
Mỹ thuật nguyên thủy Việt Nam
Mở Đầu
Dân tộc Việt Nam chúng ta có truyền thống đấu tranh dựng nước và
giữ nước suốt mấy nghìn năm lịch sử. Trong suốt chiều dài lịch sử đó,
dân tộc ta không những chiến thắng hai cuộc chiến tranh trường kỳ ác
liệt, xây dựng một nước Việt nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh, mà còn tạo nên một nền mỹ thuật phong phú,
đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc. Mặc dù mỗi lần đất nước bị xâm
lăng lại một lần nền văn hoá dân tộc bị thử thách, bị tàn phá, kẻ thù
luôn muốn đồng hoá nền văn hoá của chúng ta. Nhưng với tinh thần
đấu tranh anh dũng của dân tộc, cho nên đến nay nền văn hoá nghệ
thuật của chúng ta không những không bị đồng hoá mà bản sắc dân tộc
còn được khẳng định hơn. Chính vì thế ngày nay chúng ta giữ được
nhiều tác phẩm có giá trị kể các tác phẩm thời nguyên thuỷ.
Năm 1960, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã tìm thấy di tích núi Đo
thuộc xã Thiệu Khanh, Huyện Thiệu Hoá, Tỉnh Thanh Hoá. Hàng ngàn
khảo cổ được phát hiện. Mặc dù đó là Mảnh rước, Hạch Đá, các công
cụ chặt, nạo, rìu.... Được chế tác rất thô sơ và nghèo nàn về loại hình,
song nó đã chứng tỏ rõ sự có mặt làm ăn sinh sống của những người
nguyên thuỷ trải dài trên đất nước Việt Nam của chúng ta.Di chỉ núi Đo
được xếp tương đuơng với giai đoạn Sen và đầu Asơn thuộc do thời kỳ
đồ đá cũ, cách ngày nay khoảng 30 vạn năm. Mặc dù vậy phải trải qua
một thời gian dài chúng ta mới tìm được một số hình khắc những dấu

hiệu đầu tiên của mỹ thuật Việt Nam thời Nguyên Thuỷ. Trên cơ sở đó
đến cuối thời kỳ đồ đá mới, mỹ thuật đã phát triển hơn một bước nửa so
với thời kỳ trước, tuy vậy phải đến thời kỳ đồ đồng, chúng ta mới tìm
được nhiều tác phẩm mỹ thuật thuộc nhiều loại nghệ thuật tạo hình.
Những tác phẩm quý báu là nguồn tư liệu cho các thế hệ con cháu ngày
nay tìm hiểu và học tập vốn tinh hoa của nghệ thuật truyền thống ông
cha ta ngày xưa.
Quay về với thời kỳ xa xưa nhất của lịch sử mỹ thuật dân tộc, chúng ta
thử đi tìm hiểu về sử hình thành và phát triển của mỹ thuật Việt Nam,
những loại hình nghệ thuật tạo hình nào xuất hiện sớm nhất? Mỹ thuật
nguyên thuỷ Việt Nam có phong phú, đa dạng như nghệ thuật nguyên
thuỷ thế giới hay không? Trong xã hội thời nguyên thuỷ, trình độ mỹ
thuật phát triển ở mức độ nào? Mỹ thuật thời nguyên thuỷ có những
đặc điểm đặc trưng cơ bản nào?
Kỳ Đồ Đá Cũ
Di tích núi Đo – Thanh Hoá được xếp vào thời kỳ đồ đá cũ. Đây là nơi
cư trú của người việt cổ, đồng thời cũng là nơi chế tạo ra các công cụ
bằng đá thô sơ, đó là những mảnh tước, công cụ chặt, rìu tay, nạo ...
Thời kỳ này cách chúng ta mấy vạn năm và là thời kỳ tổ chức xã hội
đang hình thành. Trải qua quá trình phát triển, con người dần dần bước
vào chế độ thị tộc nguyên thuỷ. Để có thể tồn tại trong điều kiện khắc
nghiệt của thiên nhiên, con người phải tụ họp lại với nhau sống thành
những bầy người trong các hang động tự nhiên với công cụ thô sơ, họ
sống chủ yếu bằng săn bắn, hái lượm.

Đến thời kỳ đồ đá cũ, người Việt cổ đã cư trú trên một địa bàn khá
rộng. Các di tích khảo cổ học đã cho chúng ta thấy di tích của thời kỳ
này có ở nhiều nơi : Miền Bắc từ Phú Thọ, Sơn La, Lai Châu đến Bắc
Ninh, Bắc Giang. Miền Trung từ Thanh Hoá, Nghệ An đến Quảng Trị.
Thời kỳ này các bầy người Nguyên Thuỷ đã tập hợp lại với nhau, thành
các thị tộc, bộ lạc, mỗi thị tộc gồm vài ba thế hệ cùng huyết thống.
Nhiều thị tộc đã hợp lại thành một bộ tộc. Đến thời kỳ này kỹ thuật chế
tác đồ đá đã tiến thêm một bước. Nếu thời kỳ núi Đo người nguyên
thuỷ dùng đá ba gian để chế tạo công cụ, thì thời kỳ này con người lại
dùng các đá cuội tìm được ở các bãi sông. Những viên đá cuội được
ghẽ đẹo cẩn thận trở thành các công cụ lao động hiệu quả hơn so với
thời kỳ trước. Các di tích của các bộ lạc thời kỳ này được gọi là văn
hoá SơnVi. Văn hoá Sơn Vi thuộc xã Sơn Vi, Huyện Sông Thao, Tỉnh
Phú Thọ. Đây cũng là nơi đầu tiên phát triển ra những hiện vật của văn
hoá cuối thời kỳ đồ đá cũ. Văn hoá Sơn Vi cách ngày nay chừng một
vạn năm đến 18000 năm.
Ngày nay, nhờ sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật, với nhiều phương tiện,
thiết bị và điều kiện làm việc các nhà khảo cổ học đã phát hiện thêm
nhiều di tích văn hoá Sơn Vi: Năm 1993 tìm được di tích văn hoá ở
huyện Do Linh (Quảng Trị), năm 1994 phát hiện thêm di tích văn hoá
Sơn Vi ở đảo Cồn Cỏ. Những phát hiện mới này cho thấy rõ hơn về
lịch sử thời kỳ đầu tiên của dân tộc chúng ta.
Thời kỳ đồ đá giữa
Sau văn hoá Vi Sơn, Người Việt cổ bước vào thời kỳ đồ đá giữa, tương

