiết để tiến hành sự nghiệp đổi mới thắng lợi. Chính vì vậy, giữ vững ổn định chính trị - xã hội nói chung và ở tỉnh Kon Tum nói riêng là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc ở nước hiện nay. Việc chọn đề tài “Tổ chức cơ sở đảng nông thôn với việc ổn định chính trị - xã hội ở Kon Tum hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp cao học là nhằm góp phần làm rõ thêm vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách đó. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài ổn định chính trị- xã hội nói chung và ở nông thôn nói riêng luôn luôn là một chủ đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với các quốc gia, các nhà nước và các Đảng cầm quyền. Trong hệ thống lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ đề này thường được đề cập nghiên cứu và giải quyết dưới nhiều góc độ: Hoặc từ góc độ mối quan hệ giữa xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN; hoặc dưới góc độ chức năng, nhiệm vụ của HTCT, của bộ máy nhà nước, hoặc từ góc độ chuyên ngành an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội... Từ khi đổi mới đất nước đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách, nghị quyết liên quan đến chủ đề này. Trong đó đặc biệt là các vấn đề: xây dựng, phát triển nông nghiệp - nông thôn, xây dựng HTCT cơ sở, củng
  5. cố tăng cường năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, giữ vững an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội... ở tỉnh Kon Tum, cấp uỷ và chính quyền các cấp đã có những nghị quyết, chỉ thị, đề án, báo cáo đề cập đến các loại vấn đề này. Tất cả nhằm hướng tới mục tiêu bảo đảm giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh góp phần phát triển kinh tế xã hội, từng bước xây dựng và phát triển toàn diện nông thôn. Trong lĩnh vực nghiên cứu, trước đây và hiện nay đã có nhiều công trình khoa học, các đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ liên quan đến chủ đề này. - ở cấp độ nghiên cứu chuyên biệt, có thể lưu tâm đến các công trình sau: * Đề tài KX 05: “Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị của nước ta trong giai đoạn mới”. * Đề tài KX 09 - 04: “Chiến lược diễn biến hoà bình bạo loạn, lật đổ và đối sách của ta”. * Đề tài KX 04 - 14: “Đổi mới chính sách xã hội nhằm bảo đảm an ninh xã hội”. * Luận án tiến sĩ Triết học chuyên ngành Chủ nghĩa Cộng sản khoa học của Nguyễn Văn Cư (năm 2002): “ổn định chính trị xã hội trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam". * Luận văn thạc sĩ khoa lịch sử chuyên ngành xây dựng Đảng của Nguyễn Văn Dũng (năm 2000): "Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng nông thôn tỉnh Long An hiện nay". * Luận văn thạc sĩ Khoa học lịch sử của Vũ Văn Thể: “Nâng cao chất lượng lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sơ đảng nông thôn tỉnh Lâm Đồng hiện nay". * Luận văn thạc sĩ Khoa học lịch sử của Phạm Xuân Tiến: “Nâng cao chất lượng lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn miền bắc hiện nay - qua thực tiễn của huyện ứng Hoà, tỉnh Hà Tây". * Luận văn thạc sĩ Khoa Chính trị học: “Vấn đề ổn định chính trị xã hội trên địa bàn Tỉnh Thái Bình- Thực trạng và giải pháp” (năm 2004)...
  6. - Từ góc độ đặc thù khu vực Tây Nguyên, có thể kể ra một số công trình và tác phẩm sau: + Các đề tài nghiên cứu khoa học: * Chương trình cấp Nhà nước 48-09 do Uỷ ban Khoa học xã hội (nay là Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia) thực hiện trong những năm 1980. Kết quả của chương trình được xuất bản thành 3 cuốn sách: - “Một số vấn đề kinh tế - xã hội Tây Nguyên, Nxb. KHXH, HN, 1986. - “Tây Nguyên trên đường phát triển”, Nxb. KHXH, HN, 1990. - “Một số vấn đề kinh tế - xã hội các dân tộc thiểu số ở Đăk Lăk", Nxb. KHXH, HN, 1990. * Đề tài nhánh cấp Nhà nước KX 05 - 11 “Về cơ cấu, tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới hiện nay ở Đăk Lăk" 1993 - 1994”. * Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ 1997 - 1998: “Một số chính sách kinh tế - xã hội đối với các dân tộc ít người ở Tây Nguyên”, do PGS, TS. Nguyễn Văn Chỉnh làm chủ nhiệm đề tài. * Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ 1996 - 1997: “Quá trình thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, đưa đồng bào theo các đạo giáo ở Tây Nguyên lên Chủ nghĩa xã hội" (từ 1975 - 1996) do TS. Trần Quốc Long làm chủ nhiệm đề tài. * Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (2003 - 10): “Công tác tư tưởng - văn hoá góp phần ổn định tình hình chính trị, tư tưởng các tỉnh Tây Nguyên” - của Cơ quan thường trực của Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương tại miền Trung và Tây