intTypePromotion=1

Phân tích hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào cho nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh của tỉnh Ninh Thuận

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
56
lượt xem
5
download

Phân tích hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào cho nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh của tỉnh Ninh Thuận

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu phân tích hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào (còn gọi là hiệu quả kỹ thuật theo định hướng đầu vào) cho các nông hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh tại tỉnh Ninh Thuận trong năm 2014 bằng phương pháp DEA. Kết quả nghiên cứu cho thấy, bình quân, các yếu tố đầu vào biến đổi của sản xuất có thể giảm xuống 20,7% trong khi vẫn duy trì được đầu ra không đổi.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phân tích hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào cho nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh của tỉnh Ninh Thuận

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 1/2017<br /> <br /> THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC<br /> <br /> PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO CHO NGHỀ<br /> NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THÂM CANH CỦA TỈNH NINH THUẬN<br /> EFFICIENCY ANALYSIS OF INPUT UTILIZATION FOR INTENSIVE WHITE-LEG<br /> SHRIMP AQUACULTURE IN NINH THUAN PROVINCE<br /> Lê Kim Long1, Lê Văn Tháp1<br /> Ngày nhận bài: 08/4/2016; Ngày phản biện thông qua: 20/8/2016; Ngày duyệt đăng: 10/3/2017<br /> <br /> TÓM TẲT<br /> Nghiên cứu phân tích hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào (còn gọi là hiệu quả kỹ thuật theo định hướng<br /> đầu vào) cho các nông hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh tại tỉnh Ninh Thuận trong năm 2014 bằng phương<br /> pháp DEA. Kết quả nghiên cứu cho thấy, bình quân, các yếu tố đầu vào biến đổi của sản xuất có thể giảm<br /> xuống 20,7% trong khi vẫn duy trì được đầu ra không đổi. Do vậy, không thả giống quá dày và kiểm soát chặt<br /> chẽ việc sử dụng thức ăn đóng vai trò rất quan trọng đối với nghề nuôi tôm Ninh Thuận. Hơn nữa, việc mở rộng<br /> diện tích nuôi và rút ngắn thời gian nuôi trong năm có ảnh hưởng tích cực, quan trọng, đến việc nâng cao hiệu<br /> quả sử dụng các nguồn lực đầu vào. Cuối cùng, chất lượng của các chương trình tập huấn kỹ thuật của các cơ<br /> quan khuyến nông cũng như các chính sách hỗ trợ vay vốn cho nghề nuôi cần được xem xét lại một cách cẩn<br /> trọng để hướng đến một nghề nuôi tôm bền vững cho Ninh Thuận.<br /> Từ khóa: hiệu quả kỹ thuật, tôm thẻ chân trắng thâm canh, Ninh Thuận, DEA<br /> ABSTRACT<br /> The study adopts Data Envelopment Analysis (DEA) method to analyse efficiency in input utilisation<br /> (so-called technical efficiency with input orientation) in intensive white-leg shrimp farming in Ninh Thuan<br /> province in 2014. The results indicate that, on average, variable inputs of production can be reduced by<br /> 20.7%, yet still maintaining a constant output. Therefore, effective management of stocking and feeding is very<br /> important for the development of Ninh Thuan’s white-leg shrimp aquaculture. In addition, expanding farm area<br /> and shortening culture time in the year of operation are also important for efficiency improvement in input<br /> utilization. Finally, it is suggested that the quality of technical training courses and government’s credit<br /> policies for aquaculture should be re-assessed for a sustainable shrimp aquaculture in Ninh Thuan.