intTypePromotion=1

Nghiên cứu tạo giống ngô biến đổi gen kháng sâu

Chia sẻ: Nguyễn Văn H | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
18
lượt xem
1
download

Nghiên cứu tạo giống ngô biến đổi gen kháng sâu

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu được tiến hành để đánh giá tính ổn định của gen chuyển gen 1A (c) trong các dòng ngô chuyển gen nhằm mục đích phát triển các giống ngô chuyển gen cho tính kháng côn trùng ở Việt Nam. Kết quả đã tiết lộ chuyển gen 1A (c) không được tích hợp ổn định vào bộ gen của các dòng ngô biến đổi có nguồn gốc T0-T3 từ VH1, VN106, HR9 và CH9. Trong số các dòng biến đổi gen được phân tích, dòng VH1 có hai mang 2-3 bản sao của gen chuyển gen1A (c). Sự hiện diện của protein cry1A (c) trong các dòng biến đổi gen từ thế hệ T0 đến T3 đã được xác định trong các dòng HR9.20 và CH9.13...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu tạo giống ngô biến đổi gen kháng sâu

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM<br /> <br /> NGHIÊN CỨU TẠO GIỐNG NGÔ BIẾN ĐỔI GEN KHÁNG SÂU<br /> Phạm Thị Lý Thu, Nguyễn Văn Đồng,<br /> Phạm Thị Hương, Lê Thị Lan,<br /> Nguyễn Thị Hòa, Nguyễn Anh Vũ,<br /> Phùng Thị Thu Hà, Lê Huy Hàm<br /> Viện Di truyền Nông nghiệp<br /> SUMMARY<br /> Studies on development of genetically modified maize for insect resistance<br /> Insects are major factor to reduce yields of maize. Plant breeding in general and insect resistant<br /> maize in particular are important areas where the breeder has been focusing. Nowadays, the genetically<br /> modified crops are developed by applying the modern biotechnology methods. Insect resistance is one of<br /> the most important traits of the genetically modified crops that have been commercialized. The research<br /> is conducted to evaluate the stability of transgene cry1A(c) in the transgenic maize lines for the purposes<br /> for development of the transgenic maize varieties for insect resistance in Vietnam. The results revealed<br /> that transgene cry1A(c) was not integrated stably into genomic of transformed maize lines of generation<br /> T0-T3 origin from VH1, VN106, HR9 and CH9. Among the transgenic lines analyzed, VH1 line has two<br /> events carrying 2-3 copies of the transgene cry1A(c). The presence of protein cry1A(c) in the transgenic<br /> maize lines from T0 to T3 generation was identified in HR9.20 and CH9.13 lines. The level of toxicity of<br /> the protein cry1A(c) in the transgenic lines against Asian stem borer 3 days old is tested under in vitro<br /> condition. After 5 days of release insects into the leaves of transgenic maize lines most of the insects<br /> were dead. This evidence is expressed remarkable in nine individuals of line CH9.13. These lines show<br /> the stability and expression of transgene. This is potential materials in order to produce the transgenic<br /> maize lines for insect resistance which could be applied in Vietnam.<br /> Keywords: Maize, Zea mays L., genetically modified crops, cry1A(c), insect resistance.<br /> <br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ *<br /> Ngô (Zea mays L.) là cây ngũ cốc quan trọng.