Nguyên - do CN Trương Minh Tuấn làm chủ nhiệm đề tài. * Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ 2003: “Nghiên cứu vấn đề già làng và vai trò của già làng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở buôn, làng Tây Nguyên” - của Cơ quan thường trực của Bộ Nội Vụ ở miền Trung và Tây Nguyên - do CN Huỳnh Thanh Bình làm chủ nhiệm đề tài. * Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở 2003: “Điểm nóng chính trị - xã hội và một số kinh nghiệm rút ra từ việc xử lý điểm nóng chính trị - xã hội ở các tỉnh Tây Nguyên”, của Khoa Chính trị học, Phân viện Đà Nẵng, Học viện CTQG Hồ Chí Minh. + Trong thời gian qua, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học có giá trị liên quan đến vấn đề Tây Nguyên được xuất bản thành sách như:
  7. * “Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện người các dân tộc ở Tây Nguyên” do GS, TS. Lê Hữu Nghĩa làm chủ biên, Nxb. CTQG, HN, 2001. * “Một số vấn đề về xây dựng hệ thống chính trị ở Tây Nguyên”, do PGS, TS. Phạm Hảo - TS. Trương Minh Dục đồng chủ biên, Nxb. CTQG, HN, 2003. + Ngoài ra còn một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu những vấn đề kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên: * Phạm Thanh Khiết: "Những giải pháp kinh tế - xã hội chuyển nền kinh tế tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hoá ở Tây Nguyên”, luận án PTS Kinh tế, 1/1988. * Nguyễn Ngọc Hoà: “Văn hoá Êđê - biến đổi và phát triển”, luận án T S Lịch sử, 2002. * Nguyễn Mậu Linh: “Đảng bộ tỉnh Đăk Lăk lãnh đạo công tác dân vận(1986-2002)”, luận văn Thạc sĩ Lịch sử, 2003. * Đoàn Triệu Long: “Truyền đạo Tin lành trái phép ở Gia Lai - thực trạng và giải pháp”, luận văn Thạc sĩ Tôn giáo, 2004. * Lê Như Hoa: “Quan hệ dân tộc trên địa bàn tỉnh Kom Tum - thực trạng và giải pháp”, luận văn Thạc sĩ Triết học, 2004. Các công trình khoa học trên đây, hoặc đề cập đến những khía cạnh khác nhau, những mặt khác nhau trong việc thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước, hoặc chỉ giới hạn trong một số lĩnh vực có liên quan đên mặt này hay mặt kia của các vấn đề đặt ra trong tiến trình phát triển đất nước nói chung, Tây Nguyên hoặc một số địa phương cụ thể nói riêng. Cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về vai trò tổ chức cơ sở đảng nông thôn trong việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội. ở Tỉnh Kon Tum cũng chưa có công trình hay đề án nào khảo sát, nghiên cứu chuyên sâu trên lĩnh vực này. Vì vậy, tác giải chọn đề tài “Tổ chức cơ sở đảng nông thôn trong việc ổn định chính trị - xã hội ở Kon Tum hiện nay" làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học là phù hợp và cần thiết. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3.1. Mục đích nghiên cứu Phân tích làm rõ những mặt mạnh, mặt yếu của các tổ chức cơ sở Đảng nông
  8. thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum đối với việc giữ vững ổn định chính trị- xã hội trong thời gian qua. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng góp phần đảm bảo giữ vững ổn định chính trị xã hội ở tỉnh Kon Tum trong thời gian tới. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Luận chứng để khẳng định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ nông thôn là một trong những nhân tố quyết định đến tính chất, trạng thái HTCT cơ sở; là nguyên nhân và điều kiện bảo đảm ổn định chính trị- xã hội ở nước ta hiện nay. - Làm rõ thực trạng năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng nông thôn ở Kon Tum trong việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong thời gian qua. - Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng nông thôn góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn Kon Tum trong giai đoạn tiếp theo. 4. Đối tượng và phạm vi nhiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng nông thôn trong mối liên hệ với các nhân tố ảnh hưởng đến việc bảo đảm giữ vững ổn định chính trị xã hội trên địa bàn Kon Tum. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn chỉ đề cập đến các tổ chức cơ sở đảng nông thôn và tình hình chính trị- xã hội trên địa bàn tỉnh Kon Tum mà không nghiên cứu các tổ chức cơ sở đảng ở thành thị, thời gian chỉ giới hạn lại từ năm 2001 đến nay. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - Luận văn lấy cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, các Nghị quyết của Tỉnh uỷ Kon Tum về xây dựng Đảng, về công tác quốc phòng, an ninh để thực hiện đề tài. - Kết hợp phương pháp nghiên cứu khoa học, khảo sát, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, lôgíc, lịch sử; trong đó chú trọng phương phương pháp tổng kết thực tiễn.