<br /> Keywords: technical efficiency, intensive white-leg shrimp farming, Ninh Thuan, DEA<br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Từ năm 2001, tôm thẻ chân trắng đã<br /> bắt đầu trở thành đối tượng nuôi quan trọng<br /> đối với sự phát triển kinh tế vùng duyên hải,<br /> Việt Nam. Nghề nuôi tôm thẻ chân trắng tập<br /> trung chủ yếu ở các tỉnh miền trung và khu<br /> vực đồng bằng sông Cửu Long với diện tích<br /> <br /> 1<br /> <br /> nuôi gia tăng nhanh chóng từ 13.455 hec-ta<br /> năm 2005 tới 22.192 hec-ta năm 2010 [6].<br /> Năm 2012, diện tích nuôi đã đạt 38.169 ha<br /> với sản lượng 177.817 tấn. Đặc biệt, theo<br /> dữ liệu của VASEP, trong năm 2012, mặc dù<br /> diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng chỉ chiếm<br /> 5,9% diện tích nuôi thủy sản cả nước nhưng<br /> <br /> Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 37<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> sản lượng đạt tới 27,3% tổng sản lượng nuôi<br /> cả nước [5].<br /> Ninh Thuận là tỉnh cực nam của miền Trung,<br /> Việt Nam với diện tích tiềm năng để nuôi tôm<br /> nước lợ khoảng 1.000 hec-ta (ha). Nghề nuôi<br /> tôm ở Ninh Thuận bắt đầu với con tôm sú từ<br /> những năm 1990 với hình thức nuôi chủ yếu là<br /> bán thâm canh. Nghề nuôi tôm thẻ chân trắng<br /> bắt đầu phát triển ở Ninh Thuận đầu những<br /> năm 2000. Trong vùng duyên hải Nam Trung<br /> bộ, Ninh Thuận là địa phương có diện tích nuôi<br /> tôm thẻ chân trắng lớn. Năm 2005, UBND tỉnh<br /> Ninh Thuận chính thức cho phép đưa tôm thẻ<br /> chân trắng vào nuôi thử nghiệm tại khu vực<br /> nuôi tôm thuộc dự án nuôi tôm trên cát xã An<br /> Hải, huyện Ninh Phước, sau đó được nhân<br /> rộng tại hai vùng dự án nuôi tôm trên cát An<br /> Hải và vùng dự án nuôi tôm công nghiệp Sơn<br /> Hải kể từ đầu năm 2006 theo Quyết định số<br /> 455/QĐ-UBND ngày 24/01/2006 của Chủ tịch<br /> UBND tỉnh Ninh Thuận [4].<br /> Ngay từ khi triển khai, đối tượng tôm thẻ<br /> chân trắng đã được nhiều người dân hưởng<br /> ứng chuyển đổi nhờ những ưu điểm vượt trội<br /> của nó so với tôm sú như: dễ sinh sản và thuần<br /> dưỡng; có thể nuôi ở mật độ cao, yêu cầu hàm<br /> lượng protein trong thức ăn thấp hơn so với<br /> tôm sú, chịu được nhiệt độ thấp và chịu được<br /> nước có chất lượng kém hơn so với tôm sú,<br /> chúng có thể nuôi được ở nhiều loại thủy vực<br /> khác nhau. Theo thống kê của Chi cục Nuôi<br /> trồng Thủy sản thì từ năm 2006 đến nay diện<br /> tích nuôi tôm thẻ chân trắng tại Ninh Thuận<br /> không ngừng tăng lên. Cụ thể, năm 2006 diện<br /> tích nuôi tôm thẻ chân trắng ở Ninh Thuận là<br /> 159 ha, năm 2008 diện tích nuôi là 600 ha,<br /> năm 2010 diện tích nuôi là 811 ha và đến năm<br /> 2011 diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ở đây<br /> là 984 ha, trong đó diện tích nuôi tôm thẻ chân<br /> trắng thâm canh khoảng 850 ha [4].<br /> Trong những năm qua, do lợi nhuận từ<br /> nghề nuôi tôm thẻ chân trắng mang lại khá cao<br /> nên diện tích nuôi ngày càng gia tăng không<br /> theo quy hoạch của địa phương và của ngành.