<br /> Sâu hại là yếu tố hàng đầu làm giảm năng suất của<br /> cây ngô (Ali và cs., 2010). Chọn tạo giống cây<br /> trồng nói chung và giống ngô kháng sâu nói riêng<br /> là lĩnh vực quan trọng mà các nhà tạo giống đã và<br /> đang tập trung giải quyết. Ngày nay, bằng việc áp<br /> dụng các phương pháp công nghệ sinh học hiện<br /> đại các nhà khoa học đã tạo ra các giống cây trồng<br /> biến đổi gen mang đặc tính mong muốn. Kháng<br /> sâu là một trong những đặc tính quan trọng nhất<br /> của các giống cây trồng biến đổi gen đã được<br /> thương mại hóa. Trong tổng số 170,3 triệu ha cây<br /> trồng biến đổi gen trên thế giới thì ngô chuyển gen<br /> kháng sâu chiếm khoảng 7,5 triệu ha (4%) (James,<br /> 2012). Trong khuôn khổ chương trình Công nghệ<br /> sinh học nông nghiệp, Viện Di truyền Nông<br /> nghiệp đang thực hiện đề tài nghiên cứu tạo giống<br /> ngô chuyển gen kháng sâu và kháng thuốc trừ cỏ.<br /> Giai đoạn 2006-2010 nghiên cứu của đề tài đã thu<br /> nhận được các dòng ngô mô hình, dòng ngô chọn<br /> Người phản biện: GS. TSKH. Trần Duy Quý<br /> <br /> 412<br /> <br /> lọc thế hệ T1 mang gen kháng sâu cry1A(c). Nhằm<br /> mục đích chọn tạo được các giống ngô biến đổi<br /> gen kháng sâu tại Việt Nam, trong giai đoạn 20112014 đề tài triển khai các nghiên cứu đánh giá sự<br /> ổn định của gen chuyển cry1A(c) ở các dòng ngô<br /> chuyển gen đã tạo ra. Kết quả nghiên cứu cho thấy<br /> gen chuyển nạp cry1A(c) kết hợp chưa ổn định<br /> trong hệ gen của các dòng ngô chuyển gen kháng<br /> sâu từ thế hệ T0-T3 thuộc 4 nguồn VH1, VN106,<br /> HR9 và CH9. Trong số các dòng chuyển gen phân<br /> tích, nguồn VH1 có số cá thể và số dòng chuyển<br /> gen thế hệ T3 nhiều hơn, các dòng chuyển gen<br /> mang 2-3 bản copy của gen chuyển cry1A(c). Đã<br /> xác định được sự hiện diện của protein cry1A(c)<br /> trong các dòng ngô chuyển gen từ T0-T3. Đối với<br /> dòng HR9.20 và CH9.13 các cây từ T0-T3 đều<br /> mang protein cry1A(c). Nguồn VN106 đến thế hệ<br /> T3 không thu nhận được cây nào có sự hiện diện<br /> của protein cry1A(c). Trong điều kiện invitro,<br /> chúng tôi đã đánh giá mức độ gây độc của protein<br /> cry1A(c) trong các dòng ngô chuyển gen đối với<br /> sâu đục thân châu Á 3 ngày tuổi. Sau 5 ngày thả<br /> sâu vào các dòng ngô chuyển gen hầu hết số sâu<br /> ăn lá đều bị chết, số còn sống rất ít và khác nhau<br /> <br /> Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng lần thứ nhất<br /> <br /> giữa các dòng chuyển gen. Có 09 cây dòng<br /> CH9.13 có tất cả số sâu thả đều bị chết do độc tố<br /> của protein cry1A(c). Các dòng chuyển gen này<br /> bước đầu thể hiện tính ổn định và biểu hiện của<br /> gen chuyển nạp, cần được tiếp tục đánh giá tính<br /> kháng sâu bền vững trong các thế hệ để tạo ra<br /> nguồn vật liệu các dòng ngô chuyển gen kháng<br /> sâu có thể áp dụng trong điều kiện Việt Nam.<br /> II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> 2.1. Vật liệu<br /> Chúng tôi sử dụng nguồn vật liệu là dòng<br /> ngô nhập nội HR9, các dòng ngô chọn lọc<br /> VN106, VH1 và CH9 thuộc tập đoàn các giống<br /> ngô của Viện Di truyền Nông nghiệp.