intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức, trí, thể, mỹ của con người Việt Nam

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:93

0
186
lượt xem
54
download

LUẬN VĂN: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức, trí, thể, mỹ của con người Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Vấn đề con người, xây dựng và phát triển con người là vấn đề muôn thủa, một đề tài tưởng chừng đã cũ nhưng luôn luôn mới. Bởi lẽ thế giới xung quanh con người và bản thân con người luôn vận động, biến đổi. Xã hội ngày càng phát triển, nhận thức của con người ngày càng sâu rộng thì những vấn đề về con người đặt ra cũng ngày càng phức tạp, đa dạng hơn. Con người và phát triển con người đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Đúng như C.Mác...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức, trí, thể, mỹ của con người Việt Nam

  1. LUẬN VĂN: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức, trí, thể, mỹ của con người Việt Nam
  2. Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Vấn đề con người, xây dựng và phát triển con người là vấn đề muôn thủa, một đề tài tưởng chừng đã cũ nhưng luôn luôn mới. Bởi lẽ thế giới xung quanh con người và bản thân con người luôn vận động, biến đổi. Xã hội ngày càng phát triển, nhận thức của con người ngày càng sâu rộng thì những vấn đề về con người đặt ra cũng ngày càng phức tạp, đa dạng hơn. Con người và phát triển con người đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Đúng như C.Mác đã dự báo, trong tương lai mọi khoa học đều gặp nhau ở một khoa học cao nhất, đó là khoa học về con người. Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề xây dựng và phát triển con người đang là một vấn đề thực tiễn sống động, ảnh hưởng đến các nền tảng phát triển của nhân loại. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một mong muốn tột bậc là đất nước được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc ai cũng được học hành. Thực chất là mong muốn giải phóng triệt để con người Việt Nam, để có những con người phát triển toàn diện. Giải phóng con người, xây dựng con người mới phát triển toàn diện đủ năng lực làm chủ bản thân và xã hội là một trong những nội dung quan trọng, là vấn đề chi phối mọi tư duy và hành động của Hồ Chí Minh từ lúc ra đi tìm đường cứu nước cho đến lúc về nơi vĩnh hằng. Đó là ước mơ, khát vọng cháy bỏng, đồng thời là sự nghiệp cao cả và vĩ đại nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nó chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trên các mặt đạo đức, trí lực, thể lực, mỹ thuật (gọi tắt là đức, trí, thể, mỹ) đã góp phần to lớn vào việc đào tạo cho cách mạng Việt Nam những con người ưu tú, đủ sức đưa Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, liên tục giành những thắng lợi to lớn, làm thay đổi sâu sắc địa vị nước ta từ nước thuộc địa, nô lệ trở thành một nước độc lập và ngày càng có vị thế trên trường quốc tế. Phát triển con người một cách toàn diện luôn là mục tiêu xuyên suốt mọi chính sách của Đảng, Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, là tư tưởng nhân văn quan trọng trong quản lý xã hội đương đại và là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ
  3. Chí Minh về phát triển con người. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định: “xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, lòng khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội” [15, tr.114]. Đây là đường lối đúng đắn và quan trọng, song trong thực tế, ngay đội ngũ những người tiên phong - cán bộ đảng viên, một bộ phận không nhỏ vẫn chưa đáp ứng được những mong muốn đó. Vì sao như vậy? rất cần câu trả lời có căn cứ khoa học. Bước vào thế kỷ XXI, khi đất nước từng bước tiến sâu vào quá trình công n ghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động mở cửa và hội nhập với khu vực và quốc tế thì hàng loạt thách thức đã nảy sinh xung quanh việc xử lý vấn đề vì con người, cho con người, phát huy nhân tố con người. Nói cách khác hầu nh ư các vướng mắc trên con đường phát triển, đều có nguyên nhân thuộc về vấn đề con người Việt Nam chưa được phát triển toàn diện - sản phẩm tất nhiên và đặc thù của lịch sử Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đ ức, trí, thể, mỹ của con ng ười Việt Nam là hết sức cần thiết để tìm ra những đ ịnh hướng, nguyên tắc ph ương pháp lu ận đ úng đắn cho sự n ghi ệp xây dựng con người Việt Nam làm chủ đất nước, đủ tài, đức, sức khoẻ, đưa đất n ước đi lên chủ nghĩa xã hội. Làm rõ đư ợc vấn đề này thực sự là một đòi hỏi bức thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Song, đ ây là vấn đề rất lớn, luận văn này chỉ mong góp phần nhỏ bé làm rõ về mặt lý lu ận một vài khía cạnh nh ư khái niệm, cơ sở hình thành, điều kiện và nội dung xây dựng con ng ười phát triển toàn diện đức, trí, thể, mỹ trong t ư tưởng Hồ Chí Minh. Vì những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức, trí, thể, mỹ của con người Việt Nam " làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Hồ Chí Minh học. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Vấn đề con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đã có nhiều công trình khoa học có giá trị được công bố. - Về các đề tài khoa học:
