intTypePromotion=1
ADSENSE

Lý thuyết đạo đức về sự quan tâm - một điển hình của cách tiếp cận nữ quyền trong đạo đức học

Chia sẻ: Bình Bình | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

67
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Vào nửa sau thế kỷ XX, ở phương Tây đã hình thành một cách tiếp cận mới trong nghiên cứu đạo đức - cách tiếp cận nữ quyền. Khi nghiên cứu về các vấn đề đạo đức, các nhà tư tưởng nữ quyền đã đề xuất một lý thuyết đạo đức mới dựa trên sự quan tâm với tư cách là loại hình đối chọn với lý thuyết đạo đức về công lý mà theo họ là đậm màu định kiến giới. Trong bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích nội dung của lý thuyết đạo đức về sự quan tâm để qua đó thấy được nét đặc sắc của cách tiếp cận nữ quyền trong đạo đức học.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Lý thuyết đạo đức về sự quan tâm - một điển hình của cách tiếp cận nữ quyền trong đạo đức học

TẠP CHÍ KHOA HỌC, ðại học Huế, Số 66, 2011<br /> LÝ THUYẾT ðẠO ðỨC VỀ SỰ QUAN TÂM - MỘT ðIỂN HÌNH<br /> CỦA CÁCH TIẾP CẬN NỮ QUYỀN TRONG ðẠO ðỨC HỌC<br /> Nguyễn Văn Hòa<br /> Trung tâm ðào tạo Từ xa, ðại học Huế<br /> Nguyễn Việt Phương<br /> Trường ðại học Khoa học, ðại học Huế<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Vào nửa sau thế kỷ XX, ở phương Tây ñã hình thành một cách tiếp cận mới trong<br /> nghiên cứu ñạo ñức - cách tiếp cận nữ quyền. Khi nghiên cứu về các vấn ñề ñạo ñức, các nhà<br /> tư tưởng nữ quyền ñã ñề xuất một lý thuyết ñạo ñức mới dựa trên sự quan tâm với tư cách là<br /> loại hình ñối chọn với lý thuyết ñạo ñức về công lý mà theo họ là ñậm màu ñịnh kiến giới. Trong<br /> bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích nội dung của lý thuyết ñạo ñức về sự quan tâm ñể<br /> qua ñó thấy ñược nét ñặc sắc của cách tiếp cận nữ quyền trong ñạo ñức học.<br /> <br /> 1. ðặt vấn ñề<br /> ðạo ñức học hay triết học ñạo ñức là lĩnh vực học thuật ñã có lịch sử hình thành<br /> phát triển khá lâu ñời ở phương Tây, song lại hiếm khi chú ý ñến tiếng nói về nữ giới.<br /> Nữ giới hầu như vắng mặt trong truyền thống ñạo ñức học phương Tây. Sự vắng mặt ấy<br /> cũng phần nào chứng minh một sự thật là các lý thuyết ñạo ñức của nam giới ñã thống<br /> trị trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của nền văn minh phương Tây, cả về mặt<br /> phương pháp lẫn khái niệm. Sự thống trị ấy ñã gây nên những bất cập trong việc giải<br /> quyết các vấn ñề ñạo ñức. ðể giải quyết bất cập này, vào thập niên 60 thế kỷ XX, ở<br /> phương Tây ñã xuất hiện một cách tiếp cận mới trong nghiên cứu các vấn ñề của ñạo<br /> ñức học - cách tiếp cận nữ quyền (feminist approach). Ngay từ khi ra ñời, cách tiếp cận<br /> này ñã giới thiệu một lý thuyết ñạo ñức về sự quan tâm (ethics of care) với tư cách là<br /> một ñiển hình của lý thuyết ñạo ñức mới ñối chọn với lý thuyết ñạo ñức về công lý mà<br /> nam giới ñã xây dựng nên.