<br /> Các dòng ngô mang gen kháng sâu cry1A(c)<br /> thế hệ T0 có nguồn gốc từ các dòng HR9,<br /> VN106, VH1 và CH9 do nhóm tác giả (Viện Di<br /> truyền nông nghiệp) tạo ra bằng kỹ thuật biến<br /> nạp gen.<br /> Sâu đục thân ngô châu Á (Ostrinia<br /> furnacalis Guenée) tuổi 3 do Viện Bảo vệ thực<br /> vật cung cấp.<br /> 2.2. Phương pháp nghiên cứu<br /> 2.2.1. Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng<br /> Đối với mỗi dòng ngô chuyển gen của mỗi<br /> thế hệ từ T2 chúng tôi gieo ngẫu nhiên 30 hạt,<br /> sau đó tiến hành phân tích các cá thể để đánh giá<br /> tính ổn định của gen chuyển. Các dòng ngô<br /> chuyển gen này được trồng trong nhà lưới cách ly<br /> côn trùng, loại trừ các yếu tố thiên địch. Chế độ<br /> chăm sóc cây ngô được tiến hành theo quy trình<br /> canh tác chuẩn của ngành 10TCN 341<br /> (http://www.cuctrongtrot.gov.vn/ctt/vanban/2007<br /> 819499.doc), khi cây ra hoa tiến hành bao cách<br /> ly, tự thụ phấn bằng tay.<br /> 2.2.2. Các phương pháp phân tích sinh học<br /> phân tử<br /> Tiến hành thu mẫu khi cây ngô được 4 lá,<br /> tách chiết DNA tổng số theo phương pháp CTAB<br /> (Saghai-Maroof và cs., 1984).<br /> Phân tích PCR tiến hành với cặp mồi SCry1A(c) đặc hiệu cho gen cry1A(c) (bảng 1).<br /> Chu kỳ nhiệt của phản ứng PCR: 1 chu kỳ:<br /> 95°C - 3 phút; 30 chu kỳ: 95°C - 1 phút,<br /> 58,5°C - 30s, 72°C - 90s; và 1 chu kỳ kết thúc<br /> ở 72°C - 10 phút.<br /> <br /> Bảng 1. Trình tự đoạn mồi sử dụng<br /> trong nghiên cứu<br /> Đoạn mồi<br /> <br /> Trình tự<br /> <br /> S-Cry1A(c)-F<br /> <br /> 5’-ACAGAAGACCCTTCAATATC-3’<br /> <br /> S-Cry1A(c)-R<br /> <br /> 5’-GTTACCGAGTGAAGATGTAA-3’<br /> <br /> Phân tích Southern blot được tiến hành theo<br /> phương pháp lai không đồng vị phóng xạ, xác<br /> định số bản copy của gen chuyển sử dụng DIG<br /> High Prime DNA Labeling and Detection Starter<br /> Kit I (Roche).<br /> Xác định sự có mặt của protein cry1A(c)<br /> trong các dòng ngô chuyển gen bằng phương<br /> pháp que thử sử dụng Kit EnviroLogix<br /> QuickStixTM (Agdia, USA).<br /> 2.2.3. Đánh giá khả năng kháng sâu bằng<br /> phương pháp thử sâu invitro<br /> Các cây ngô chuyển gen kháng sâu cry1A(c)<br /> được trồng trong điều kiện nhà lưới chống côn<br /> trùng, loại trừ các yếu tố thiên địch. Đánh giá khả<br /> năng kháng sâu đục thân của dòng ngô chuyển<br /> gen so với đối chứng trong điều kiện invitro.<br /> Tiến hành thu lá khi cây đạt 5-6 lá. Lá của<br /> cây ngô chuyển gen kháng sâu và cây đối chứng<br /> được cắt thành các đoạn kích thước 4cm  5cm,<br /> mỗi dòng chọn ngẫu nhiên 5 cây. Mỗi đĩa petri<br /> đặt 3 mẫu lá, thả 5 con sâu non, sau đó giữ đĩa ở<br /> nhiệt độ 25±20C, độ ẩm 70%. Thí nghiệm được<br /> lặp lại 3 lần với mỗi cây của mỗi dòng.<br /> Tỷ lệ sâu non chết trong từng đĩa sẽ được<br /> quan sát và ghi lại hàng ngày, thay lá khi lá bị<br /> héo vàng.