  4. + Chương trình khoa học cấp Nhà nước KX02 (1991- 1995) có đề tài KX02. 05: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người và chính sách xã hội đối với con người” do PGS. TS Lê Sỹ Thắng làm chủ nhiệm. Đề tài đã nghiên cứu làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người, chính sách xã hội của Đảng, Nhà nước đối với con người. + Chương trình khoa học cấp Nhà nước KHXH. 04 (1996-2000) có đề tài Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá và xây dựng con người mới do Giáo sư Đặng Xuân Kỳ làm chủ nhiệm. Đề tài làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá và xây dựng con người Việt Nam mới, mối quan hệ giữa phát triển văn hoá và xây dựng con người mới - Về các luận văn, luận án: + Nguyễn Hữu Công (2001) “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện”, luận án tiến sỹ triết học, học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Tác giả tập trung nêu lên tư tưởng về giáo dục, đào tạo phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh. Về con đường hình thành và phát triển con người toàn diện theo quan niệm của Hồ Chí Minh. Từ đó tác giả đưa ra hướng vận dụng và phát huy tư tưởng phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh vào sự nghiệp xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay. + Phùng Thu Hiền (2002) “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tố con người với việc phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay”, luận văn thạc sỹ triết học, Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Tác giả đã nêu khái niệm con người, nhân tố con người, chỉ ra cơ sở hình thành và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tố con người, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và chỉ ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới hiện nay. + Nguyễn Văn Tuyên (2006) “Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng con người Việt Nam", luận văn thạc sỹ Hồ Chí Minh học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Luận văn nêu quan điểm của Hồ Chí Minh về con người Việt Nam được giải phóng và sự nghiệp giải phóng con người Việt Nam, từ đó luận văn chỉ ra sự vận dụng của Đảng ta về tư tưởng giải
  5. phóng con người trong công cuộc đổi mới đất nước và chỉ ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sự nghiệp giải phóng con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh. - Về sách chuyên khảo + Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, H.1995 của tập thể tác giả: Nguyễn Huy Hoan, Nguyễn Xuân Thông, Nguyễn Thị Minh Hương, Phạm Thị Lai, Nguyễn Thanh Nga. Tập thể tác giả đã sưu tầm, tuyển chọn đoạn trích trong Hồ Chí Minh toàn tập do Nhà xuất bản Sự thật xuất bản lần thứ nhất từ 1980 đến 1989 và một số tác phẩm lẻ của Người, một số tư liệu do Viện bảo tàng Hồ Chí Minh cung cấp. Nội dung “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới” được xắp sếp theo 6 vần đề sau: Vai trò của con người và ý nghĩa việc xây dựng con người mới; đánh giá con người; bồi dưỡng con người về trí tuệ; bồi dưỡng đạo đức; xây dựng mục đích và lối sống; chăm lo lợi ích và đời sống vật chất của con người. + PGS. TS Thành Duy (2001): “Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện", Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Trong đó tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa văn hoá và việc xây dựng con người mới ở Việt Nam, đồng thời chỉ rõ quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất con người Việt Nam phát triển toàn diện trong bối cảnh hiện nay. + TS Lê Quang Hoan (2002) “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người” Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách đề cập một số nội dung sau: làm sâu sắc thêm khái niệm con người, nhân tố con người, phát huy nhân tố con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Trình bày rõ thêm nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về con người. Tập trung phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, chỉ ra đặc điểm, nội dung chủ yếu, bản sắc, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát huy nhân tố con người trong thời gian qua theo yêu cầu CNH, HĐH, kiến nghị phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH ở Việt nam hiện nay dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. - Về các bài tạp chí:
  6. + Tạp chí nghiên cứu lý luận (số 1/2000) đăng bài của PGS Trần Thành - Lê Quang Hoan “Hồ Chí Minh với vấn đề nhân tố con người trong sự nghiệp CNH, HĐH”. Các tác giả đã khái quát một số nội dung có ý nghĩa phương pháp luận của Hồ Chí Minh về vấn đề con người như giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng XHCN, đạo đức cách mạng . + Tạp chí Lịch sử Đảng (số 12/2005) đăng bài của PGS, TS Thành Duy “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách đối với con người”. PGS, TS Thành Duy đã khái quát lại tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người: Bản chất con người, những phẩm chất cơ bản của con người và một số chính sách đối với vấn đề con người. + Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông (Học viện Báo chí và tuyên truyền, Số 5/2007) có bài của Lê Thị Hương “Về một số phẩm chất cơ bản cần có và định hướng phát huy nhân tố con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh”. Bài viết chỉ ra một số phẩm chất của con người trong quan điểm Hồ Chí Minh: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tinh thần lao động quên mình, có lối sống lành mạnh văn minh và chỉ ra một số định hướng cơ bản về phát huy tiềm năng và sáng tạo của con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Những công trình trên đã nêu lên và khái quát được những nét lớn, chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về giáo dục, đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa. Một số tác phẩm bắt đầu đi vào khai thác, nghiên cứu những khía cạnh cụ thể của tư tưởng đó. Tuy nhiên, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đức, trí, thể, mỹ của con người Việt Nam còn nhiều mặt, nhiều nội dung ch ưa được đề cập đầy đủ, nhất là những cống hiến của Hồ Chí Minh trong việc tạo môi tr ường và điều kiện cho con người Việt Nam phát triển toàn diện để có những thế hệ người Việt Nam đủ đức, trí, thể, mỹ; vừa “hồng” vừa “chuyên” đủ khả năng đưa Việt Nam sánh vai các cường quốc năm châu như Hồ Chí Minh mong đợi. Vì thế đề tài tác giả chọn không trùng lặp với các đề tài của những người đi trước. Song kết quả nghiên cứu của những người đi trước sẽ làm cơ sở để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu góp phần hoàn thiện và làm phong phú hơn: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức, trí, thể, mỹ của con ng ười Việt Nam”.