  9. 6. Đóng góp mới của luận văn Về mặt lý luận, luận văn làm rõ hơn vị trí, vai trò tổ chức cơ sở đảng nông thôn trong việc bảo đảm ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn Kon Tum hiện nay. Luận văn làm rõ thực trạng và nêu các giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng trong việc bảo đảm ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn thuộc tỉnh Kon Tum. Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp uỷ đảng tỉnh Kon Tum trong việc chỉ đạo, lãnh đạo ở địa phương. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 03 chương, 6 tiết. Chương 1 Vị TRí, VAI TRò CủA Tổ CHứC ĐảNG ở NÔNG THÔN TRONG VIệC ổN ĐịNH CHíNH TRị - Xã HộI 1.1. Giữ vững ổn định về chính trị xã hội - điều kiện cơ bản để phát triển xã hội ở nước ta hiện nay Trong lịch sử xã hội loài người luôn tồn tại mối quan hệ biện chứng giữa ổn định và phát triển. Có ổn định, mới có điều kiện để phát triển và thông qua sự phát triển để tạo lập những tiền đề vật chất và tinh thần mới cho sự ổn định. Thực tiễn đời sống chính trị- xã hội đương đại một lần nữa cho thấy ổn định chính trị- xã hội không chỉ là điều kiện mà còn là một tiêu chí cấu thành của sự phát tiển bền vững. Chính vì thế, việc tìm hiểu, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề có tính phương pháp luận về chính trị và các nhân tố ảnh h ưởng đến sự ổn định chính trị để từ đó chỉ ra vai trò, chức năng nhiệm vụ của HTCT, trong đó có vai trò và chức năng của Đảng chính trị- trên nền tảng của khoa học chính trị mac xít-lêninit là cần thiết và hữu ích. 1.1.1. Chính trị - khái niệm và cấu trúc
  10. Chính trị là một hiện tượng đã nảy sinh từ xa xưa trong đời sống xã hội, từ khi xuất hiện đến nay, chính trị được coi là một trong những lĩnh vực phức tạp và có vai trò đặc biệt quan trọng. Các nhà tư tưởng, giới văn nghệ sỹ, những kỹ nghệ gia, giới kinh doanh... đã ngày càng tỏ rõ sự quan tâm đến chính trị... Và cùng với thời gian, số người bình thường cũng đã quan tâm hơn, hay chí ít cũng cảm nhận một cách trực giác rằng: cuộc sống của họ, sự xếp đặt số phận - hạnh phúc hay khổ đau của họ dường như không thể không phụ thuộc vào hoạt động của các đảng phái chính trị, của giới cầm quyền, của các chính khách... Mỗi bước thăng trầm của lịch sử nhân loại, trên một khía cạnh nào đó đều gắn liền với sự đổi thay trong lĩnh vực chính trị, đời sống chính trị. Nhưng chính trị là gì? Và tại sao, trong những điều kiện nào, chính trị lại có thể giữ vai trò như là nhân tố cơ bản quyết định sự hưng thịnh hay suy vong của mỗi quốc gia, dân tộc; đưa lại niềm vui, hạnh phúc hay nỗi khổ đau của mỗi con người và mỗi cộng đồng người? Trả lời những câu hỏi đó rõ ràng không đơn giản và cũng không mấy dễ dàng đạt tới sự thống nhất. Ngay từ thời cổ đại ở phương Tây, Aritstot đã từng quan niệm: Con người là một “động vật xã hội”, hơn nữa con người là một “động vật chính trị”. Điều đó đã nói lên đặc trưng cơ bản của đời sống xã hội - mang tính người là đời sống cộng đồng (hình thành các quan hệ xã hội, các hoạt động xã hội) với sự liên kết theo một cấu trúc nhất định trên cơ sở tự nhận thức, giác ngộ của các thành viên... Như vậy, từ rất lâu người ta đã sống và hoạt động như những thực thể chính trị, nhưng do những yếu tố khách quan hoặc chủ quan nào đó chi phối, nên không phải ai cũng hiểu, cũng cảm nhận như nhau về chính trị và vai trò của chính trị. Quan niệm về chính trị, đưa ra một định nghĩa về chính trị khả dĩ được mọi người trong giới lý luận chấp nhận, cho đến nay vẫn đang là vấn đề cần tranh luận. Đó là chưa nói đến sự khác biệt khá lớn giữa giới lý luận Mác - Lênin với giới chính trị học tư sản trên khá nhiều phương diện của vấn đề này. Chính trị là một hiện tượng rất phức tạp của đời sống xã hội, vì vậy không ngạc nhiên khi số lần định nghĩa về nó ngày càng tăng lên, mở rộng hơn. Một số