<br /> Diện tích nuôi gia tăng tỷ lệ thuận với mức độ<br /> <br /> 38 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> Số 1/2017<br /> ô nhiễm môi trường, dịch bệnh bùng phát và<br /> lây lan. Đây cũng chính là hệ quả của việc quản<br /> lý chưa chặt chẽ, trình độ của người nuôi còn<br /> hạn chế, nhất là kỹ thuật quản lý môi trường,<br /> phòng ngừa dịch bệnh trên tôm nuôi v.v, làm<br /> cho nghề nuôi tôm thẻ chân trắng chưa thật<br /> sự phát triển bền vững. Mặc dù lợi nhuận của<br /> nghề nuôi tôm mang lại tuy có cao nhưng thiếu<br /> tính ổn định, còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, nguy<br /> cơ [1, 4].<br /> Thế giới đã và đang dịch chuyển mô hình<br /> phát triển từ “kinh tế nâu, brown economy”<br /> sang “kinh tế xanh, green economy” [17] . Đây<br /> là bước chuyển tiếp cần thiết để từng bước<br /> tiến tới sự phát triển bền vững. Trong điều<br /> kiện dân số thế giới gia tăng và các nguồn tài<br /> nguyên thiên nhiên hữu hạn, việc phân tích<br /> hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào để tìm cách<br /> gia tăng sản lượng đầu ra mà không phải sử<br /> dụng nhiều hơn các yếu tố đầu vào đang là<br /> một chủ đề được nhiều nhà khoa học, nhà<br /> hoạch định chính sách trên thế giới quan tâm.<br /> Farrel, năm 1957, là người đầu tiên xây dựng<br /> một cách có hệ thống về lý thuyết này [10].<br /> Hiện tại, có hai cách tiếp cận phân tích chính<br /> là Data Envelopment Analysis (DEA), còn gọi<br /> là cách tiếp cận phi tham số, được khởi xướng<br /> bởi Charnes và các cộng sự năm 1978; và<br /> Stochastic Frontier Analysis (SFA), hay là cách<br /> tiếp cận tham số, được phát triển bởi Battese<br /> và Coelli năm 1995 [7, 8]. Ưu điểm chính của<br /> DEA so với SFA là không phải tìm kiếm và<br /> giả thiết dạng hàm cho công nghệ sản xuất,<br /> và vì thế, thường đơn giản trong tính toán và<br /> không phải thực hiện các kiểm định với yêu<br /> cầu rất chặt chẽ (thường không phải lúc nào<br /> cũng thỏa mãn) về giả thiết nhiễu của mô hình.<br /> Nhược điểm chính của phương pháp DEA là<br /> không tách được nhiễu ngẫu nhiên ra khỏi kết<br /> quả tính toán [9].<br /> Việc phân tích hiệu quả sử dụng yếu tố<br /> đầu vào của các đơn vị sản xuất nhằm đề<br /> xuất các chính sách phát triển bền vững đã<br /> và đang được áp dụng rất rộng rãi trong các<br /> nghiên cứu thực nghiệm. Cả hai cách tiếp cận<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> phân tích DEA và SFA đều có những ưu,<br /> nhược điểm riêng và được áp dụng rất rộng<br /> rãi trong nghiên cứu của ngành nuôi trồng thủy<br /> sản [11,16]. Dù vậy, hiện có rất ít các nghiên<br /> cứu theo các cách tiếp cận này cho ngành nuôi<br /> trồng thủy sản Việt nam khi tính bền vững đang<br /> là một câu hỏi quan trọng, đặc biệt đối với nghề<br /> nuôi tôm [15]. Các nghiên cứu tiêu biểu về nuôi<br /> tôm trên thế giới sử dụng cách tiếp cận phân<br /> tích DEA có thể kể đến như: Matinez & Lueng,<br /> năm 2003, cho nghề nuôi tôm của Mexico và<br /> Nguyen & Fisher, năm 2014, cho nghề nuôi<br /> tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam<br /> [13,15].<br /> Để đơn giản trong tính toán và phân tích,<br /> cách tiếp cận phân tích DEA được lựa chọn sử<br /> dụng trong nghiên cứu này. Mục tiêu của bài<br /> viết là: phân tích hiệu quả sử dụng các yếu tố<br /> đầu vào của nghề khai nuôi tôm thẻ chân trắng<br /> thâm canh của Ninh Thuận, với bộ dữ liệu thu<br /> thập cho năm sản xuất 2014, nhằm đề xuất<br /> một số khuyến nghị cho chính quyền và các hộ<br /> nuôi nhằm từng bước phát triển nghề nuôi tôm<br /> thẻ chân trắng bền vững ở Ninh Thuận.