<br /> III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN<br /> 3.1. Phân tích PCR sự có mặt của gen cry1A(c)<br /> trong các dòng ngô chuyển gen kháng sâu<br /> Mẫu DNA tổng số của các dòng chuyển gen<br /> (tất cả số cây dòng T0 và T1; 30 cây/dòng<br /> T2-T3) được chúng tôi tiến hành phân tích PCR<br /> sử dụng cặp mồi S-cry1A(c) đặc hiệu cho gen<br /> cry1A(c). Chất lượng DNA tổng số tách chiết<br /> theo phương pháp CTAB (Saghai -Maroof et al.,<br /> 1984) có cải tiến đạt độ tinh sạch cao, hàm lượng<br /> DNA thu được lớn (dựa trên giá trị OD) đáp ứng<br /> yêu cầu cho phân tích PCR và Southern.<br /> Kết quả phân tích PCR cho thấy sự có mặt<br /> của gen chuyển cry1A(c) đã biến động từ thế hệ<br /> T0 đến T3 ở tất cả các dòng chuyển gen nghiên<br /> cứu (bảng 2).<br /> 413<br /> <br /> VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM<br /> <br /> Bảng 2. Kết quả phân tích PCR các dòng ngô chuyển gen cry1A(c)<br /> TT<br /> <br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> 6<br /> 1<br /> 2<br /> <br /> Tên dòng T0<br /> Nguồn HR9<br /> HR9.14<br /> HR9.20<br /> HR9.34<br /> HR9.32<br /> HR9.42<br /> Nguồn VH1<br /> VH1.40<br /> VH1.37<br /> VH1.36<br /> VH1.48<br /> Nguồn VN106<br /> VN106.21<br /> VN106.30<br /> VN106.7<br /> VN106.19<br /> VN106.27<br /> VN106.20<br /> Nguồn CH9<br /> CH9.12<br /> CH9.13<br /> <br /> Thế hệ T0<br /> 5 (5)<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 4 (4)<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 6 (6)<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 2 (2)<br /> 1<br /> 1<br /> <br /> Số dòng (số cây) có kết quả PCR dương tính<br /> Thế hệ T1<br /> Thế hệ T2<br /> 2 (6)<br /> 1 (12)<br /> 1<br /> 3<br /> 1<br /> 6<br /> 3<br /> 0<br /> 0<br /> 3 (23)<br /> 3 (58)<br /> 3<br /> 15<br /> 14<br /> 24<br /> 6<br /> 19<br /> <br /> Ở hầu hết các dòng chuyển gen, số cây/dòng<br /> và số dòng/nguồn mang gen chuyển đều giảm<br /> đáng kể từ thế hệ T0 đến T3, điều đó chứng tỏ<br /> gen chuyển nạp cry1A(c) thực tế chưa ổn định<br /> trong hệ gen của cây ngô. Trong số 4 nguồn<br /> chuyển gen, có các dòng chuyển gen thuộc nguồn<br /> VN106 đến thế hệ T3 chúng tôi không nhận được<br /> các cây có kết quả PCR dương tính, mặc dù từ<br /> <br /> Thế hệ T3<br /> 1 (1)<br /> 1<br /> <br /> 2 (23)<br /> <br /> 6 (15)<br /> 1<br /> 6<br /> 5<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 1 (13)<br /> <br /> 5 (20)<br /> 9<br /> 3<br /> 5<br /> 2<br /> 1<br /> 0<br /> 1 (3)<br /> <br /> 1(13)<br /> <br /> 13<br /> <br /> 3<br /> <br /> 13<br /> <br /> 0<br /> <br /> thế hệ T0-T2 số cây/dòng và số dòng mang gen<br /> là tương đối nhiều so với các nguồn khác. Đến<br /> thế hệ T3, với nguồn VH1 chúng tôi nhận được<br /> số dòng và số cây/dòng có kết quả PCR dương<br /> tính cao nhất (hình 1). Hy vọng rằng đây sẽ là<br /> những dòng chuyển gen bền vững có thể được sử<br /> dụng cho các nghiên cứu chọn tạo giống ngô biến<br /> đổi gen.<br /> <br /> 600 bp<br /> <br /> Hình 1. Kết quả phân tích PCR gen cry1A(c) của dòng chuyển gen VH1 thế hệ T3<br /> (M: Thang DNA chuẩn, (+) DNA plasmid; (-): Cây VH1 không chuyển gen)<br /> <br /> 414<br /> <br /> 15<br /> 8<br /> <br /> Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng lần thứ nhất<br /> <br /> 3.2. Phân tích Southern blot gen cry1A(c)<br /> trong các dòng ngô chuyển gen<br /> Các cây thuộc các dòng ngô chuyển gen có<br /> kết quả PCR dương tính được tiếp tục phân tích<br /> Southern blot nhằm xác định số bản copy của gen<br /> chuyển cry1A(c). DNA của các mẫu chuyển gen<br /> được cắt bằng enzym BamHI, sản phẩm cắt<br /> enzyme sẽ được điện di trên gel agarose 1,2% để<br /> <br /> kiểm tra sự phân tách các băng DNA sau khi cắt.