  11. nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã thống kê trong các tác phẩm của V.I.Lênin có tới trên 70 định nghĩa về chính trị. Trong lịch sử tư tưởng chính trị, nhiều ấn phẩm, nhiều công trình nghiên cứu của nhân loại cũng được dành để bàn về vấn đề chính trị. Vì thế, sẽ là hợp lý và cần thiết khi khái quát lịch sử các tư tưởng chính trị, học thuyết chính trị cũng như lần theo lô gic hiện thực đời sống chính trị của nhân loại để tìm kiếm câu trả lời. Xét về nguồn gốc ngôn ngữ, trong tư tưởng chính trị tiêu biểu phương Tây thời cổ đại thì: chính trị (politic) là nhà nước và các công việc liên quan đến đời sống xã hội. Từ đó, những giá trị tư tưởng chính trị cơ bản thời kỳ này đều tập trung đề cập đến cái tất yếu của chính trị, các loại hình tổ chức nhà nước, chính thể mà các nhà tư tưởng tiêu biểu cho là nên có hay không nên có để dẫn dắt xã hội. Tất nhiên xoay quanh trục tư tưởng chủ đạo này hàng loạt nội dung có liên quan cũng đã được đề cập, giải quyết: - Khẳng định chính trị - nhà nước là cái tất yếu của đời sống xã hội, là lo công việc chung; là khoa học về cấu trúc, tổ chức xã hội. Chính trị và thể chế chính trị do vậy phải khách quan, vì cái chung - cái xã hội. - Khảo cứu các loại hình thể chế chính trị - nhà nước hiện tồn (quân chủ trị, quý tộc trị, dân chủ trị...) và so sánh ưu nhược điểm của các loại hình thể chế hiện có, nêu lên loại hình thể chế có thể... - Để làm được điều đó, các tiêu chuẩn trí tuệ, đạo đức, nghệ thuật của chính trị - nhà nước cũng như của con người chính trị - thủ lĩnh chính trị... được bàn luận khá sâu sắc. ở phương Đông, thời cổ đại, các nhà tư tưởng Trung Quốc đã xây dựng nhiều học thuyết chính trị có ảnh hưởng to lớn đến đời sống chính trị của Trung Quốc nói riêng và các nước Đông á nói chung, trong đó phải kể đến ba dòng tư tưởng chính trị: Đức trị (Nho gia), Vô vi nhi trị (Lão gia) và Pháp trị (Pháp gia). Đến thời cận đại, các nghiên cứu về chính trị cả ở phương Tây lẫn phương Đông là sự tiếp nối, bổ sung và phát triển các giá trị trong các học thuyết chính trị tiêu biểu thời cổ đại trên nền tảng tư tưởng về quyền tự nhiên của con người để tạo
  12. lập một thể chế nhà nước - chính trị hợp lý, có hiệu quả với các nhà tư tưởng tiêu biểu: J.Lốc cơ, T.Hôpxơ, Môngteskiơ, J.Rút xô..., Khang Hữu Vy, Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn... C.Mác và Ph.Ăng ghen là những người đã kế thừa có chọn lọc những giá trị tư tưởng triết học, kinh tế chính trị học... của nhân loại để xây dựng và đặt nền móng cho trường phái lý luận mác-xít trên nhiều phương diện, trong đó có lĩnh vực chính trị. Trong những tác phẩm của các ông, những vấn đề chính trị đã được nghiên cứu, đề cập một cách khá tỉ mỉ và có sức thuyết phục. Các ông xem chính trị với tư cách là một hiện tượng xã hội - lịch sử; chỉ ra vị trí của chính trị gắn liền với vai trò của các giai cấp, sự xuất hiện các đảng phái chính trị, sự hình thành các quốc gia dân tộc trong đời sống xã hội. Các ông cũng vạch rõ bản chất chính trị của các giai cấp cầm quyền trong xã hội có chế độ người bóc lột người. Trong khi vạch trần bản chất phản động của chính trị tư sản đương thời, các ông đã nhận thấy tầm quan trọng của việc giai cấp công nhân và đảng cách mạng của nó phải đề ra chính trị của giai cấp mình. Theo đó chính trị vô sản có thể và sẽ tạo nên những điều kiện cho sự giải phóng giai cấp, giải phóng lao động, giải phóng dân tộc, bảo đảm cho sự phát triển tự do của mỗi người trong sự tự do của mọi người. Trong những điều kiện lịch sử mới, V.I.Lênin đã phát triển học thuyết của C.Mác - Ph.Ăngghen và đưa ra những câu trả lời cho các vấn đề cơ bản mà đời sống chính trị thế giới thời đoạn lịch sử của ông đang đặt ra. Ông đã có công lao to lớn trong việc làm phong phú thêm học thuyết chính trị mác-xít, cũng như hiện thực hóa nó trong thực tiễn cách mạng ở nước Nga. V.I. Lênin đã nghiên cứu khá tường tận, cặn kẽ các vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động chính trị của đảng mác-xít, đề ra chiến lược, sách lược cách mạng cho những người cộng sản Nga và chứng minh bằng thực tế tài năng vận dụng linh hoạt, khéo léo chiến lược, sách lược đó trong thực tiễn cách mạng vô sản Nga. Từ sự nghiên cứu ấy, V.I.Lênin cho rằng: - Chính trị là lợi ích của giai cấp này hay giay giai cấp khác.