  7. 3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 3.1. Mục đích - Nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống những cống hiến lý luận và thực tiễn của Hồ Chí Minh trong xây dựng con người Việt Nam trên các mặt đức, trí, thể, mỹ và việc Đảng Cộng sản Việt Nam kế tục sự nghiệp đó của Hồ Chí Minh trong công cuộc công nghiệp hoá đất nước. 3.2. Nhiệm vụ - Trình bày và làm rõ về mặt lý luận một cách cơ bản, hệ thống những vấn đề như: khái niệm, cơ sở hình thành và nội dung đức, trí, thể, mỹ trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Việt Nam phát triển toàn diện và những cống hiến của Hồ Chí Minh trong thực tế xây dựng con người Việt Nam phát triển về đức, trí, thể, mỹ. - Trình bày và phân tích định hướng phát triển con người toàn diện của Đảng cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá nhằm kế tục tư tưởng Hồ Chí Minh. - Đề xuất phương hướng và giải pháp đổi mới giáo dục đào tạo con người trong những năm tiến hành công nghiệp hoá. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4.1. Đối tượng nghiên cứu Hệ thống các quan điểm của Hồ Chí Minh về đức, trí, thể, mỹ của con người Việt Nam được thể hiện trong những bài nói và viết của Người, các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam; hoạt động thực tế của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa (thực chất là con người phát triển toàn diện). 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Luận văn tập trung nghiên cứu một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Việt Nam phát triển trên các mặt nh ư: đức, trí, thể, mỹ. - Đảng ta vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trong công cuộc đổi mới. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
  8. 5.1. Cơ sở lý luận Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lênin: Lịch sử – lôgíc; phương pháp diễn dịch; phương pháp phân tích – tổng hợp, so sánh; phương pháp khái quát hoá … để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài. 6. Những đóng góp về khoa học của luận văn Luận văn góp phần làm rõ hơn những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Việt Nam phát triển trên các mặt chủ yếu cấu thành phẩm chất, năng lực của nó, đó là: Đức, Trí, Thể, Mỹ; góp phần làm sâu sắc thêm tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh . 7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Với những kết quả đạt được. Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh ở trường chính trị, cao đẳng và đại học. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.
  9. Chương 1 tư tưởng của Hồ Chí Minh về người việt nam phát triển các mặt đức,trí, thể, mỹ 1.1. Một số khái niệm cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Việt Nam phát triển đức, trí, thể, mỹ ở Hồ Chí Minh, tư tưởng về con người, về giải phóng con người và phát triển con người, coi con người là nhân tố quyết định thành công của cách mạng, luôn quán xuyến trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Người và dân tộc ta. Luận văn này nghiên cứu một khía cạnh về phát triển đức, trí, thể, mỹ con người Việt Nam sau khi đã được giải phóng về chính trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Do đó, trong tiết này tập trung làm rõ hai khái niệm công cụ: con người, con người phát triển toàn diện và bản chất của nó . 1.1.1. Khái niệm con người và bản chất con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh Khái niệm con người, bản chất con người trong tư tưởng của Hồ Chí Minh đã được nhiều người nghiên cứu và có kết quả công bố. Chúng tôi đồng tình với những đánh giá, kết luận đã công bố trong các công trình của các nhà khoa học đi trước như Đặng Xuân Kỳ, Thành Duy, Lê Quang Hoan, Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Hữu Công…. Với tư cách là một khái niệm công cụ trong nghiên cứu đề tài này, đồng thời để góp thêm ý kiến, làm sáng tỏ câu trả lời con người là gì, bản chất con người như thế nào trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng tôi xin nêu mấy vấn đề sau: 1.1.1.1. Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa về người: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người” [40, tr.644]. Lý giải thông thường theo định nghĩa này (duy danh), “chữ người” mà Hồ Chí Minh đề cập ở đây chủ yếu là con người cộng đồng, tồn tại ở ba khu vực địa lý khác nhau (làng, nước, thế giới) được hiểu ở ba nghĩa: hẹp, rộng và rất rộng và đây chủ yếu là con người xã hội, có quan hệ xã hội và mang bản chất xã hội. Con người hình thành là do biết đối xử với người khác, giải quyết các quan hệ xã hội từ hẹp (gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn) trong làng đến quan hệ rộng là đồng bào cả nước, rộng nữa là nhân loại cả thế giới.