<br /> Mẫu dò cho gen cry1A(c) sử dụng từ sản phẩm<br /> PCR với cặp mồi S-cry1A(c), trình tự mồi được<br /> miêu tả trong phần phương pháp. Mẫu dò được<br /> đánh dấu theo hướng dẫn của Kit DIG High<br /> Prime DNA Labeling and Detection Starter Kit I<br /> (Roche). Kết quả lai Southern blot được trình bày<br /> ở bảng 3.<br /> <br /> Bảng 3. Kết quả phân tích Southern blot các dòng ngô chuyển gen cry1A(c)<br /> TT<br /> <br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> 6<br /> 1<br /> 2<br /> <br /> Tên dòng T0<br /> Nguồn HR9<br /> HR9.14<br /> HR9.20<br /> HR9.34<br /> HR9.32<br /> HR9.42<br /> Nguồn VH1<br /> VH1.40<br /> VH1.37<br /> VH1.36<br /> VH1.48<br /> Nguồn VN106<br /> VN106.21<br /> VN106.30<br /> VN106.7<br /> VN106.19<br /> VN106.27<br /> VN106.20<br /> Nguồn CH9<br /> CH9.12<br /> CH9.13<br /> <br /> Thế hệ T0<br /> 2<br /> <br /> Số dòng có kết quả Southern blot<br /> Thế hệ T1<br /> Thế hệ T2<br /> 2<br /> 2<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> <br /> Thế hệ T3<br /> 1<br /> 1<br /> <br /> 3<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> <br /> 3<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> <br /> 3<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> 4<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> <br /> 4<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> 1<br /> <br /> 2<br /> 1<br /> <br /> 0<br /> <br /> 2<br /> 1<br /> 1<br /> <br /> 2<br /> 1<br /> 1<br /> <br /> 2<br /> 1<br /> 1<br /> <br /> Kết quả lai Southern blot thu được ở bảng 3<br /> cũng cho kết quả tương tự như phân tích PCR đối<br /> với các dòng ngô chuyển gen. Số dòng thể hiện<br /> sự có mặt và sự kết hợp của gen chuyển nạp<br /> <br /> 1<br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> 1<br /> <br /> cry1A(c) giảm rõ rệt từ thế hệ T0 đến T3 ở hầu<br /> hết các nguồn chuyển gen. Tuy nhiên chúng tôi<br /> cũng nhận được nguồn VH1 có 02 dòng có kết<br /> quả lai DNA dương tính (hình 2).<br /> <br /> Hình 2. Kết quả lai Southern blot các dòng ngô VH1 chuyển gen cry1A(c) thế hệ T3<br /> M: Marker; 1. Đối chứng dương (DNA plasmid); cây VH1.36.25.2 (giếng 3) có 3 copy;<br /> VH1.37.66.2 (giếng 5) có 2 copy của gen chuyển cry1A(c) <br /> <br /> 415<br /> <br /> VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM<br /> <br /> Kết quả hình 2 cho thấy trong số hai dòng T3<br /> xuất phát từ dòng T0 là VH1.37 và VH1.36 các<br /> cây chuyển gen thế hệ T3 của chúng đều mang ít<br /> nhất 2 bản copy của gen cry1A(c): Dòng<br /> VH1.36.25.2 (giếng 3) có 3 copy; dòng<br /> VH1.37.66.2 (giếng 5) có 2 copy của gen chuyển<br /> cry1A(c), đoạn gen mang bản copy gen cry1A(c)<br /> có kích thước khoảng 2,8-6,1 kb. Các dòng<br /> chuyển gen có ít số copy của gen chuyển thì tính<br /> ổn định cũng như mức độ biểu hiện của gen<br /> chuyển nạp sẽ cao, khả năng thu nhận được các<br /> dòng chuyển gen bền vững nhiều hơn. Vì vậy, các<br /> dòng chuyển gen VH1 mà chúng tôi thu nhận<br /> <br /> được trong nghiên cứu này hy vọng sẽ có khả<br /> năng duy trì tính ổn định của gen chuyển cry1A(c)<br /> trong các thế hệ sau.