  13. - Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, là đấu tranh giai cấp vì lợi ích giai cấp. - Cái căn bản nhất trong chính trị là việc tổ chức quyền lực nhà nước. - Chính trị là sự tham gia vào công việc nhà nước, là việc định hướng cho nhà nước, xác định những hình thức, nội dung, nhiệm vụ của nhà nước. - Chính trị thể hiện lợi ích cơ bản, lâu dài, sâu sắc nhất của con người, của giai cấp đang theo đuổi mục đích thỏa mãn các nhu cầu vật chất của họ - những cái mà nền sản xuất vật chất, nền kinh tế xã hội tạo ra. Bởi thế, Lênin cũng cho rằng: Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế. Trong mối quan hệ qua lại giữa chính trị và kinh tế, chính trị có tính độc lập tương đối và do vậy chính trị không thể không ưu tiên hơn so với kinh tế. - Chính trị giống đại số học hơn số học và càng giống toán học cao cấp hơn là toán học sơ cấp. Do đó, chính trị là một khoa học và là một nghệ thuật... Những luận điểm của các nhà kinh điển Mác - Lênin về vấn đề chính trị và những chính sách cần phải đạt tới của đảng của giai cấp vô sản trên thực tế vẫn còn nguyên giá trị, tạo nền tảng cho việc tìm kiếm câu trả lời cho ngày hôm nay. Song, dẫu sao cũng phải thấy rằng, với tư cách là một lĩnh vực rộng lớn, phức tạp, luôn không ngừng biến đổi, nên những tri thức và sự hiểu biết về chính trị vẫn chưa bao giờ được xem là đầy đủ, hoàn bị. Vì lẽ đó, việc tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và làm giàu sự hiểu biết của chúng ta về lĩnh vực này là đòi hỏi tự nhiên - khách quan. Trong sự tìm kiếm những lời giải đáp mới, ngay trong giới khoa học chính trị Mác - Lênin cũng đã xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau - không chỉ đối với những khía cạnh chi tiết mà ngay điểm xuất phát - nguồn gốc xuất hiện các sự kiện, hiện tượng chính trị cũng còn những cách hiểu, cách lý giải khác nhau. Nổi lên trong đó, theo hiểu biết của chúng tôi là những tranh luận về tính lịch sử của phạm trù chính trị và thông qua đó để xây dựng một quan niệm sát hợp, xác đáng hơn về phạm trù này. Trong cuốn “Từ điển chính trị rút gọn” của Liên Xô thì: “Chính trị là công việc của xã hội hay công việc của nhà nước, là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ
  14. giữa các nhóm xã hội số lớn, trước hết là giai cấp, cũng như giữa các dân tộc, giữa các quốc gia”. Theo chúng tôi, định nghĩa này có ưu điểm nhấn mạnh được thuộc tính giai cấp của phạm trù chính trị, nhưng chưa phản ánh khái quát các cấp độ chủ thể tham gia vào quan hệ chính trị và hoạt động chính trị trong đời sống chính trị đương đại. Kế thừa và bổ sung vào quan niệm này, phải chăng có thể thay toàn bộ vế sau - sau cụm từ các nhóm xã hội số lớn, bằng cụm từ mới: giai cấp, dân tộc, quốc gia... nói chung là những nhóm lợi ích liên quan đến nhà nước. Theo cách hiểu này, nhóm xã hội số lớn trong định nghĩa này đồng nghĩa với phạm trù lực lượng chính trị - xã hội (trong quan niệm cổ đại không có sự phân biệt giữa hai từ chính trị và xã hội). Lực lượng chính trị -xã hội có nội hàm rộng hơn phạm trù giai cấp. Ưu điểm của cách diễn đạt này là nó đã kế thừa được nội dung cốt yếu trong tư tưởng của các nhà tư tưởng chính trị cổ đại - tư tưởng cho rằng, chính trị là công việc lo cho cái chung, cái xã hội; đồng thời vẫn bảo đảm tính sát hợp với hiện thực chính trị trong điều kiện hiện tại - mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp vẫn đang tiếp tục diễn ra phức tạp, quyết liệt trên phạm vi mỗi một quốc gia và phạm vi toàn thế giới. Bằng cách diễn đạt này, người ta có thể chia sẻ được với ý kiến cho rằng chính trị - nhà nước là cái tất yếu cần phải có để giải quyết các xung đột xã hội, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm sự cố kết cộng đồng (cho dù buổi đầu chưa hoàn toàn bền vững). Có thể trước khi xã hội phân chia giai cấp cũng đã xuất hiện những xung đột về mặt lợi ích giữa cộng đồng thị tộc, bộ tộc này với cộng đồng thị tộc, bộ tộc khác. Các cuộc chiến tranh giữa thị tộc, bộ tộc này với thị tộc, bộ tộc khác cũng như sự cố kết tương đối bền vững của các loại hình tổ chức xã hội ấy và vai trò của quyền lực (mặc dù nó chưa phải là quyền lực nhà nước mà chỉ là quyền lực của thủ lĩnh và bộ máy quyền lực trong đời sống cộng đồng, xã hội) trong việc giải quyết các cuộc xung đột là những bằng chứng hiển nhiên cho thấy tầm quan trọng của nhân tố quyền lực xã hội (quyền lực công) trong việc chăm “lo cho cái chung - cái xã hội”...