<br /> 2. Nội dung<br /> Lý thuyết ñạo ñức về sự quan tâm ngay từ khi mới ra ñời ñã gây ra một tiếng<br /> vang trong giới học thuật lúc bấy giờ. Người ñầu tiên ñề xướng lý thuyết ñạo ñức về sự<br /> quan tâm là nhà tâm lý học, nhà triết học ñạo ñức Mỹ Carol Gilligan với tác phẩm nổi<br /> tiếng Từ một tiếng nói khác (In a different voice). Sau ñó, lý thuyết ñạo ñức về sự quan<br /> tâm ñã ñược các nhà triết học nữ quyền bàn luận, phát triển và ứng dụng rộng rãi trong<br /> nhiều lĩnh vực của ñời sống xã hội như bảo vệ sức khỏe cộng ñồng, giáo dục, chính trị,<br /> 75<br /> <br /> pháp luật và quan hệ quốc tế... Sự phát triển về mặt triết học của lý thuyết ñạo ñức về sự<br /> quan tâm tập trung làm rõ khả năng ñem lại một loại ñạo ñức ñối chọn với các lý thuyết<br /> ñạo ñức về công lý (ethics of justice) ñang chi phối nền ñạo ñức học phương Tây, tiêu<br /> biểu nhất là ñạo ñức học của Kant và lý thuyết ñạo ñức của chủ nghĩa công lợi<br /> (utilitarianism).<br /> Khi ñề xuất khái niệm "sự quan tâm" trong ngữ cảnh ñạo ñức học, các nhà tư<br /> tưởng nữ quyền lưu ý rằng, sự quan tâm ở ñây không ñơn thuần là vấn ñề thuộc về tình<br /> cảm, mà còn bao hàm phương diện nhận thức. Trong cách hiểu này, lý thuyết ñạo ñức<br /> về sự quan tâm có thể cho phép cảm xúc và sự ñồng cảm thực hiện vai trò quan trọng<br /> ñối với việc thiết lập một quyết ñịnh ñạo ñức. ðây là vấn ñề ñã bị loại bỏ trong truyền<br /> thống triết học ñạo ñức về công lý.<br /> Trong cách nhìn của các nhà tư tưởng nữ quyền, bản thân khái niệm "sự quan<br /> tâm" là một khái niệm "mở" ñối với những kiến giải và phân tích. Nel Noddings cho<br /> rằng, sự quan tâm là ngôn ngữ tự nhiên của nữ giới. Bà hiểu thuật ngữ "quan tâm"<br /> không phải trong ngữ cảnh các cá thể riêng biệt mà trong ngữ cảnh "cặp ñôi" (pair),<br /> trong ñó bao gồm người quan tâm (one-caring) và người ñược quan tâm (one-cared).<br /> Một số nhà tư tưởng nữ quyền khác thì lại "mở" sự quan tâm ñến một khái niệm rộng<br /> hơn là "sự quan tâm ñến những người khác" ("caring for others"). Ở ñây, người khác<br /> không có sự phân biệt về mặt giới tính, chủng tộc, dân tộc, ñịa vị xã hội.<br /> Các công trình nghiên cứu về ñạo ñức từ góc nhìn nữ quyền chỉ ra rằng, trong<br /> lĩnh vực triết học ñạo ñức, nam giới có khuynh hướng dựa vào những nguyên lý trừu<br /> tượng và truy tìm những mục ñích phổ quát. Ngược lại, nữ giới thường chú ý hơn ñến<br /> những vấn ñề ñạo ñức mang tính riêng tư và cụ thể như sự quan tâm (care), các mối<br /> quan hệ cá nhân và vấn ñề không làm tổn thương người khác, sự cảm thông giữa các<br /> nhân vị và những vấn ñề ñạo ñức thường nhật khác như phân biệt ñối xử ñối với nữ giới,<br /> vai trò của giới tính, bạo lực gia ñình, cưỡng bức tình dục, hôn nhân bất bình ñẳng.<br /> Cách tiếp cận mới này chỉ ra rằng, nữ giới có những ñặc tính riêng, và chúng<br /> không hề thấp kém hơn so với các ñặc tính của nam giới, thậm chí nhiều khi còn có giá<br /> trị ưu trội hơn. Tuy nhiên, vấn ñề ở ñây không phải ở chỗ nữ giới chối bỏ cơ hội ñạt ñến<br /> những kinh nghiệm và ñặc trưng tính cách của nam giới mà là ở chỗ xã hội ñã thất bại<br /> trong việc tiếp nhận những giá trị chỉ có trong những ñặc trưng tính cách của nữ giới.