
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Phạm Thế Cƣờng
NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ ĐA DẠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM
PHÂN BỐ CỦA CÁC LOÀI ẾCH NHÁI (AMPHIBIA)
Ở MỘT SỐ KHU VỰC NÚI ĐÁ VÔI THUỘC MIỀN BẮC
VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN
Chuyên ngành: ĐỘNG VẬT HỌC
Mã số: 62.42.01.03
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI–2018

Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học và Công nghệ
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. Nguyễn Quảng Trường
2. TS. Lê Đức Minh
Phản biện 1: PGS. TS. Lê Nguyên Ngật
Phản biện 2: PGS. TS. Hoàng Ngọc Thảo
Phản biện 3: TS. Hoàng Văn Ngọc
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Học viện họp tại Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn
lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
vào hồi …..giờ … ngày … tháng… năm 2018
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc Gia, Hà Nội
- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những nước có tiềm năng đa dạng sinh
học cao trên thế giới (Conservation International 2016). Riêng về
lớp Ếch nhái (Amphibia), số lượng loài ghi nhận ở Việt Nam tăng
lên nhanh chóng trong các thập kỷ gần đây: từ 82 loài vào năm
1996 lên 176 loài vào năm 2009 (Nguyen et al. 2009) và hiện nay
ghi nhận khoảng 230 loài (Frost 2017).
Các khu rừng trên núi đá vôi chứa đựng nhiều dạng tiểu sinh
cảnh khác nhau và được xem là các “đảo biệt lập trên cạn”. Do
vậy khu hệ động vật thường mang tính đặc hữu cao (Clements et
al. 2006). Ở Việt Nam, phần lớn diện tích núi đá vôi phân bố ở
vùng Đông Bắc, vùng Tây Bắc và vùng Bắc Trường Sơn (Sterling
et al. 2006).
Việc khai thác và sử dụng thiếu bền vững tài nguyên thiên
nhiên ở các hệ sinh thái núi đá vôi ở miền Bắc Việt Nam (khai
thác đá làm vật liệu xây dựng, xâm lấn đất rừng làm đất canh tác
nông nghiệp, săn bắt và buôn bán động vật hoang dã) đã ảnh
hưởng lớn các loài động vật, đặc biệt là các loài động vật có thân
nhiệt phụ thuộc vào môi trường sống như các loài ếch nhái.
Do vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu mức độ
đa dạng và đặc điểm phân bố của các loài ếch nhái (Amphibia) ở
một số khu vực núi đá vôi thuộc miền Bắc Việt Nam và đề xuất
các giải pháp bảo tồn” nhằm đánh giá giá trị đa dạng sinh học về
các loài ếch nhái, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho công tác
quy hoạch bảo tồn ở miền Bắc Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được mức độ đa dạng và đặc điểm phân bố của các
loài ếch nhái (EN) ở một số khu vực núi đá vôi thuộc miền Bắc
Việt Nam;
- Xác định được thành phần loài và quan hệ di truyền của hai
giống ếch nhái Limnonectes và Odorrana ở Việt Nam;