  15. Mặt khác, ngày nay sự phát triển kinh tế thị trường kèm theo đó sự phân tầng, phân hoá xã hội một cách sâu sắc khiến cho ngay trong bản thân một giai cấp, tầng lớp cũng đã có sự phân hoá lợi ích. Hiện tượng có nhiều đảng chính trị trong một giai cấp tranh nhau giành quyền kiểm soát bộ máy nhà nước, hay sự phần tầng thu nhập - lợi ích trong một giai cấp, một tầng lớp... cho thấy cấu trúc chính trị - xã hội đang thay đổi mạnh mẽ. Vì thế, xem ra khái niệm giai cấp, sự phân hóa giai cấp sẽ không bao hàm, không phản ánh đầy đủ, sát hợp sự phân tầng xã hội và cơ cấu xã hội - chính trị vốn hết sức phong phú, phức tạp của xã hội đương đại. Tuy vậy, cũng phải thấy rằng, nếu từ cách lập luận trên mà đi đến phủ nhận vấn đề giai cấp trong chính trị đương đại sẽ là không đúng. Chẳng hạn, ở Liên Xô trong thời kỳ cải tổ, khi bàn về “tư duy chính trị mới”, một số tác giả đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của quan điểm chính trị, nhưng họ trừ một điểm, đó là vấn đề giai cấp. Ngay cả khái niệm giai cấp cũng ít ai nhắc đến. Trong khi đó về bản chất, từ khi xã hội phân chia giai cấp, cùng sự xuất hiện nhà nước đến nay, chính trị trước hết là lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, các nhà nước, các quốc gia dân tộc. Tất nhiên, nếu hiểu chính trị chỉ là giai cấp - quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp thì sẽ làm nghèo đi nội hàm của khái niệm này, nhưng rõ ràng phủ nhận vấn đề giai cấp trong chính trị là phủ nhận quan hệ cơ bản nhất trong điều kiện xã hội có giai cấp, có nhà nước. Vì vậy, theo chúng tôi, trong tính lịch sử của nó, dẫu có thể tồn tại những quan niệm khác nhau về nguồn gốc của các hiện tượng được xem là chính trị (gắn với xung đột lợi ích của các nhóm xã hội, duy trì quyền lực công hay chỉ là xung đột lợi ích giai cấp và duy trì quyền lực nhà nước), thì trong xã hội có giai cấp, có nhà nước, khi xét đến cùng cần làm rõ bản chất chính trị là quan hệ giữa các giai cấp và đấu tranh giai cấp; đồng thời phải thấy rằng, chính trị trong xã hội đương đại - xã hội dân chủ (tất nhiên có tính từ), còn là quan hệ giữa các lực lượng chính trị - xã hội (các nhóm lợi ích khác nhau, các cộng đồng công dân) với nhà nước; chính trị trong ý nghĩa đó là quá trình đấu tranh để xác lập các thể chế, thiết chế nhà nước hợp lý, có hiệu quả - vì sự ổn định và phát triển xã hội; là hoạt động của các chính đảng, các tổ chức đại diện nhóm lợi ích trong việc giành, chia sẻ
  16. hoặc gây áp lực và thực thi quyền lực nhà nước vì lợi ích khách quan của các lực lượng chính trị - xã hội, của các cộng đồng công dân. Sự vận động của đời sống chính trị đương đại, do vậy là sự tác động qua lại của nhiều mối quan hệ rất phức tạp, khi nổi lên mối quan hệ này, lúc lại nổi lên mối quan hệ khác. Tuy nhiên, sự vận động ấy dù phức tạp đến đâu, xét về nguồn gốc sâu xa - khi xã hội đã phân chia thành giai cấp, vẫn là sự phản ánh lợi ích của giai cấp, lực lượng chính trị - xã hội này hay lợi ích của giai cấp, lực lượng chính trị - xã hội khác. Chính trị tuy có không gian nhiều chiều, thời gian nhiều vẻ, nhưng cái gốc vẫn là sự phản ánh lợi ích của các giai cấp, lợi ích của các nhà nước. Từ các quan niệm như thế, có thể tiếp cận nghiên cứu (xem xét cấu trúc) chính trị theo nhiều lát cắt, nhiều cấp độ khác nhau, phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu cũng như nhu cầu của hoạt động thực tiễn, trong đó ít nhất cũng cần chú ý đến các cách xác định cơ bản sau: Cách thứ nhất: Xem chính trị là một tổng thể bao gồm các bộ phận: - ý thức chính trị, lý tưởng chính trị phản ánh nhu cầu lợi ích của các giai cấp, các lực lượng chính trị - xã hội, cũng như những phương hướng hành động để thực hiện nhu cầu lợi ích của các lực lượng, các cấp độ chủ thể chính trị. - Hệ thống chính trị (HTCT) - các tổ chức bộ máy quyền lực (Đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức đại diện nhóm lợi ích hợp pháp). Đó là sự phản ánh trật tự pháp lý về tương quan so sánh giữa các giai cấp, các lực lượng chính trị - xã hội trong cơ cấu giai cấp - xã hội. - Những động thái, sự kiện, hiện tượng phản ánh trạng thái, xu thế vận động của các quan hệ chính trị và hoạt động chính trị hiện thực trong những không gian và thời gian xác định. Cách thứ hai: tiếp cận nghiên cứu chính trị theo các mặt hoạt động của các cấp độ chủ thể cơ bản gồm: - Cầm quyền (thực chất là hoạt động của các đảng chính trị trong hệ thống đa đảng đối lập nhằm tranh giành quyền lực nhà nước hoặc hoạt động của đảng cầm quyền trong hệ thống nhất nguyên chính trị).