  10. Điều này cũng có nghĩa con người không thể tách biệt đồng loại, tách biệt xã hội, ngay quyền tự nhiên tạo hoá ban cho con người làm cha mẹ, anh em, chú bác chỉ có được trong quan hệ với cộng đồng xã hội, với làng, với nước với nhân loại thế giới. Song, sự độc đáo của cách hiểu này là ở chỗ: “Chữ người” (có thể hiểu như là chữ người viết nghiêng), là chỉ cho con người cá thể (một con người), nhưng con người đó còn là một con người xã hội, là một thành viên của một cộng đồng xã hội nhất định. Cộng đồng đó, không chỉ là cộng đồng ba cấp nhà - làng - nước đã tồn tại từ lâu trong quan niệm của nhân dân ta, mà còn cụ thể hơn, rộng hơn với 5 cấp là gia đình, họ tộc, làng xóm, dân tộc và nhân loại như Hồ Chí Minh nêu trong định nghĩa. Điều này cũng có nghĩa là để thành người (chữ người) thì điều kiện cần là con người cá thể, con người sinh vật học, nhưng điều kiện đủ phải là con người xã hội. Nghĩa là nghiên cứu con người, bản chất con người phải đồng thời chú ý cả hai mặt sinh vật học và xã hội. Cái độc đáo của định nghĩa này còn hàm chứa tiêu chuẩn con người khi nói đến nghĩa hẹp, rộng và rộng nữa, tức là nói đến khả năng phát triển của con người, đơn giản hay phong phú, trình độ cao hay thấp phụ thuộc vào kết quả của quá trình ứng xử, giải quyết các quan hệ xã hội xuất hiện đơn giản hay phức tạp, gia đình hay quốc gia hoặc quốc tế. Con người sẽ phát triển hơn khi được giao tiếp rộng hơn, “đi một đàng, học sàng khôn”. Cùng dùng với thuật ngữ chữ người, gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn, đồng bào, nhân loại để chỉ cho “con người”, Hồ Chí Minh còn dùng các thuật ngữ khác nh ư: dân, dân chúng, quần chúng, sĩ, nông, công, thương, già trẻ, gái, trai, cán bộ, đảng viên… cũng để nói về “con người”. Mặc dù thuật ngữ “con người” Hồ Chí Minh dùng rất ít (hai lần), nhưng thông qua các thuật ngữ trên Hồ Chí Minh đề cập đầy đủ các mặt của con người. 1.1.1.2. Theo Hồ Chí Minh, con người muốn tồn tại thì phải có ăn, mặc, ở, đi lại… Đó là những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống con người. Con người sinh vật học và con người xã hội (con người trí tuệ) đều có nhu cầu (bản năng) ăn, ở, đi lại. Song, con người khác con vật ở chỗ, trong con người, ý thức thay thế bản năng, hoặc bản năng của con người là bản năng đã được ý thức. ở con người cái bản năng đã được
  11. cải tạo, nhưng không hề bị xoá bỏ, nó vẫn tác động tới toàn bộ đời sống của con người. Quá trình người hoá là quá trình duy nhất diễn ra trong sự tương tác giữa yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội. Thực ra không có hai loại con người tức con người sinh vật học và con người xã hội cùng sống trong xã hội loài người mà chỉ có những con người cụ thể được phát triển từ con người sinh học thành người khôn và trưởng thành, hiện tồn tại là con người trí tuệ, có ý thức. Có thể thấy điều này qua cách lý giải của Hồ Chí Minh. Theo Hồ Chí Minh, dù sống ở quốc gia độc lập hay lệ thuộc, đã là dân thì: “Dân dĩ thực vi thiên, nghĩa là dân lấy ăn làm trời, không có ăn là không có trời. Lại có câu có thực mới vực được đạo nghĩa là không có ăn chẳng làm được việc gì” [42, tr.572]. Và: “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” [39, tr.152]. Chính vì vậy, để dân phân biệt được giá trị của tự do, độc lập: Chúng ta phải thực hiện ngay: 1. Làm cho dân có ăn, 2. Làm cho dân có mặc, 3. Làm cho dân có chỗ ở, 4. Làm cho dân có học hành. Đi đến 4 điều đó để dân nước ta xứng đáng với tự do, độc lập và giúp sức được cho tự do, độc lập [39, tr.152]. Điều này có nghĩa là Hồ Chí Minh quan tâm đến nhu cầu tối thiểu của con người, dù là con người sinh vật học hay con người xã hội để tồn tại như một con người phải có ăn, mặc, ở, đi lại. Đó là nhu cầu để được sống, có sống mới nói đến làm đạo lý và các việc cao xa khác như chính trị, quân sự, chinh phục vũ trụ. Hồ Chí Minh cũng cho rằng con người không phải chỉ có nhu cầu vật chất, mà còn có những nhu cầu về tinh thần, và nhu cầu tinh thần là cái đặc trưng của con người, cho con người. Con người khác con vật chính ở nhu cầu tinh thần. Tất cả những nhu cầu vật chất và tinh thần đó có được đáp ứng hay không lại hoàn toàn phụ thuộc vào chế độ xã hội, vào hình thái kinh tế - xã hộ mà họ đang sống. Dân nô lệ, thuộc địa nửa phong kiến