<br /> Theo lối tư duy như thế, nam giới thực sự trở thành "thước ño của vạn vật" như cách nói<br /> của nhà triết học Protagoras, còn nữ giới thì ngược lại chỉ là "chiếc thước lệch" so với<br /> "chiếc thước chuẩn" nam giới. ðể giải quyết vấn ñề này, từ nỗ lực tìm kiếm những cơ<br /> hội ñể nữ giới cạnh tranh với quan ñiểm truyền thống của nam giới, các nhà tư tưởng nữ<br /> quyền muốn kêu gọi sự bình ñẳng trong các vấn ñề ñạo ñức và sự tôn trọng ñối với<br /> những mối bận tâm ñặc trưng của nữ giới. Cách tiếp cận nữ quyền trong ñạo ñức ñã<br /> mang lại một nội dung rất phong phú và ñặc sắc, trong ñó ñiển hình là lý thuyết ñạo ñức<br /> về sự quan tâm. Lý thuyết này bao hàm những nội dung cụ thể sau:<br /> 76<br /> <br /> Thứ nhất, lý thuyết ñạo ñức về sự quan tâm ñặc biệt chú ý ñến ý nghĩa quan<br /> trọng về mặt ñạo ñức của việc ñáp ứng nhu cầu của những người có quan hệ thân<br /> thuộc mà chúng ta phải có trách nhiệm quan tâm như con cái, cha mẹ, anh chị em<br /> trong gia ñình… Lý thuyết ñạo ñức về sự quan tâm thừa nhận, con người luôn gắn liền<br /> vào cuộc sống của mình và những tuyên bố ñạo ñức về ñiều ñó cũng tuỳ thuộc vào<br /> việc chúng ta nhấn mạnh sự quan tâm, cũng như tầm quan trọng của những khía cạnh<br /> ñạo ñức trong quá trình phát triển các mối quan hệ quan tâm cho phép một con người<br /> sống tốt hơn và tiến bộ hơn bởi lẽ mọi người ñều cần ñến sự quan tâm trong quá trình<br /> tồn tại và phát triển của mình.<br /> Triển vọng của sự tiến bộ của con người và việc phát triển dựa trên cơ sở sự<br /> quan tâm là những ñiều cần phải nhận thức, và lý thuyết ñạo ñức về sự quan tâm nhấn<br /> mạnh tác dụng ñạo ñức của trách nhiệm ñể trả lời cho những nhu cầu lệ thuộc. Những<br /> người già yếu buộc phải sống phụ thuộc trong những giai ñoạn cuối ñời, hoặc như một<br /> số người ốm ñau hay mắc bệnh hiểm nghèo thì cần phải ñược quan tâm, chăm sóc<br /> trong hầu như toàn bộ phần ñời còn lại. Những quy luật ñạo ñức ñược xác lập trên cơ<br /> sở lý trí truyền thống hầu như không chú ý ñến thực tại của sự phụ thuộc của con<br /> người trong xã hội và những quy luật ñạo ñức của nó. Lý thuyết ñạo ñức về sự quan<br /> tâm hướng sự chú ý ñến những mối quan tâm căn bản của cuộc sống con người, ñồng<br /> thời chỉ ra những giá trị ñạo ñức có liên quan. Nó phản ñối việc xem xét sự quan tâm<br /> như là một lĩnh vực "bên ngoài tính ñạo ñức" (outside morality). Các nhà tư tưởng nữ<br /> quyền ñề xuất rằng, cách thức quan tâm ñến người khác nên ñược kết hợp với những<br /> tuyên bố về công lý phổ quát từ góc ñộ ñạo ñức. ðây là một vấn ñề mà theo họ, cần và<br /> hơn thế nên ñược khẳng ñịnh và nghiên cứu kỹ lưỡng.<br /> Thứ hai, trong quá trình nỗ lực nhận thức những ñiều mà tính ñạo ñức ñặt ra và<br /> những ñiều tốt ñẹp nhất về mặt ñạo ñức mà chúng ta thực hiện, thì lý thuyết ñạo ñức về<br /> sự quan tâm ñề cao giá trị của xúc cảm chứ không chối bỏ nó. Cố nhiên, không phải<br /> toàn bộ xúc cảm ñều ñược xem xét từ góc nhìn giá trị, song trái ngược với những cách<br /> tiếp cận ñạo ñức học duy lý ñang thịnh hành, thì trong lý thuyết ñạo ñức về sự quan tâm,<br /> những trạng thái xúc cảm như sự ñồng cảm, tình yêu thương... ñược nhìn nhận như là<br /> những trạng thái tình cảm ñạo ñức "cần ñược nuôi dưỡng không chỉ giúp ích trong việc<br /> bổ sung cho tiếng nói của lý tính mà còn ñể xác ñịnh một cách chính xác hơn những ñòi<br /> hỏi của tính ñạo ñức"1. Thậm chí, giận dữ với tư cách là một thành tố của sự phẫn nộ<br /> ñạo ñức (moral indignation) cũng có thể ñược thừa nhận mỗi khi con người bị ñối xử<br /> bất công và phi nhân tính, và nó cũng có thể góp phần (chứ không phải là ngăn cản) tác<br /> thành một sự kiến giải thích hợp về những khuyết ñiểm ñạo ñức. ðiều ñó không ñồng<br /> <br /> 1<br /> <br /> See: Virginia Held, The Ethics of care: Personal, Political, and Global, New York: Oxford University<br /> Press, 2006, page 10.