<br /> 3.3. Đánh giá sự hiện diện của protein cry1A(c)<br /> trong các dòng ngô chuyển gen kháng sâu<br /> Chúng tôi tiến hành xác định sự có mặt của<br /> protein cry1A(c) ở các cây chuyển gen có kết quả<br /> PCR dương tính với cặp mồi S-Cry1A(c) bằng<br /> phương pháp que thử sử dụng Kit EnviroLogix<br /> QuickStix TM (Agdia, USA). Kết quả được trình<br /> bày ở bảng 4.<br /> <br /> Bảng 4. Kết quả đánh giá sự hiện diện của protein cry1A(c) trong các dòng ngô chuyển gen kháng sâu<br /> TT<br /> <br /> Tên dòng T0<br /> Nguồn HR9<br /> <br /> Số dòng có kết quả protein dương tính<br /> Thế hệ T0<br /> <br /> Thế hệ T1<br /> <br /> Thế hệ T2<br /> <br /> Thế hệ T3<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> 1<br /> <br /> HR9.14<br /> <br /> 2<br /> <br /> HR9.20<br /> <br /> 3<br /> <br /> HR9.34<br /> <br /> 4<br /> <br /> HR9.32<br /> <br /> 5<br /> <br /> HR9.42<br /> Nguồn VH1<br /> <br /> 3<br /> <br /> 3<br /> <br /> 3<br /> <br /> 1<br /> <br /> VH1.40<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> VH1.37<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 3<br /> <br /> VH1.36<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 4<br /> <br /> VH1.48<br /> Nguồn VN106<br /> <br /> 3<br /> <br /> 3<br /> <br /> 1<br /> <br /> 0<br /> <br /> 1<br /> <br /> VN106.21<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 2<br /> <br /> VN106.30<br /> <br /> 3<br /> <br /> VN106.7<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 4<br /> <br /> VN106.19<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 5<br /> <br /> VN106.27<br /> <br /> 6<br /> <br /> VN106.20<br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> CH9.12<br /> <br /> 2<br /> <br /> CH9.13<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1<br /> <br /> Nguồn CH9<br /> <br /> Kết quả bảng 4 cho thấy thí nghiệm xác định<br /> sự hiện diện của protein của gen chuyển được<br /> tiến hành đối với những cây/dòng chuyển gen đã<br /> được xác nhận sự có mặt của gen chuyển, vì vậy<br /> các kết quả thu nhận được biến động không nhiều<br /> giữa các thế hệ của mỗi dòng chuyển gen. Đối<br /> với các dòng thuộc nguồn HR9 và CH9, các cây<br /> chuyển gen được xác định có mặt gen cry1A(c)<br /> đều cho kết quả dương tính với protein cry1A(c),<br /> chúng tôi đã nhận được các dòng HR9.20,<br /> 416<br /> <br /> 1<br /> <br /> CH9.13 với các cây từ T0-T3 đều mang protein<br /> cry1A(c). Trong khi đó ở các dòng thuộc nguồn<br /> VN106 đến thế hệ T2 và T3 số dòng có mang<br /> protein của gen chuyển giảm rõ rệt, điều này cho<br /> thấy quá trình dịch mã của gen chuyển cry1A(c)<br /> thành protein ở các dòng này chưa thành công,<br /> gen chuyển nạp chưa kết hợp ổn định trong hệ<br /> gen của cây ngô. Dòng VN106 đến thế hệ T3<br /> không thu nhận được cây nào có sự hiện diện của<br /> protein cry1A(c).<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2