  12. có nhu cầu khác dân tư bản, dân của nước đế quốc thực dân và nhu cầu của con người ở mỗi quốc gia được đáp ứng cũng khác nhau. 1.1.1.3. Theo Hồ Chí Minh, con người là bộ phận của tự nhiên, nhưng con người không phải chỉ biết thích nghi với tự nhiên, mà còn chinh phục tự nhiên; không phải chỉ chịu lệ thuộc vào tự nhiên, mà còn muốn cải tạo, làm chủ tự nhiên, không phải chỉ bằng lòng với cái tự nhiên vốn có, mà còn tạo ra cái thiên nhiên thứ hai để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người. Trong hoạt động đầy sáng tạo đó, mỗi con người cụ thể bao giờ cũng là thành viên của một cộng đồng xã hội nhất định, tham gia vào chinh phục, cải tạo tự nhiên theo chức năng và vai trò của cộng đồng mình. 1.1.1.4. Chủ tịch Hồ Chí Minh phân biệt người này với người khác chủ yếu không phải là vấn đề chủng tộc màu da (vàng, trắng, đỏ hay đen) hoặc vấn đề dân tộc, mà từ nhận thức về chủng tộc, dân tộc đi đến nhận thức về giai cấp. Đó là sự vận động của tư duy Hồ Chí Minh về vấn đề con người. Từ việc tìm câu trả lời: Vì sao người Việt Nam phải làm nô lệ, phải cùng khổ, mất nước, người Việt Nam da vàng bị mất nhân tính cũng như nhiều dân tộc thuộc địa trên thế giới đang bị đoạ đày, Hồ Chí Minh đã thấy được rằng chỉ có thể giải phóng giai cấp mới giải phóng được các dân tộc trên thế giới. Nhưng Người không đi tới nhận thức một cách cực đoan về vấn đề giai cấp, mà lại luôn luôn kết hợp dân tộc với giai cấp trong mọi vấn đề của cách mạng Việt Nam, trong đó có vấn đề con người. 1.1.1.5. Từ các vấn đề nêu trên, bản chất con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh được bộc lộ rõ ràng. Hồ Chí Minh luôn luôn đặt con người, mỗi cá nhân con người trong mối quan hệ ba chiều: Quan hệ với một cộng đồng nhất định, trong đó mỗi người là một thành viên; Quan hệ với một chế độ xã hội nhất định trong đó con người được làm chủ hay bị áp bức, bóc lột; Quan hệ với tự nhiên, mà con người là một bộ phận không tách rời, nhưng lại luôn luôn “người hoá” tự nhiên trong những cộng đồng xã hội nhất định và bị quy định bởi những chế độ xã hội nhất định.
  13. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm mác-xít về con người: "Con người không phải là một cái trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” [34, tr.11]. Các quan hệ xã hội có nhiều loại, trong đó quan hệ sản xuất đóng vai trò chi phối, quyết định các quan hệ xã hội khác, biểu hiện thành quan hệ giai cấp. Vì nó xác định con người thuộc các giai tầng xã hội khác nhau. Do vậy, nói đến bản chất con người trong xã hội có giai cấp thì trước hết phải nói đến tính giai cấp của nó. Nhưng bản chất con người không phải chỉ do quan hệ sản xuất tạo ra, cũng không thể chỉ quy bản chất con người vào tính chất giai cấp của nó. Nếu quan hệ sản xuất thể hiện bản chất tầng một của con người thì các quan hệ xã hội khác thể hiện bản chất tầng hai của con người và lại được thể hiện thông qua bản chất tầng một, tạo nên những khác biệt giữa con người với con người, giữa nhà tư sản này với nhà tư sản khác, giữa công nhân này với công nhân khác, chưa kể sự khác biệt giữa công nhân với tư bản… Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa khẳng định quan hệ sản xuất đã phân chia con người thành “giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”, đồng thời lại thấy chỉ có tổng hoà tất cả các quan hệ xã hội thì mới tạo thành bản chất con người. Người không coi nhẹ mặt quan hệ sản xuất, nhưng cũng không tuyệt đối hoá quan hệ sản xuất, và cũng không coi quan hệ sản xuất là quan hệ duy nhất tạo thành bản chất con người. Các quan hệ xã hội không phải nhất thành bất biến: có loại thay đổi nhanh, có loại thay đổi chậm; có loại tồn tại tương đối lâu, trong đó những gì tốt đẹp vẫn được giữ lại để kế thừa, phát triển trong những điều kiện lịch sử mới (quan hệ đạo đức, quan hệ thiện ác, quan hệ gia đình, họ tộc, làng xã, dân tộc…), có loại lại bị thay thế bởi cái khác khi những điều kiện lịch sử cụ thể để nó tồn tại không còn nữa (quan hệ sản xuất, quan hệ giai cấp). Từ đó có thể thấy rằng bản chất con người cũng biến đổi cùng với sự biến đổi của các quan hệ xã hội. Chính điều này mà Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vấn đề cải tạo con người cũ, xây dựng con người mới khi chế độ thực dân phong kiến ở nước ta đã bị lật đổ, khi cả một dân tộc đã bắt tay vào xây dựng một chế độ xã hội mới dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