<br /> <br /> 77<br /> <br /> nghĩa là xúc cảm sống ñộng có thể trở thành một người dẫn ñường ñến tính ñạo ñức,<br /> song những xúc cảm ấy cần ñược nhận thức và giáo dục ñể có thể phát huy ñược tầm<br /> quan trọng của nó trong ñời sống ñạo ñức của con người.<br /> Một ñiểm ñáng chú ý là trong viễn tượng của sự quan tâm, những nghiên cứu<br /> ñạo ñức hoàn toàn dựa trên cơ sở những suy luận duy lý trở nên còn không ñầy ñủ và<br /> thiếu căn cứ. Trong khi các lý thuyết ñạo ñức duy lý phủ nhận hoặc ñem những hình<br /> thái cảm xúc sống ñộng của con người ra phán xét tại tòa án của lý tính, và sau cùng là<br /> kết tội những cảm xúc vị kỷ (egoistic feelings) ấy là kẻ gây phá hoại hoặc kìm hãm ñối<br /> với những chuẩn mực ñạo ñức phổ quát, thì ngược lại, trong lý thuyết ñạo ñức về sự<br /> quan tâm, những xúc cảm và năng lực liên hệ ñược ñịnh ñúng như giá trị của chúng, qua<br /> ñó cho phép những cá nhân ñược sống một cách tự do trong ngữ cảnh liên nhân vị<br /> (interpersonal situation) và có thể hiểu ñược những gì là tốt nhất ñối với họ. Tuy nhiên,<br /> rắc rối là ở chỗ, trong thực tế những xúc cảm ñôi khi cũng có thể trở nên lầm lạc và tồi<br /> tệ. Chẳng hạn như sự quan tâm dành cho người khác một cách thái quá thì nhiều khi lại<br /> dẫn ñến phiền phức và khó chịu vì ñời sống riêng tư bị xâm phạm, hoặc dễ gây ra nơi<br /> người ñược quan tâm một cảm giác bị chi phối. ðể tránh ñiều ñó, nghiên cứu nữ quyền<br /> về ñạo ñức ñưa ra yêu cầu: "Sự quan tâm là cần thiết, nhưng ñiều chúng ta cần là một lý<br /> thuyết ñạo ñức về sự quan tâm, chứ không phải là bản thân sự quan tâm... Những khía<br /> cạnh và những kiến giải khác nhau về sự quan tâm và những mối quan hệ quan tâm cần<br /> thiết phải ñược ñặt thành vấn ñề và ñánh giá trong các khảo cứu ñạo ñức, chứ không<br /> ñơn giản chỉ là quan sát và mô tả"2. Nghĩa là, phương cách ñể quan tâm ñạt ñược hiệu<br /> quả và hữu ích thì cần phải quan tâm một cách có ñạo ñức và phải sự quan tâm ấy phải<br /> ñược ñặt trong một ngữ cảnh ñạo ñức.<br /> Thứ ba, lý thuyết ñạo ñức về sự quan tâm bác bỏ cách xem xét của những lý<br /> thuyết ñạo ñức duy lý truyền thống. Theo suy nghĩ của các nhà tư tưởng nữ quyền, trong<br /> các lý thuyết ñạo ñức duy lý, lập luận về một vấn ñề ñạo ñức thì càng trừu tượng càng<br /> tốt. Vì thế, càng tránh xa những ñịnh kiến và sự ñộc ñoán, thì càng tiến gần hơn ñến<br /> việc ñạt ñược tính vô tư. Lý thuyết ñạo ñức về sự quan tâm tự nó luôn tôn trọng những<br /> người có mối quan hệ thân thuộc trong hiện thực. Nó "ñặt vào ngoặc" những quy tắc<br /> trừu tượng và phổ quát của các lý thuyết ñạo ñức duy lý. Theo lý giải của các nhà tư<br /> tưởng nữ quyền, những lý thuyết ñạo ñức duy lý khi xem xét về những mối quan hệ<br /> thân thuộc (ví dụ như mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái) thì thường không nói bất cứ<br /> ñiều gì về những mối quan hệ sống ñộng, cụ thể và hiện thực, mà xem những mối quan<br /> hệ ấy như là ñiều ñã ñược thừa nhận ñồng thời dành cho chúng một ñịa vị ưu tiên mà<br /> một người có thể có. Họ còn có xu hướng thừa nhận một nghĩa vụ chung, phổ quát cho<br /> tất cả các bậc cha mẹ trong việc quan tâm, chăm sóc con cái. Như vậy, các nhà ñạo ñức<br /> <br /> 2<br /> <br /> See: Virginia Held, Ibid, page 11.