2
- Đánh giá được giá trị bảo tồn và các nhân tố đe dọa đến các
loài ếch nhái ở khu vực nghiên cứu và đề xuất các kiến nghị đối
với công tác bảo tồn.
3. Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Đánh giá đa dạng loài
- Điều tra về sự đa dạng loài ếch nhái ở các địa điểm đại diện
cho sinh cảnh rừng trên núi đá vôi ở miền Bắc Việt Nam: Tây
Bắc, Đông Bắc và đảo thuộc Vịnh Bắc Bộ. Đặc biệt chú ý khám
phá các loài mới cho khoa học và ghi nhận vùng phân bố mới.
Nội dung 2: So sánh mức độ tương đồng thành phần loài ếch
nhái giữa các địa điểm nghiên cứu trên đất liền và đảo; giữa vùng
Đông Bắc và Tây Bắc để kiểm chứng giả thuyết sông Hồng là
ranh giới cách ly trong quá trình tiến hóa của các loài động vật
trong đó có các loài ếch nhái.
Nội dung 3: Đánh giá đặc điểm phân bố của các loài theo đai
độ cao, theo dạng sinh cảnh, theo nơi ở (vị trí ghi nhận: trên cây,
trên mặt đất và gắn liền với môi trường nước).
Nội dung 4: Thành phần loài và đánh giá mối quan hệ di truyền
giữa các loài và các quần thể của hai giống ếch nhái Limnonectes
và Odorrana ở Việt Nam.
Nội dung 5: Xác định giá trị bảo tồn của các loài ếch nhái dựa
trên tiêu chí đa dạng loài, số lượng các loài đặc hữu và các mối đe
dọa, khả năng tồn tại của các quần thể. Đồng thời, đánh giá các
nhân tố đe dọa đến quần thể của các loài ếch nhái và đề xuất các
kiến nghị đối với công tác bảo tồn.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Kết quả đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa
học cập nhật về hiện trạng khu hệ EN ở 5 khu vực rừng trên núi đá
vôi thuộc miền Bắc Việt Nam (VQG Cát Bà, KBT Bắc Mê, Huyện
Hạ Lang, KBT Ngọc Sơn-Ngổ Luông và Hang Kia-Pà Cò). Cung
cấp thông tin về đặc điểm hình thái và đánh giá quan hệ di truyền
của các loài thuộc 2 giống ếch nhái Limnonectes và Odorrana ở
Việt Nam.

3
Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài cung cấp các thông tin cập nhật về
hiện trạng thành phần loài và các nhân tố đe dọa đến các loài ếch
nhái ở 5 khu vực núi đá vôi làm cơ sở khoa học cho việc quy
hoạch và quản lý bảo tồn đa dạng sinh học ở miền Bắc Việt Nam.
5. Những đóng góp mới của đề tài
Ghi nhận 65 loài EN ở 5 khu vực núi đá vôi thuộc miền Bắc
Việt Nam. Mô tả 3 loài mới cho khoa học (Odorrana
mutschmanni, Rhacophorus hoabinhensis, Theloderma annae),
ghi nhận bổ sung 3 loài cho khu hệ EN Việt Nam (Leptolalax
minimus, Odorrna hainanenssis, O. lipuensis), ghi nhận bổ sung 1
loài ở tỉnh Cao Bằng, 2 loài ở tỉnh Hà Giang, 3 loài ở thành phố
Hải Phòng và 5 loài ở tỉnh Hòa Bình.
Đánh giá được mức độ tương đồng về thành phần loài EN
giữa các KBT ở KVNC, giữa địa điểm nghiên cứu với các KBT
lân cận, giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc, giữa đất liền và đảo.
Đánh giá được đặc điểm phân bố của các loài EN ở KVNC
theo đai độ cao, theo sinh cảnh và theo vị trí ghi nhận.
Đã xác định thành phần loài của giống Ếch nhẽo Limnonectes
(8 loài) và giống Ếch suối Odorrana (25 loài) phân bố ở Việt
Nam. Mô tả 2 loài mới cho khoa học, ghi nhận bổ sung 3 loài cho
khu hệ EN của Việt Nam. Phân tích mối quan hệ di truyền các loài
thuộc 2 giống Ếch nhẽo và Ếch suối phân bố ở Việt Nam
Đánh giá được hiện trạng, mối đe dọa và đề xuất giải pháp
bảo tồn EN ở KVNC.
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lƣợc sử nghiên cứu về EN ở các nƣớc trong khu vực
Tổng số loài EN trên thế giới ghi nhận đến thời điểm hiện nay
là 7.697 loài (Frost 2017). Ở Trung Quốc ghi nhận 432 loài; Lào
có khoảng 153 loài (Forst 2017); Cam-pu-chia có khoảng 79 loài
và Thái Lan là 182 loài (Frost 2017).
Theo Stuart et al. (2004) có tới gần 168 loài được cho là đã
tuyệt chủng và ít nhất khoảng 2.500 loài có quần thể bị đe dọa suy
giảm trong 20 năm qua (1984-2004).