  14. 1.1.2. Về phát triển toàn diện con người và bản chất con người Việt Nam phát triển toàn diện trong tư tưởng Hồ Chí Minh Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chỉ rõ, con người Việt Nam được sự dìu dắt, giáo dục, đào tạo của Đảng cộng sản và Hồ Chí Minh đã trở thành yếu tố quyết định, là động lực thực sự cho sự phát triển của cách mạng trong suốt tám, chín chục năm qua. Hơn thế nữa, đối với Hồ Chí Minh, con người không chỉ là động lực mà còn là mục tiêu cao cả nhất, là cái đích hướng tới của cách mạng Việt Nam. Chúng ta làm cách mạng là để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng và phát triển con người, nâng vị thế của con người lên một tầm cao mới, xứng đáng là chủ thể của mọi quá trình phát triển trong xã hội mới xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân, dân tộc Việt Nam được giải phóng về chính trị thì phát triển con người về mọi mặt để không ngừng năng cao trình độ, phẩm chất, năng lực của người chiến sĩ cách mạng, của công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động (nói chung là người Việt Nam) là tư tưởng rất quan trọng, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Hồ Chí Minh. Phát triển toàn diện con người, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa và đào tạo con người phát triển toàn diện là các phạm trù được Hồ Chí Minh dùng nhiều, tuy có khác nhau về từ ngữ nhưng có nội dung, ý nghĩa giống nhau là hình thành con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh – thời đại độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quan điểm phát triển toàn diện con người của Hồ Chí Minh được trình bày một cách trực tiếp và gián tiếp qua rất nhiều tác phẩm, cũng như qua những hành động cụ thể trong hoạt động thực tiễn của Người. Đáng chú ý là: “Thư gửi các học sinh” nhân ngày khai trường đầu tiên của chế độ mới (tháng 9/1945); Hồ Chí Minh chỉ rõ các học sinh được hấp thụ: “Một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn các năng lực sẵn có của các em” (TG nhấn mạnh) [39, tr.32]. Quan điểm này trở thành mục tiêu đào tạo của giáo dục Việt Nam. Trong Báo cáo chính trị, trình bày tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951), lần đầu tiên, vấn đề xây dựng con người mới được Hồ Chí Minh chính thức nêu ra, cần “Xúc tiến công tác văn hoá để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến kiến quốc” [40, tr.173]. Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng,
  15. nói chuyện tại Lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I, (12-6-1956), Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mục đích giáo dục bây giờ là phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đào tạo lớp người, lớp cán bộ mới” [43, tr.183]. Khái niệm người xã hội chủ nghĩa, con người mới xã hội chủ nghĩa được Hồ Chí Minh chính thức đề cập tới trong bài nói chuyện với thầy và trò trường Chu Văn An (Hà Nội) ngày 31-12-1958, Người khẳng định: “Muốn xã hội chủ nghĩa, phải có: người xã hội chủ nghĩa” [44, tr.296]. Từ đó, khái niệm con người xã hội chủ nghĩa được Hồ Chí Minh nhắc đến nhiều lần. Nói chuyện với Hội nghị bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo các cấp toàn miền Bắc nhằm quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, tháng 3- 1961, Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” [45, tr.310]. Luận điểm trên của Hồ Chí Minh trở thành luận điểm kinh điển khi đề cập đến vấn đề xây dựng con người trong chủ nghĩa xã hội. Có thể hiểu luận điểm này với những nội dung chủ yếu sau đây: Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra con người xã hội chủ nghĩa - chủ thể của toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không xây dựng chủ nghĩa xã hội thì không thể nói đến việc xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, ngược lại, không có những con người xã hội chủ nghĩa thì không thể xây dựng được chủ nghĩa xã hội. Thứ hai, không phải chờ cho kinh tế, văn hoá phát triển cao rồi mới xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, cũng không phải xây dựng xong những con người xã hội chủ nghĩa rồi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc xây dựng con người xã hội chủ nghĩa phải được đặt ra ngay từ đầu và phải được Đảng, Nhà nước, nhân dân, mỗi gia đình và cá nhân đặc biệt quan tâm trong suốt tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thứ ba, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa, điều đó không có nghĩa là tất cả mọi người phải và có thể trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa thật đầy đủ, thật hoàn chỉnh ngay một lúc. Điều đó chỉ có nghĩa là, trước hết, cần có những con người tiên tiến, có được những nét tiêu biểu của con người mới xã hội chủ nghĩa có thể làm gương cho người khác, từ đó lôi cuốn toàn xã hội đẩy mạnh việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa
  16. Phát triển toàn diện con người, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, đào tạo con người phát triển toàn diện được Hồ Chí Minh khái quát trong sự nghiệp trồng người của cách mạng Việt Nam. Sự nghiệp trồng người của Hồ Chí Minh, của Đảng ta và toàn dân ta không chỉ giới hạn trong việc vun trồng các mầm non tương lai của nước nhà mà tiến hành suốt quá trình phát triển của đời người nhằm hình thành ở Việt Nam những con người mới đủ sức làm chủ cách mạng, làm chủ xã hội phát triển. Đó là những con người có giác ngộ lý tưởng xã hội chủ nghĩa; có kiến thức, hiểu biết, nắm vững khoa học kỹ thuật; có đạo đức cách mạng: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; có tinh thần quốc tế trong sáng; sống có lý tưởng, có bản lĩnh, biết làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân; biết sống “mình vì mọi người, mọi người vì mình”; lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, lao động có năng suất, chất lượng, hiệu quả; không sợ gian khổ, khó khăn, vì lợi ích của bản thân, tập thể và xã hội; có năng lực để làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân. Điều này cũng có nghĩa là kết quả của sự nghiệp trồng người là con người mới phát triển toàn diện. Đặc biệt, Hồ Chí Minh nhìn nhận, tiếp cận con người Việt Nam đương đại trên các mặt chủ yếu hình thành nên phẩm chất và năng lực của nó, đó là: Thể lực, Trí tuệ, Thẩm mỹ, Đạo đức. Điều này thể hiện qua nhiều bài viết, bài nói của Người như: “Đời sống mới”, “Thư gửi lớp chuẩn bị tổng phản công” của trường trung học lục quân Trần Quốc Tuấn ngày 9/11/1949; “Gửi tướng Nguyễn Sơn” tháng 3/1948; “Nhiệm vụ của người làm tướng” (8/1948) và nhất là trong bài “Gửi các em học sinh” trên báo Nhân dân ngày 24/10/1955. Trong bức thư này, Hồ Chí Minh đã đứng trên quan niệm về bản chất (những điều cốt lõi) của con người phát triển toàn diện là Đức, Trí, Thể, Mỹ, để đặt yêu cầu phải rèn luyện, giáo dục, đào tạo, phát triển con người theo những tiêu chí đó. Người viết: Đối với các em việc giáo dục gồm có: - Thể dục: Để làm cho thân thể khoẻ mạnh. - Trí dục: Ôn lại những điều đã học, học thêm tri thức mới. - Mỹ dục: Để phân biệt cái đẹp, cái gì không đẹp.
  17. - Đức dục: Là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu của công (năm cái yêu) [43, tr.75]. Tư tưởng này được Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định trong “Báo cáo về Dự thảo Hiến Pháp sửa đổi” tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (1959). Người viết: “Nhà nước chú trọng đặc biệt việc giáo dục thanh niên về Đức dục, Trí dục, Thể dục” [44, tr.593]. Như vậy, con người phát triển toàn diện trong quan niệm của Hồ Chí Minh hiện ra như một thực thể vẹn toàn mà trong nó sự mạnh khoẻ về mặt thể chất, sự phong phú về mặt trí tuệ (tri thức mới và cũ), sự hiểu biết sâu sắc về cái hay cái đẹp, cái tốt, cái cao cả...cũng như những phẩm chất đạo đức trong sáng, cao đẹp là những điểm cơ bản và chủ yếu nhất. 1.2. một số nội dung cơ bản trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Việt Nam phát triển các mặt đức, trí, thể, mỹ 1.2.1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Việt Nam phát triển các mặt đức, trí, thể, mỹ 1.2.1.1. Hồ Chí Minh tiếp thu những kinh nghiệm đào tạo, phát triển con người của dân tộc Việt Nam Dân tộc nào cũng phải đào tạo những người lao động. Lao động sản sinh con người và lao động cũng cải tạo, phát triển con người. Người Việt Nam luôn mong ước trở thành người lao động giỏi, thành người khổng lồ, thành các thần, các thánh trong lao động chinh phục tự nhiên, thành các “ông tát bể, ông kể sao, ông đào sông, ông trồng cây, ông xây rú..” (đồng dao), thành Sơn Tinh chống lại Thuỷ Tinh tượng trưng cho sức mạnh lũ lụt để bảo vệ sản xuất và an cư lạc nghiệp. Việt Nam là một quốc gia nằm ở cửa ngõ Đông Nam châu á, khí hậu khắc nghiệt, môi trường sống khó khăn, thiên tai thường xuyên đe doạ sự tồn vong của cộng đồng và cá nhân. Việt Nam lại ở cạnh một quốc gia rộng lớn, luôn có tham vọng bành trướng xuống phía nam. Trong lịch sử, nhân dân ta thường xuyên phải đối đầu với các cuộc xâm lược không chỉ từ Phương Bắc mà cả Phương Tây. Đặc điểm đó đòi hỏi người Việt Nam phải luôn cảnh giác, phải quan tâm đến rèn luyện sức khoẻ, luyện võ nghệ, rèn tài và kỹ