<br /> II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT<br /> 1. Khái niệm về hiệu quả (Efficiency)<br /> Hiểu theo nghĩa rộng, hiệu quả thể hiện<br /> mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu<br /> được (outputs) so với các biến số đầu vào<br /> (inputs) đã được sử dụng để tạo ra những kết<br /> quả đầu ra đó [9].<br /> Hiệu quả = Đầu ra /Đầu vào<br /> 2. Hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của<br /> sản xuất (Technical efficiency with input<br /> orientation)<br /> Hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào là<br /> khả năng tạo ra một lượng đầu ra cho trước<br /> từ một lượng đầu vào nhỏ nhất tương ứng với<br /> một trình độ công nghệ nhất định [9].<br /> Phương pháp DEA<br /> Farrel (1957) là người đầu tiên xây dựng<br /> một cách có hệ thống về lý thuyết này và<br /> sau đó được Charnes, Cooper, và Rhodes<br /> <br /> Số 1/2017<br /> phát triển vào năm 1978 với tên gọi là DEA<br /> như sau [7, 9, 10]:<br /> <br /> Giả sử một nghề sản xuất đơn giản sử<br /> dụng 2 yếu tố đầu vào x1, x2 để sản xuất ra<br /> 1 đầu ra q được trình bày như hình vẽ dưới<br /> đây. Đường biên SS’ là đường biên giới hạn<br /> của sản xuất, nghĩa là để sản xuất được một<br /> đơn vị sản lượng đầu ra thì (i) miền không gian<br /> phía tay trái của đường SS’ là miền không gian<br /> không khả thi; (ii) miền không gian nằm bên<br /> tay phải của đường SS’ là miền sản xuất khả<br /> thi trong thực tế. Như vậy, các đơn vị sản xuất<br /> trong thực tế nằm trên đường SS’ là có sự kết<br /> hợp tốt nhất, tiết kiệm nhất các yếu tố đầu vào<br /> của sản xuất nên được xem là các đơn vị sản<br /> xuất đạt được hiệu quả sử dụng các yếu tố<br /> đầu vào đạt 100%. Vì vậy C và D là những<br /> đơn vị sản xuất đạt hiệu quả. Điều đó có nghĩa<br /> là, A và B là những đơn vị sản xuất chưa đạt<br /> hiệu quả. Mức hiệu quả sử dụng các yếu tố<br /> đầu vào của đơn vị sản xuất A được đo lường<br /> khoảng cách OA’/OA và nhỏ hơn 1. Tương tự,<br /> sự không hiệu quả của B được trình bày bởi<br /> khoảng cách OB’/OB và nhỏ hơn 1. Điều này<br /> có nghĩa là các đơn vị sản xuất A và B có thể<br /> giảm sử dụng 2 đầu vào đối với A là từ A đến<br /> A’, và B là từ B đến B’ mà không giảm đầu ra.<br /> III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> 1. Dữ liệu nghiên cứu<br /> 1.1. Địa bàn và qui mô nghiên cứu<br /> Đối tượng khảo sát là các hộ nuôi tôm thẻ<br /> chân trắng thâm canh của tỉnh Ninh Thuận<br /> trong năm sản xuất 2014. Tổng số hộ nuôi<br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 39<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> trong tổng thể là 442 và mẫu nghiên cứu là<br /> 102, chiếm tỷ lệ 23% trên tổng thể.<br /> 1.2. Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu<br /> Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn<br /> giản bằng cách dựa vào danh sách các hộ<br /> nuôi được cung cấp bởi Sở Nông nghiệp và<br /> Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận, sau đó<br /> rút thăm ngẫu nhiên không lặp lại từ danh sách<br /> lập để chọn ra các hộ cần điều tra. Số liệu thu<br /> thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp<br /> chủ hộ nuôi.