  17. - Công quyền (hoạt động của bộ máy nhà nước từ phương diện thực hiện các chức năng quyền lực công, dịch vụ công). - Tham gia chính trị - vai trò và khả năng thực tế của các nhóm lợi ích, các tổ chức đại diện nhóm lợi ích ngoài nhà nước trong đời sống chính trị - xã hội của quốc gia. (Những vấn đề phản ánh tính chất, mức độ của thể chế chính trị dân chủ - dân chủ tư sản và dân chủ XHCN). Cách thứ ba: Xem và nghiên cứu theo các cấp độ cơ bản sau: - Quyết sách chính trị - hệ thống cương lĩnh, chính sách, chủ trương của các chủ thể chính trị. - Thể chể, thiết chế chính trị và nhà nước. - Con người chính trị - thủ lĩnh chính trị và công dân cùng với những mối quan hệ đựơc hình thành giữa họ. Những cách tiếp cận và xác định cấu trúc như trên đều có tính hợp lý và mỗi cách đều có những ưu điểm nhất định.Vì thế trong nghiên cứu ứng dụng cho phép có sự lựa chọn, xem xét sao cho sát hợp với đòi hỏi thực tế. Với những nội dung được trình bày hoàn toàn có cơ sở để hiểu rằng: sự ổn định chính trị chính là một trạng thái mà bản thân các chủ thể chính trị cầm quyền luôn muốn có, luôn tìm cách duy trì và xem đó là nội dung, điều kiện bảo đảm cho sự phát triển xã hội. Nhưng hiểu thế nào là ổn định chính trị? Làm gì, làm thế nào để giữ vững sự ổn định chính trị đã, đang và sẽ là vấn đề được nghiên cứu và thực hành không hoàn toàn như nhau...! 1.1.2. ổn định chính trị- xã hội, nội dung và điều kiện của sự phát triển bền vững ở nước ta hiện nay Thoạt nhìn, có thể có lý khi nói rằng: chính trị, nhà nước nói chung thường có xu hướng tự bảo vệ. Vì lẽ đó, trên thực tế, dường như chính trị thường có dấu hiệu “bảo thủ”, và họ - những người làm chính trị, các chủ thể chính trị thường nhân danh về sự cần thiết phải ổn định để biện hộ cho việc chậm đổi mới, ngại đổi thay... Thực ra quan niệm như thế là mới nhìn thấy một mặt của đời sống chính trị - quan hệ chính trị và hoạt động chính trị. Tìm hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc quan hệ
  18. chính trị và hoạt động chính trị sẽ cho chúng ta một cách nhìn thỏa đáng hơn về thực chất của sự ổn định và những nhân tố có thể ảnh hưởng đến sự ổn định trong đời sống chính trị. Chính trị là hoạt động của số đông (nhóm, tầng lớp, tập đoàn, giai cấp...). Trong hoạt động của số đông, tất yếu nảy sinh nhu cầu phối hợp, nhu cầu điều khiển và bị điều khiển. Chính vì thế, bất cứ một lực lượng, một cấp độ chủ thể chính trị nào tham gia vào quan hệ chính trị cũng đều bị sự chi phối của quan hệ quyền lực và có khát vọng đạt tới quyền lực (tất nhiên quyền lực đó là quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước). Đấu tranh giai cấp, hoạt động chính trị là cách thức, con đường để các chủ thể thực hiện khát vọng đó. Như vậy, trong bản chất của nó, chính trị đã là một trạng thái động. Một lực lượng (đảng phái, giai cấp hoặc liên minh lực lượng xã hội - chính trị) nào đó cầm quyền, để thực thi quyền lực chính trị của mình tất yếu phải thông qua nhiều phương tiện, công cụ khác nhau. Trong xã hội được tổ chức thành nhà nước, công cụ, phương tiện hữu hiệu nhất đó chính là bộ máy nhà nước. Nhờ nắm được bộ máy nhà nước mà đảng cầm quyền có thể sử dụng hàng loạt các công cụ, các phương thức khác nhau để biến cái vốn là ý chí của đảng phái mình, giai cấp mình thành cái mang hình thức phổ biến đối với toàn xã hội. Trong hệ thống những công cụ đó, pháp luật được coi là công cụ đắc lực và có hiệu quả nhất. Từ đấy cho thấy, trong quá trình thực thi quyền lực chính trị, quá trình quản lý và điều hành mọi hoạt động xã hội của bất cứ một giai cấp, lực lượng cầm quyền nào, ngoài việc hoạch định một đường hướng chính trị phản ánh nhu cầu - lợi ích khách quan của mình, đồng thời thoả mãn về cơ bản với nhu cầu lợi ích của quốc gia, dân tộc, đều không thể không tính đến việc thể chế hóa mục tiêu chính trị ấy thành hiến pháp, pháp luật. Tính đầy đủ, đồng bộ và khoa học và tương đối ổn định của hệ thống hiến pháp, pháp luật do vậy, là điều kiện cơ bản tiếp theo sự hoạch định đường lối chính trị - quyết sách chính trị của đảng cầm quyền. Chính vì thế, có thể nói rằng: hiến pháp, pháp luật là những công cụ cơ bản nhất nhằm thực hiện ý chí, quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền. Mặt khác, hiến pháp, pháp luật khi