<br /> <br /> 78<br /> <br /> học duy lý giả ñịnh không có sự liên hệ hiện thực nào giữa các cá nhân. Không ñồng ý<br /> với quan ñiểm truyền thống ñó, quan ñiểm ñạo ñức về sự quan tâm chú trọng ñến tính<br /> cụ thể của các mối quan hệ hiện thực hơn là nghe theo tiếng gọi của một lý tính trừu<br /> tượng phổ quát. So sánh hai kiểu quan ñiểm ñạo ñức này, Kittay và Mayer cho rằng,<br /> một tính ñạo ñức về các quyền và lý tính trừu tượng khởi ñầu với một thực thể ñạo ñức<br /> tách biệt với người khác và thiết lập quyết ñịnh một cách ñộc lập với những nguyên lý<br /> ñạo ñức phổ quát. Trái lại, một tính ñạo ñức về trách nhiệm và quan tâm khởi ñầu với<br /> một bản ngã nằm trong một mạng lưới các mối quan hệ với người khác, và những suy<br /> tư ñạo ñức cũng nhắm ñến khẳng ñịnh những mối quan hệ ấy. Chính những mối quan hệ<br /> này, ñến lượt mình lại quy ñịnh trách nhiệm ñạo ñức của con người trong ñời sống xã<br /> hội.<br /> Với hầu hết những người chủ trương lý thuyết ñạo ñức về sự quan tâm, sự kết<br /> hợp tuyên bố ñạo ñức về người khác có thể có giá trị ngay cả khi nó xung ñột với những<br /> phán ñoán ñạo ñức phổ quát hóa ñược xây dựng bởi các lý thuyết ñạo ñức. Vì thế, trong<br /> mối quan hệ giữa quan tâm và công lý, tình bằng hữu và tính vô tư, lòng trung thành và<br /> tính phổ quát, luôn tồn tại sự xung ñột tiềm tàng. Nhưng với một số khác, sự xung ñột<br /> ñó là không cần thiết nếu những phán ñoán phổ quát hòa hợp với những chuẩn mực của<br /> sự quan tâm vốn không ñược nhìn nhận trước ñây.<br /> Annette Baier ñã chỉ ra sự khác biệt giữa phương thức tiếp cận nữ quyền về tính<br /> ñạo ñức và phương thức tiếp cận trong ñạo ñức học của Kant, ñồng thời phê phán cái<br /> nhìn của Kant cho rằng nữ giới khiếm khuyết về năng lực ñạo ñức do sự lệ thuộc của họ<br /> vào xúc cảm hơn là lý tính. A. Baier viết: "Nơi Kant kết luận 'thật tồi tệ với nữ giới', thì<br /> chúng ta có thể kết luận khác rằng "thật tồi tệ với sự cứng nhắc của nam giới" về những<br /> kỹ xảo trong những ñiều luật ñã ñược soạn thảo, về ñầu óc quan liêu của sự tôn thờ quy<br /> tắc phổ quát, và sự cường ñiệu hóa của nam giới về tầm quan trọng của sự ñộc lập vượt<br /> qua sự phụ thuộc lẫn nhau"3.<br /> Còn Margaret Walker (1915-1998) thì ñối lập cái mà bà gọi là "sự thông hiểu<br /> ñạo ñức nữ quyền" (feminist moral understanding) với cái mà về mặt truyền thống ñược<br /> xem là "tri thức ñạo ñức" (moral knowledge). Bà cho rằng, thông hiểu ñạo ñức như là sự<br /> chú tâm và thấu hiểu mang tính ngữ cảnh, và là sự ñồng cảm trong những suy tư ñạo<br /> ñức. Nhận thức luận ñạo ñức ñối chọn này chỉ ra, sự thông hiểu ñạo ñức sẽ giảm ñi khi<br /> hình thức của nó tiếp cận tính phổ quát thông qua sự trừu tượng hóa và khái quát hóa.<br /> Lý thuyết ñạo ñức về sự quan tâm hướng ñến việc hạn chế khả năng và phạm vi<br /> ứng dụng của những quy tắc trừu tượng và phổ quát trong các lĩnh vực nhất ñịnh mà ở<br /> ñó lý thuyết ñạo ñức về sự quan tâm tỏ ra phù hợp hơn như y tế, giáo dục, sức khỏe<br /> <br /> 3<br /> <br /> See: Virginia Held, Ibid, page 11.<br /> <br /> 79<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2