  18. năng chiến đấu, hun đúc tinh thần sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc, để trở thành người anh hùng có kỹ thuật xây thành đắp luỹ và kỹ sảo chế tác nỏ thần như An Dương Vương trong chiến đấu chống ngoại xâm. Bên cạnh người yêu nước, người lao động, ở Việt Nam cũng sớm hình thành người văn hoá. Do tiếp biến, giao thoa của các nền văn hoá ấn Độ, Trung Hoa và sau này là Pháp, đời sống tinh thần, tư tưởng người Việt chịu ảnh hưởng lớn của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và Ki tô giáo. Trong đó Nho giáo có ưu thế hơn so với các tôn giáo khác bởi nó có một hệ thống phạm trù, khái niệm khá hoàn chỉnh, phù hợp với sự thống trị của giai cấp phong kiến Việt Nam. Hơn nữa, Nho giáo không chủ trương ngu dân để dễ cai trị mà còn muốn có một xã hội học tập, mọi người đi học “mấy chữ để làm người”. Nho giáo còn xây dựng được mẫu người lý tưởng cho xã hội phong kiến đó là những người “quân tử”, những “kẻ sĩ”, những “đại trượng phu” mà ở họ các năng lực, phẩm chất và ý chí tinh thần được coi trọng và đề cao. Nho giáo còn đề ra những phương sách cụ thể để đào tạo và phát triển con người, trong đó nhấn mạnh yếu tố tự giác “tu thân” của các cá nhân để tề gia mà vươn tới trị quốc, bình thiên hạ. Trong lịch sử cha ông ta đã sử dụng một hệ thống phương pháp giáo dục, đào tạo, phát triển con người khá phong phú như: - Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đức dục với trí dục - Kết hợp giữa tri và hành. - Khích lệ, động viên và khuyến khích tinh thần tự giác vươn lên của mỗi con người. Học tập kinh nghiệm cha ông, Hồ Chí Minh đã kết hợp chặt chẽ giáo dục đạo đức cách mạng, lý tưởng, quan điểm sống với tri thức khoa học xã hội nhân văn cho người Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, có làm tốt điều đó chúng ta mới có thể tạo ra được những con người mới đức tài vẹn toàn; đạo đức và tài năng, lý trí và tình cảm không thể tách rời trong nhân cách của người cách mạng. “Có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó”; “có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại để thụt két” [43, tr.126]. Vì vậy, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đức dục với trí dục là phương pháp hết sức quan trọng để đào tạo cho cách mạng những con người “vừa hồng, vừa chuyên”.
  19. “Tri và hành” là một phương pháp đào tạo, phát triển con người của nền giáo dục truyền thống Việt Nam. Mặc dù trong thực tế vấn đề này làm chưa tốt, kinh nghiệm còn ít, song giá trị tinh thần, tiến bộ và ý nghĩa tích cực của nó trong việc xây dựng, hoàn thiện và phát triển nhân cách con người là điều đáng ghi nhận và cần phải tiếp thu. Hồ Chí minh luôn nhấn mạnh kết hợp học với hành, lý luận phải gắn với thực tế, học tập kết hợp với lao động sản xuất. Hồ Chí Minh viết: “Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế, chỉ thuộc lòng để đem loè thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích. Vì vậy, chúng ta cần phải gắng học, đồng thời học thì phải hành” [40, tr.235]; “chỉ biết lý luận mà không biết thực hành thì cũng là tri thức một nửa... lý luận kết hợp với thực hành, học tập kết hợp với lao động sản xuất” [44, tr.174]; theo Hồ Chí Minh nếu thực hiện tốt “tri và hành”; giữa nhận thức với hoạt động thực tiễn, làm cho mọi người biết lấy việc phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc làm mục đích tối cao cho việc học tập, nâng cao trình độ mọi mặt của mình sẽ là biện pháp hữu hiệu thúc đẩy sự ra đời phát triển của con người toàn diện ở nước ta. Động viên, khích lệ tinh thần hiếu học, cần học là phương pháp mà cha ông ta ưa dùng như: niêm danh, yết bảng các sĩ tử thi đỗ; khắc tên vào bảng vàng, bia đá; tổ chức lễ vinh quy bái tổ một cách trịnh trọng; ban thưởng yến tiệc, mũ áo, ruộng đất, tước lộc... Sinh thời Hồ Chí Minh cũng có những hình thức khen thưởng xứng đáng cho những người chăm ngoan, học giỏi; tặng giấy khen, bằng khen; danh hiệu học sinh giỏi, danh hiệu cháu ngoan Bác Hồ, người tốt, việc tốt; gửi ra nước ngoài tiếp tục đào tạo; ưu tiên tuyển chọn vào biên chế; nâng lương trước thời hạn; đề bạt vào những cương vị lãnh đạo phù hợp... 1.2.1.2. Hồ Chí Minh tiếp thu những quan điểm phát triển con người toàn diện của chủ nghĩa Mác - Lênin Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh được vũ trang những quan điểm cực kỳ quan trọng: - Quan điểm duy vật biện chứng về con người trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội;
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2