đương với nền văn hoá Hoà Bình. Xã hội Nguyên Thuỷ chuyển sang
thời kỳ Hoà Bình đã tiến thêm một bước cao hơn. Ngoài cuộc sống săn
bắn, hái lượm, các cư dân văn hoá Hoà Bình đã bắt đầu làm nông
nghiệp. Những dấu vết về một nền nông nghiệp sơ khai được tìm thấy
ở nhiều nơi như: Hang Sủng Sàm – Hoà Bình (11.365 ± 80 năm cách
ngày nay, Hang Thẩm Khương – Lai Châu, hoặc hang Xóm Trại – Hoà
Bình ..
Đến thời kỳ văn hoá Hoà Bình , con người đẫ định cư lâu dài hơn so
với thời kỳ đồ đá cũ. Nếu ở núi Đo – Thanh Hoá không có kết cấu tầng
văn hoá, thì đến văn hoá Hoà Bình có tầng văn hoá dày tới 3,7 m. Năm
1930, Cô-La-Ni khai quật ở Quảng Bình, Ninh Bình cũng gặp di chỉ
văn hoá tương tự như ở Hoà Bình. Ngoài dấu vết của văn hoá Hoà
Bình, còn tìm thấy ở Hạ Long, Nghệ An. Con người thời kỳ này thường
làm lều, nhà cửa ở Hang gần sông suối. Bên cạnh các công cụ Lao
động bằng đá còn tìm được các công cụ, vũ khí bằng tre, nứa, xương,
sừng rất phong phú. Đồ trang sức bằng vỏ sò, ốc, xương thú. Điều này
cho thấy cuộc sống của các bộ lạc người Việt Cổ đã phát triển thêm
một bước. Cùng với săn bắn, hái lượm, con người đã biết trồng trọt.
Nền văn minh nông nghiệp bắt đầu được hình thành. Tín ngưỡng tôn
giáo bắt đầu xuất hiện với hình thức sơ khai nhất : tô tem giáo (thờ vật
cổ).
Thời kỳ đồ đá mới
Thời kỳ đố đá mới bắt đầu vào khoảng thiên niên kỷ VI trước công
nguyên. Địa bàn cư trú của người Việt cổ lan rộng trong cả nước, từ

miền núi tới miền biển và miền trung du, dân số ngày càng tăng. Sách
Lịch Sử – Nhà Xuất Bản Giáo Dục, xuất bản năm 1988 viết các bộ lạc
chủ nhân văn hoá Hoà Bình đã tạo nên văn hoá Bắc Sơn từ trong quá
trình tiến hoá của họ. Công cụ sản xuất thời kỳ văn hoá Bắc Sơn đã tiến
bộ hơn trước rất nhiều. Vẫn là
Những công cụ bằng đá cuội, song kỹ thuật chế tác không dừng lại ở
ghè, dẻo. Các cư dân thời kỳ này đã biết sử dụng kỹ thuật mài đá tạo ra
các lưỡi rìu, mài có tra cán. Với công cụ lao động mới, năng suất lao
động đã tăng lên rất nhiều. Chăn nuôi, trồng trọt phát triển mạnh. Thời
kỳ này được gọi là thời kỳ cách mạng đồ đá . Ngoài công cụ và đồ
dùng bằng đá, dân cư thời này đã biết chế tạo ra đồ gốm. Như vậy, có
thể nói cuộc sống sinh hoạt, làm ăn của cư dân thời kỳ đồ đá mới tiến
bộ hơn rất nhiều so với thời kỳ trước. Bên cạnh việc săn bán , hái lượm,
nhiều nghề mới xuất hiện như trồng trọt, chăn nuôi, đánh cá. Nghề
nông bắt đầu hình thành trong thời kỳ đồ đá giữa đến nay tiếp tục phát
triển và trở thành một trong những ngành chính. Cây trồng quan trọng
và chủ yếu chính là cây lúa. Đời sống vạt chất phát triển, kéo theo sự
phát triển cảu đời sống tinh thần. Đồ trang sức được chế táởctên nhiều
chất liệu phong phú như Đá, đất nung, vỏ trai,..và nhiều thể loại khác
nhau như : vòng tay, vòng cổ, khuyên tai,.. Điều này chúng tor nghề thủ
công đã rất phát triển. Ngoài việc chế tạo công cụ lao động, công cụ gia
đình, đồ trang sức, đồ gốm, con người kỳ này còn biết dệt vải.
Trong các mộ cổ được khai quật và qua cách chôn người chết, chúng ta
có thể hiểu thêm nhữn quan niệm người việt cổ về cuộc sống sau khi
chết của con người. Trong ngôi mộ chúng ta đã tìm được nhiều xương