<br /> 2. Mô hình và phương pháp phân tích<br /> dữ liệu<br /> Các nghiên cứu trước đây trong nghề nuôi<br /> trồng thủy sản ở các nước đang phát triển áp<br /> dụng phương pháp phân tích DEA, ví dụ như<br /> Lê Kim Long và Đặng Hoàng Xuân Huy (2015);<br /> Nguyen & Fisher (2014) và Alarm (2011),<br /> thường lựa chọn cách tiếp cận tối thiểu hóa<br /> đầu vào với đầu ra không đổi vì: (i) các hộ nuôi<br /> ở các nước đang phát triển thường có nguồn<br /> lực đầu vào tài chính có hạn; (ii) các hộ nuôi<br /> dễ kiểm soát đầu vào hơn nhiều so với đầu<br /> ra; và (iii) việc sử dụng lãng phí đầu vào trong<br /> nghề nuôi, đặc biệt là thức ăn và kháng sinh,<br /> hóa chất đang thách thức nghiêm trọng tính<br /> bền vững của các nghề nuôi [1, 8, 13]. Do vậy,<br /> bài viết này cũng thực hiện đo lường hiệu quả<br /> kỹ thuật theo hướng tối thiểu hóa các yếu tố<br /> đầu vào trong khi vẫn duy trì được mức đầu<br /> ra không đổi. Hơn nữa, nghiên cứu này chỉ tập<br /> trung phân tích hiệu quả kỹ thuật thuần túy nên<br /> mô hình DEA sẽ xem xét trường hợp năng suất<br /> biến đổi theo quy mô (variable return to scale<br /> – VRS) [9]. Mô hình toán cụ thể cho bài toán<br /> DEA_VRS với định hướng đầu vào như sau:<br /> Giả sử rằng có N hộ nuôi tôm thẻ chân<br /> trắng và sử dụng K yếu tố đầu vào. Đối với hộ<br /> nuôi thứ i (i = 1, 2,…, N), dữ liệu đầu vào và<br /> đầu ra được biểu diễn bằng các véc tơ cột là xi<br /> và yi . Dữ liệu cho tất cả các hộ nuôi được biểu<br /> diễn bởi ma trận K*N yếu tố đầu vào, X, và véc<br /> tơ cột đầu ra Y. Khi đó, mô hình toán cho hộ<br /> nuôi thứ i là:<br /> <br /> 40 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> Số 1/2017<br /> TEj(X,Y) = min θj<br /> với các ràng buộc:<br /> <br /> θj, λ<br /> n<br /> <br /> Yj < Yλ; θjXj > Xλ; λ > 0; ∑ λj = 1<br /> j=1<br /> <br /> (1)<br /> <br /> TEj là thước đo vô hướng của hiệu quả kỹ<br /> thuật của hộ nuôi thứ i và có giá trị thuộc [0, 1].<br /> Do vậy, để phân tích sự ảnh hưởng của các<br /> đặc điểm sản xuất của nông hộ đến hiệu quả<br /> kỹ thuật, hồi quy tobit thường xuyên được áp<br /> dụng cho mô hình phân tích sau [7]:<br /> TEj = ßZj + εj<br /> (2)<br /> Trong đó, TEj là chỉ số hiệu quả kỹ thuật tính<br /> toán từ (1); Zj là véc tơ các đặc điểm sản xuất<br /> của nông hộ, ß là véc tơ các tham số được<br /> ước lượng và εj là sai số ngẫu nhiên. Phần<br /> mềm thống kê R được sử dụng để ước lượng<br /> kết quả.<br /> III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN<br /> 1. Thống kê mô tả các biến dùng trong<br /> phân tích<br /> Tiếp theo Lê Kim Long và Đặng Hoàng<br /> Xuân Huy (2015); Nguyen & Fisher (2014), và<br /> Alarm và các cộng sự (2011), nghiên cứu này<br /> sử dụng 5 biến đầu vào biến đổi chủ yếu (chiếm<br /> phần lớn chi phí biến đổi) của nghề nuôi tôm<br /> thẻ chân trắng thâm canh tại Ninh Thuận là [6,<br /> 2,15]: giống, thức ăn, lao động, hóa chất năng<br /> lượng cho mỗi ha trong năm sản xuất 2014, 01<br /> biến đầu ra là sản lượng tôm thu hoạch trên<br /> một ha trong năm cho mô hình DEA_VRS ở (1).<br /> Trên cơ sở tổng lược của Sharma & Lueng<br /> năm 2003; Iliyasu và các cộng sự năm 2014<br /> và Nguyen & Fisher năm 2014; cũng như đặc<br /> điểm của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng ở Ninh<br /> Thuận, các đặc điểm sản xuất của nông hộ<br /> được lựa chọn cho mô hình phân tích (2) gồm<br /> [11, 15, 16]: (i) diện tích trang trại nuôi tôm; (ii)<br /> vay nợ là biến giả với biến có giá trị là 1 nếu hộ<br /> có vay nợ, và có giá trị là 0 nếu hộ không vay<br /> nợ; (iii) thời gian nuôi là số ngày hộ nuôi tôm<br /> trong năm; (iv) kinh nghiệm là số năm mà chủ<br /> hộ tham gia nghề nuôi; (v) tập huấn là biến giả<br /> với giá trị bằng 1 nếu hộ đã từng được tập huấn<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 1/2017<br /> <br /> kỹ thuật bởi các cơ quan nhà nước, và giá trị<br /> đã học từ trung cấp trở lên, và giá trị là 0 nếu<br /> bằng 0 nếu chưa được tập huấn; (vi) học vấn<br /> chưa. Bảng 1 mô tả thống kê tất cả các biến sử<br /> cũng là biến giả và có giá trị bằng 1 nếu chủ hộ<br /> dụng trong nghiên cứu này.<br /> Bảng 1. Một số giá trị thống kê của các biến dùng trong phân tích<br /> Tên biến<br /> <br /> Đơn vị tính<br /> <br /> Giá trị trung bình<br /> <br /> Độ lệch chuẩn<br /> <br /> Nhỏ nhất<br /> <br /> Lớn nhất<br /> <br /> 29.930,69<br /> <br /> 11.345,63<br /> <br /> 5.260,00<br /> <br /> 50.010,00<br /> <br /> 4.323,73<br /> 46.465,69<br /> 7.562,93<br /> 105,56<br /> 379.926,54<br /> <br /> 1.829,58<br /> 20.814,28<br /> 2.908,29<br /> 55,55<br /> 231.735,31<br /> <br /> 500,00<br /> 6.300,00<br /> 2.316,00<br /> 9,50<br /> 25.320,00<br /> <br /> 9.900,00<br /> 87.300,00<br /> 13.714,00<br /> 321,30<br /> 932.224,00<br /> <br /> 0,85<br /> 0,75<br /> 224,80<br /> 11,31<br /> 0,67<br /> 0,23<br /> <br /> 0,69<br /> 61,18<br /> 4,10<br /> -<br /> <br /> 0,3<br /> 0<br /> 55<br /> 4,0<br /> 0<br /> 0<br /> <br /> 6<br /> 1<br /> 330<br /> 24<br /> 1<br /> 1<br /> <br /> Mô hình hàm sản xuất<br /> Sản lượng đầu ra (y)<br /> Kg/ha<br /> Đầu vào (x)<br /> Giống (x1)<br /> 1000 con/ha<br /> Thức ăn (x2)<br /> Kg/ha<br /> Lao động (x3)<br /> Số giờ/ha<br /> Hóa chất (x4)<br /> Kg/ha<br /> Năng lượng (x5)<br /> Kw/ha<br /> Đặc điểm sản xuất nông hộ<br /> Diện tích trang trại (Z1)<br /> Ha<br /> Vay nợ (Z2)<br /> Dummy<br /> Thời gian nuôi (Z3)<br /> Ngày nuôi/năm<br /> Kinh nghiệm (Z4)<br /> Năm<br /> Tập huấn kỹ thuật (Z5)<br /> Dummy<br /> Học vấn (Z6)<br /> Dummy<br /> Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra<br /> <br /> Bảng 1 cho thấy một số đặc trưng cơ bản<br /> của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh<br /> ở Ninh Thuận. Các hộ nuôi tôm thẻ chân trắng<br /> ở Ninh Thuận có diện tích nuôi bình quân đạt<br /> 0,85 ha, lớn nhất là 6 ha và nhỏ nhất là 0,3 ha,<br /> với độ lệch chuẩn là 0,69. Kinh nghiệm tham<br /> gia nuôi trồng thủy sản của chủ hộ bình quân<br /> đạt 11,31 năm, lớn nhất là 24 và nhỏ nhất là<br /> 4 năm. Năng suất tôm bình quân cho mỗi ha<br /> <br /> trong năm 2014 đạt 29.930,69 kg, lớn nhất là<br /> 50.010 và nhỏ nhất là 5.260 kg với độ lệch<br /> chuẩn là 11.345. Thời gian nuôi bình quân<br /> trong năm 2014 của mỗi hộ là 224,80 ngày,<br /> nhỏ nhất là 55 ngày và lớn nhất là 330 ngày.<br /> 2. Hiệu quả kỹ thuật theo phương pháp DEA<br /> Kết quả tính toán hiệu quả sử dụng các<br /> nguồn lực đầu vào được trình bày như ở Bảng 2.<br /> <br /> Bảng 2. Hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào nghề nuôi tôm thẻ chân trắng ở Ninh Thuận 2014<br /> Chỉ tiêu<br /> <br /> 1. Tổng số hộ nuôi trong mẫu<br /> 2. Các hộ nuôi đạt hiệu quả (TE = 1)<br /> 4. Mức hiệu quả trung bình<br /> 5. Phân nhóm mức hiệu quả<br /> 0,4 – 0,5<br /> 0,5 – 0,6<br /> 0,6 - 0,7<br /> 0,7 - 0,8<br /> 0,8 - 0,9<br /> 0,9 - 0,1<br /> 1,0<br /> <br /> TEVRS<br /> <br /> Số hộ<br /> 5<br /> 7<br /> 13<br /> 26<br /> 23<br /> 13<br /> 15<br /> <br /> 102<br /> 15<br /> 0,793<br /> Tần số (%)<br /> 4,9<br /> 6,9<br /> 12,7<br /> 25,5<br /> 22,5<br /> 12,7<br /> 14,8<br /> <br /> Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 41<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2