  19. đã được ban hành sẽ tạo ra một hành lang bảo đảm cho mọi công dân hoạt động sáng tạo. Pháp luật, do vậy, có đặc trưng tạo nên một quan niệm chuẩn mực chính thống, trong khi xã hội vẫn có thể còn có rất nhiều quan niệm chuẩn mực khác nhau. Tất nhiên, ngoài hai nhân tố trên, hiệu quả thực thi quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền đến đâu, xét đến cùng, lại phụ thuộc vào chính quá trình tổ chức thực hiện cũng như việc kiểm tra và xử lý việc tổ chức thực hiện hiến pháp, pháp luật trong thực tế. Nhiệm vụ ấy thuộc về các tổ chức hành pháp, tư pháp, cũng như sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội trong thể chế dân chủ. Nếu các khâu đều hoạt động nhịp nhàng, có hiệu quả, thì hiệu lực của quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền sẽ cao và ngược lại. Trên ý nghĩa ấy, hoàn toàn đúng khi nói rằng chính trị, hoạt động chính trị, tự bản thân nó là một khoa học và một nghệ thuật. Đã là một khoa học và một nghệ thuật, chính trị đòi hỏi phải được đối xử với nó như một khoa học, một nghệ thuật. Bản thân chính trị là một trạng thái động, các quan hệ chính trị được hình thành do sự tác động qua lại giữa các chủ thể chính trị (nhóm, tầng lớp xã hội, giai cấp, dân tộc, quốc gia...); chính sự vận động của các quan hệ chính trị này tạo ra sự biến động không ngừng của toàn bộ đời sống chính trị - xã hội, đó là quá trình chính trị. Như trên đã nói, trong xã hội có giai cấp, chính trị xét về bản chất là mối quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp, mà nói đến giai cấp là nói đến một kiểu nhà nước đại diện cho một phương thức sản xuất, do vậy qua các giai đoạn của quá trình chính trị tùy theo sự đổi thay của các cơ cấu kinh tế - xã hội và sự đổi thay của các quan hệ chính trị, sự đổi thay của tương quan lực lượng giữa các giai cấp, các lực lượng chính trị - xã hội được hình thành trong thực tế mà hệ thống chính trị của xã hội phải có những thay đổi tương xứng. Nếu vì nguyên nhân khách quan hay chủ quan nào đó mà không đổi mới hoặc chậm đổi mới các nhân tố cấu thành hệ thống và cả hệ thống chính trị sẽ dẫn tới sự bất ổn định, lúc đó sớm hay muộn xã hội sẽ lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng và xác lập một trạng thái chính trị mới, hợp lý hơn sẽ là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển tiếp theo.
  20. Sự ổn định chính trị-xã hội trong thời đại ngày nay không chỉ phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế, quân sự, mà còn phụ thuộc vào sự trong sạch của nền tảng tinh thần xã hội, vào truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, vào sự đúng đắn của các quyết sách chính trị trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội... ổn định chính trị- xã hội nói một cách khái quát là giai cấp cầm quyền phải giữ vững tăng cường được quyền lực chính trị của mình, nhà nước của giai cấp đó phải mạnh và có hiệu lực, luật pháp phải nghiêm minh, chế độ xã hội đã xác lập phải được giữ vững. Sự ổn định chính trị-xã hội nhìn chung được khái quát qua các tiêu chí cơ bản sau: Một là: thể chế chính trị không bị rối loạn, hoạt động của các bộ phận trong đó nhịp nhàng theo một hướng thống nhất đáp ứng yêu cầu của đời sống thực tiễn. Hai là: có sự thống nhất giữa đường lối của Đảng cầm quyền và những chủ trương, chính sách của Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội... Ba là: bản thân Nhà nước của giai cấp cầm quyền nói riêng và xã hội nói chung có khả năng ngăn chặn và đập tan mọi hoạt động chống phá của các thế lực đối lập. Bốn là: ổn định chính trị- xã hội cũng là qúa trình bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo (hay kiểm soát) xã hội của chính đảng của giai cấp cầm quyền. Nói chung, thực chất của việc ổn định chính trị-xã hội là khả năng chủ động trong mọi tình huống của thể chế chính trị. Bản chất của ổn định chính trị-xã hội không chỉ đối lập với khủng hoảng, rối loạn đổ vỡ, mà còn đối lập với sự trì trệ, ngưng đọng. Với nghĩa đó thì ổn định chính trị-xã hội là sự ổn định của một hệ thống đang liên tục vận động và biến đổi trong các qũy đạo được xác định là phù hợp với quy luật vận động, phát triển của đời sống xã hội. Đó là ổn định động gắn với sự phát triển, nhằm phát triển, sự ổn định này không phải vì mục đích tự thân, mà ổn định chỉ là điều kiện cho sự phát triển, còn phát triển mới là mục đích. Đó là một quá trình thống nhất biện chứng, diễn ra liên tục trong không gian và thời gian, kết quả là đưa lại sự phát triển xã hội bền vững. Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười trong bài phát biểu tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá VIII đã nhấn mạnh: ổn định

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản